Paperarelloo | Paperarello |
---|---|
Once upon a time there lived a king and a queen who had one son. | Ngày xửa ngày xưa, có một vị vua và một hoàng hậu, họ chỉ có một người con trai duy nhất. |
The king loved the boy very much, but the queen, who was a wicked woman, hated the sight of him; and this was the more unlucky for, when he was twelve years old, his father died, and he was left alone in the world. | Nhà vua hết mực yêu thương hoàng tử, nhưng hoàng hậu, vốn là một người đàn bà độc ác, lại ghét cay ghét đắng cậu. Điều này càng thêm bất hạnh khi hoàng tử vừa tròn mười hai tuổi thì vua cha qua đời, bỏ lại chàng một mình trơ trọi giữa cõi đời. |
Now the queen was very angry because the people, who knew how bad she was, seated her son on the throne instead of herself, and she never rested till she had formed a plan to get him out of the way. | Bấy giờ, hoàng hậu vô cùng tức giận vì quần thần và bá tánh, vốn biết rõ sự tàn độc của bà ta, đã tôn hoàng tử lên ngôi thay vì bà. Bà ta chẳng lúc nào nguôi ngoai cho đến khi vạch ra được một kế hoạch để trừ khử chàng. |
Fortunately, however, the young king was wise and prudent, and knew her too well to trust her. | Thế nhưng, may thay, vị vua trẻ tuổi rất khôn ngoan và thận trọng, chàng quá hiểu mẹ mình để có thể tin tưởng bà ta. |
One day, when his mourning was over, he gave orders that everything should be made ready for a grand hunt. | Một ngày nọ, sau khi mãn tang vua cha, chàng ra lệnh chuẩn bị mọi thứ cho một cuộc đi săn lớn. |
The queen pretended to be greatly delighted that he was going to amuse himself once more, and declared that she would accompany him. | Hoàng hậu vờ tỏ ra vô cùng vui mừng khi thấy con trai một lần nữa biết tìm thú vui cho mình, và tuyên bố rằng bà cũng sẽ đi cùng. |
‘No, mother, I cannot let you come,’ he answered; ‘the ground is rough, and you are not strong.’ | “Thưa mẹ, con không thể để mẹ đi cùng được,” chàng đáp. “Đường đi gập ghềnh, mà mẹ lại không được khỏe.” |
But he might as well have spoken to the winds: when the horn was sounded at daybreak the queen was there with the rest. | Nhưng lời chàng nói cũng vô ích. Khi tù và rúc lên lúc rạng đông, hoàng hậu đã có mặt cùng mọi người. |
All that day they rode, for game was plentiful, but towards evening the mother and son found themselves alone in a part of the country that was strange to them. | Họ rong ruổi cả ngày, vì hôm ấy thú rừng rất nhiều. Nhưng đến chập tối, hai mẹ con nhận ra họ đã lạc đến một vùng đất xa lạ. |
They wandered on for some time, without knowing where they were going, till they met with a man whom they begged to give them shelter. | Họ lang thang một lúc mà không biết mình đang đi đâu, cho đến khi gặp một người đàn ông và cất lời xin được tá túc. |
‘Come with me,’ said the man gladly, for he was an ogre, and fed on human flesh; and the king and his mother went with him, and he led them to his house. | “Hãy theo ta,” người đàn ông vui vẻ đáp, vì hắn là một con quỷ ăn thịt người. Nhà vua và hoàng hậu đi theo hắn về nhà. |
When they got there they found to what a dreadful place they had come, and, falling on their knees, they offered him great sums of money, if he would only spare their lives. | Khi đến nơi, họ mới bàng hoàng nhận ra mình đã sa chân vào một nơi khủng khiếp nhường nào. Cả hai vội vã quỳ rạp dưới chân tên quỷ, xin dâng hiến muôn vàn của cải, chỉ mong được tha cho tính mạng. |
The ogre’s heart was moved at the sight of the queen’s beauty, and he promised that he would do her no harm; but he stabbed the boy at once, and binding his body on a horse, turned him loose in the forest. | Trái tim của tên quỷ bỗng rung động trước nhan sắc của hoàng hậu, và hắn hứa sẽ không làm hại gì đến bà; nhưng hắn chẳng nói chẳng rằng, rút dao đâm chết chàng trai trẻ ngay tức khắc, rồi trói xác chàng lên lưng một con ngựa, xua nó chạy vào rừng sâu. |
The ogre had happened to choose a horse which he had bought only the day before, and he did not know it was a magician, or he would not have been so foolish as to fix upon it on this occasion. | Nào ngờ, con ngựa mà tên quỷ chọn lại là một con thần mã hắn mới mua ngày hôm trước. Hắn nào đâu biết nó là một pháp sư đội lốt ngựa, nếu không đã chẳng dại dột chọn nó cho việc này. |
The horse no sooner had been driven off with the prince’s body on its back than it galloped straight to the home of the fairies, and knocked at the door with its hoof. | Con ngựa ngay khi vừa được thả đi, trên lưng còn mang thi thể hoàng tử, liền phi nước đại một mạch tới nơi ở của các nàng tiên và dùng móng gõ cộc cộc lên cánh cửa. |
The fairies heard the knock, but were afraid to open till they had peeped from an upper window to see that it was no giant or ogre who could do them harm. | Các nàng tiên nghe thấy tiếng gõ, nhưng sợ hãi không dám mở cửa ngay, cho đến khi họ hé nhìn qua ô cửa sổ trên gác để chắc chắn rằng đó không phải là một gã khổng lồ hay quỷ ăn thịt người nào có thể làm hại họ. |
‘Oh, look, sister!’ cried the first to reach the window, ‘it is a horse that has knocked, and on its back there is bound a dead boy, the most beautiful boy in all the world!’ | “Ôi, chị xem kìa!” nàng tiên đầu tiên chạy tới cửa sổ reo lên, “là một con ngựa đang gõ cửa, và trên lưng nó là một cậu bé đã chết, một cậu bé đẹp nhất trên đời!” |
Then the fairies ran to open the door, and let in the horse and unbound the ropes which fastened the young king on its back. | Nghe vậy, các nàng tiên vội chạy xuống mở cửa, dắt ngựa vào và cởi những sợi dây thừng đang trói chặt vị vua trẻ. |
And they gathered round to admire his beauty, and whispered one to the other: ‘We will make him alive again, and will keep him for our brother.’ | Họ quây quần bên chàng, ngưỡng mộ vẻ đẹp của chàng và thì thầm với nhau: “Chúng ta hãy cứu sống cậu ấy, và nhận cậu ấy làm em trai.” |
And so they did, and for many years they all lived together as brothers and sisters. | Và rồi họ đã làm như thế. Suốt nhiều năm, họ sống bên nhau chan hòa như chị em một nhà. |
By-and-by the boy grew into a man, as boys will, and then the oldest of the fairies said to her sisters: ‘Now I will marry him, and he shall be really your brother.’ | Thời gian thấm thoát thoi đưa, chàng trai trẻ ngày nào giờ đã trưởng thành, như mọi cậu bé rồi sẽ lớn. Bấy giờ, nàng tiên cả bèn nói với các em: “Giờ chị sẽ cưới chàng, và chàng sẽ thực sự trở thành em rể của các em.” |
So the young king married the fairy, and they lived happily together in the castle; but though he loved his wife he still longed to see the world. | Thế là vị vua trẻ kết hôn cùng nàng tiên, và họ sống hạnh phúc bên nhau trong tòa lâu đài; nhưng dù rất yêu thương vợ, chàng vẫn khôn nguôi khao khát được ngắm nhìn thế giới bên ngoài. |
At length this longing grew so strong on him that he could bear it no more; and, calling the fairies together, he said to them: ‘Dear wife and sisters, I must leave you for a time, and go out and see the world.’ | Cuối cùng, nỗi mong mỏi ấy trở nên mãnh liệt đến mức chàng không thể chịu đựng thêm nữa. Chàng triệu tập các nàng tiên lại và nói: “Hỡi người vợ và các em gái thân yêu, anh phải rời xa mọi người một thời gian để ra ngoài khám phá thế giới.” |
‘But I shall think of you often, and one day I shall come back to you.’ | “Nhưng anh sẽ luôn nhớ về mọi người, và một ngày nào đó anh sẽ trở về.” |
The fairies wept and begged him to stay, but he would not listen, and at last the eldest, who was his wife, said to him: ‘If you really will abandon us, take this lock of my hair with you; you will find it useful in time of need.’ | Các nàng tiên khóc lóc, van xin chàng ở lại, nhưng chàng không nghe. Cuối cùng, nàng tiên cả, cũng là vợ chàng, nói: “Nếu chàng đã quyết lòng rời bỏ chúng em, hãy mang theo lọn tóc này; chàng sẽ thấy nó hữu dụng khi cần đến.” |
So she cut off a long curl, and handed it to him. | Nói rồi, nàng cắt một lọn tóc dài óng ả và trao cho chàng. |
The prince mounted his horse, and rode on all day without stopping once. | Hoàng tử lên ngựa, rong ruổi suốt cả ngày không một lần dừng nghỉ. |
Towards evening he found himself in a desert, and, look where he would, there was no such thing as a house or a man to be seen. | Đến chiều tối, chàng thấy mình đang ở giữa một vùng sa mạc hoang vu, nhìn khắp bốn phương không một bóng nhà, bóng người. |
‘What am I to do now?’ he thought. ‘If I go to sleep here wild beasts will come and eat me! Yet both I and my horse are worn out, and can go no further.’ | “Bây giờ phải làm sao đây?” chàng thầm nghĩ. “Nếu ta ngủ lại ở đây, thú dữ sẽ đến ăn thịt mất! Ấy vậy mà cả người lẫn ngựa đều đã kiệt sức, không thể đi tiếp được nữa.” |
Then suddenly he remembered the fairy’s gift, and taking out the curl he said to it: ‘I want a castle here, and servants, and dinner, and everything to make me comfortable tonight; and besides that, I must have a stable and fodder for my horse.’ | Rồi chàng sực nhớ đến món quà của nàng tiên. Chàng lấy lọn tóc ra và nói với nó: “Ta muốn có một tòa lâu đài ở đây, với kẻ hầu người hạ, một bữa tối thịnh soạn, và mọi thứ tiện nghi cho đêm nay; ngoài ra, phải có một chuồng ngựa và cỏ khô cho con ngựa của ta.” |
And in a moment the castle was before him just as he had wished. | Ngay lập tức, một tòa lâu đài hiện ra trước mắt chàng, đúng như những gì chàng mong ước. |
In this way he travelled through many countries, till at last he came to a land that was ruled over by a great king. | Cứ như thế, chàng du hành qua nhiều xứ sở, cho đến một ngày chàng đến một vương quốc được trị vì bởi một vị vua vĩ đại. |
Leaving his horse outside the walls, he clad himself in the dress of a poor man, and went up to the palace. | Để ngựa lại bên ngoài thành, chàng cải trang thành một người nghèo khó rồi đi về phía cung điện. |
The queen, who was looking out of the window, saw him approaching, and filled with pity sent a servant to ask who he was and what he wanted. | Hoàng hậu, lúc ấy đang nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy chàng đang tiến lại gần. Lòng trắc ẩn dâng lên, bà sai một người hầu ra hỏi xem chàng là ai và muốn gì. |
‘I am a stranger here,’ answered the young king, ‘and very poor. I have come to beg for some work.’ | “Tôi là một người lạ đến đây,” vị vua trẻ đáp, “và rất nghèo khó. Tôi đến để xin một công việc.” |
‘We have everybody we want,’ said the queen, when the servant told her the young man’s reply. ‘We have a gate-keeper, and a hall porter, and servants of all sorts in the palace; the only person we have not got is a goose-boy. Tell him that he can he our goose-boy if he likes.’ | “Chúng ta đã đủ người rồi,” hoàng hậu nói khi người hầu thuật lại câu trả lời của chàng trai. “Chúng ta có người gác cổng, người giữ cửa chính, và đủ mọi loại người hầu trong cung. Chức vụ duy nhất chúng ta còn thiếu là người chăn ngỗng. Hãy nói với cậu ta rằng cậu ta có thể làm người chăn ngỗng của chúng ta nếu muốn.” |
The youth answered that he was quite content to be goose-boy; and that was how he got his nickname of Paperarello. | Chàng trai trẻ đáp rằng mình hoàn toàn mãn nguyện với công việc chăn ngỗng. Và đó là cách chàng có được biệt danh Paperarello. |
And in order that no one should guess that he was any better than a goose-boy should be, he rubbed his face and his rags over with mud, and made himself altogether such a disgusting object that every one crossed over to the other side of the road when he was seen coming. | Để không ai đoán ra thân phận thực sự của mình, chàng bôi bùn đất lên mặt và quần áo, biến mình thành một kẻ nhếch nhác đến nỗi ai thấy chàng đi tới cũng phải bước sang bên kia đường mà tránh. |
‘Do go and wash yourself, Paperarello!’ said the queen sometimes, for he did his work so well that she took an interest in him. | “Paperarello, đi tắm rửa đi chứ!” đôi khi hoàng hậu lại nói, vì chàng làm việc rất tốt nên bà cũng có phần quý mến. |
‘Oh, I should not feel comfortable if I was clean, your Majesty,’ answered he, and went whistling after his geese. | “Ồ, thưa Hoàng hậu, nếu người sạch sẽ quá thần sẽ không thấy thoải mái,” chàng đáp, rồi lại huýt sáo đi lùa đàn ngỗng. |
It happened one day that, owing to some accident to the great flour mills which supplied the city, there was no bread to be had, and the king’s army had to do without. | Chuyện xảy ra vào một ngày kia, do một sự cố ở các nhà máy xay bột lớn cung cấp cho cả thành phố, bánh mì trở nên khan hiếm, và quân đội của nhà vua không có gì để ăn. |
When the king heard of it, he sent for the cook, and told him that by the next morning he must have all the bread that the oven, heated seven times over, could bake. | Khi nghe tin, nhà vua cho triệu đầu bếp đến và ra lệnh rằng, sáng hôm sau ông ta phải nướng đủ số bánh mì mà chiếc lò nướng, được nung nóng gấp bảy lần, có thể làm ra. |
‘But, your Majesty, it is not possible,’ cried the poor man in despair. ‘The mills have only just begun working, and the flour will not be ground till evening, and how can I heat the oven seven times in one night?’ | “Nhưng, thưa Bệ hạ, điều đó là không thể!” người đầu bếp tội nghiệp kêu lên trong tuyệt vọng. “Các nhà máy chỉ vừa hoạt động trở lại, đến tối mới xay xong bột, làm sao thần có thể nung lò bảy lần trong một đêm được ạ?” |
‘That is your affair,’ answered the King, who, when he took anything into his head, would listen to nothing. ‘If you succeed in baking the bread you shall have my daughter to wife, but if you fail your head will pay for it.’ | “Đó là việc của khanh,” nhà vua đáp, vì một khi đã quyết điều gì, ngài sẽ không nghe ai can gián. “Nếu khanh nướng được bánh, khanh sẽ được lấy con gái ta. Nhưng nếu thất bại, cái đầu của khanh sẽ phải trả giá.” |
Now Paperarello, who was passing through the hall where the king was giving his orders, heard these words, and said: ‘Your Majesty, have no fears; I will bake your bread.’ | Paperarello, lúc ấy đang đi ngang qua đại sảnh nơi nhà vua ra lệnh, đã nghe thấy những lời này. Chàng liền bước ra nói: “Thưa Bệ hạ, xin ngài đừng lo lắng; thần sẽ nướng bánh cho ngài.” |
‘Very well,’ answered the king; ‘but if you fail, you will pay for it with your head!’ and signed that both should leave his presence. | “Tốt lắm,” nhà vua đáp, “nhưng nếu ngươi thất bại, ngươi sẽ phải trả giá bằng cái đầu của mình!” rồi ra hiệu cho cả hai lui ra. |
The cook was still trembling with the thought of what he had escaped, but to his surprise Paperarello did not seem disturbed at all, and when night came he went to sleep as usual. | Người đầu bếp vẫn còn run rẩy khi nghĩ đến tai họa mình vừa thoát, nhưng ông ta ngạc nhiên thấy Paperarello chẳng hề bận tâm. Khi đêm xuống, chàng vẫn đi ngủ như thường lệ. |
‘Paperarello,’ cried the other servants, when they saw him quietly taking off his clothes, ‘you cannot go to bed; you will need every moment of the night for your work. Remember, the king is not to be played with!’ | “Paperarello,” những người hầu khác la lên khi thấy chàng thản nhiên cởi áo, “cậu không thể đi ngủ được; cậu cần tận dụng từng khoảnh khắc của đêm nay cho công việc đấy. Nhớ rằng, nhà vua không phải người để đùa đâu!” |
‘I really must have some sleep first,’ replied Paperarello, stretching himself and yawning; and he flung himself on his bed, and was fast asleep in a moment. | “Tôi thực sự cần ngủ một chút đã,” Paperarello đáp, vừa vươn vai ngáp, rồi ngả mình xuống giường và ngủ say ngay tức khắc. |
In an hour’s time, the servants came and shook him by the shoulder. ‘Paperarello, are you mad?’ said they. ‘Get up, or you will lose your head.’ | Một giờ sau, những người hầu lại đến lay vai chàng dậy. “Paperarello, cậu điên rồi sao?” họ nói. “Dậy đi, không thì mất đầu bây giờ.” |
‘Oh, do let me sleep a little more, answered he. And this was all he would say, though the servants returned to wake him many times in the night. | “Ồ, cho tôi ngủ thêm chút nữa đi,” chàng đáp. Và đó là tất cả những gì chàng nói, dù những người hầu đã quay lại đánh thức chàng nhiều lần trong đêm. |
At last the dawn broke, and the servants rushed to his room, crying: ‘Paperarello! Paperarello! get up, the king is coming. You have baked no bread, and of a surety he will have your head.’ | Cuối cùng, rạng đông cũng ló dạng, những người hầu tất tả chạy vào phòng chàng, kêu lên: “Paperarello! Paperarello! Dậy đi, nhà vua sắp đến rồi. Cậu chẳng nướng cái bánh nào cả, chắc chắn ngài sẽ chém đầu cậu!” |
‘Oh, don’t scream so,’ replied Paperarello, jumping out of bed as he spoke; and taking the lock of hair in his hand, he went into the kitchen. | “Ồ, đừng la hét ầm ĩ thế,” Paperarello đáp, vừa nói vừa nhảy ra khỏi giường. Chàng cầm lọn tóc trong tay, đi vào nhà bếp. |
And, behold! there stood the bread piled high—four, five, six ovens full, and the seventh still waiting to be taken out of the oven. | Và, kìa! Bánh mì đã chất cao thành đống—bốn, năm, sáu lò đầy ắp, và mẻ bánh thứ bảy vẫn đang chờ được lấy ra. |
The servants stood and stared in surprise, and the king said: ‘Well done, Paperarello, you have won my daughter.’ | Những người hầu đứng sững sờ kinh ngạc, còn nhà vua thì nói: “Làm tốt lắm, Paperarello, ngươi đã cưới được con gái ta.” |
And he thought to himself: ‘This fellow must really be a magician.’ | Và ngài thầm nghĩ: “Gã này hẳn phải là một pháp sư.” |
But when the princess heard what was in store for her she wept bitterly, and declared that never, never would she marry that dirty Paperarello! | Nhưng khi công chúa nghe tin mình sắp phải lấy ai, nàng đã khóc hết nước mắt và tuyên bố rằng sẽ không bao giờ, không bao giờ lấy tên Paperarello bẩn thỉu đó! |
However, the king paid no heed to her tears and prayers, and before many days were over the wedding was celebrated with great splendour, though the bridegroom had not taken the trouble to wash himself, and was as dirty as before. | Tuy nhiên, nhà vua chẳng đoái hoài đến những giọt nước mắt và lời cầu xin của nàng. Chỉ vài ngày sau, một hôn lễ lộng lẫy đã được cử hành, dù chú rể chẳng thèm tắm rửa và vẫn bẩn thỉu như trước. |
When night came he went as usual to sleep among his geese, and the princess went to the king and said: ‘Father, I entreat you to have that horrible Paperarello put to death.’ | Đến tối, chàng vẫn về ngủ với đàn ngỗng như thường lệ. Công chúa bèn đến gặp nhà vua và nói: “Thưa phụ hoàng, con cầu xin người hãy cho xử tử tên Paperarello kinh tởm đó.” |
‘No, no!’ replied her father, ‘he is a great magician, and before I put him to death, I must first find out the secret of his power, and then—we shall see.’ | “Không, không được!” vua cha đáp, “hắn là một pháp sư vĩ đại. Trước khi xử tử hắn, ta phải tìm ra bí mật về sức mạnh của hắn đã, rồi sau đó… chúng ta sẽ tính.” |
Soon after this a war broke out, and everybody about the palace was very busy polishing up armour and sharpening swords, for the king and his sons were to ride at the head of the army. | Không lâu sau, chiến tranh nổ ra. Cả hoàng cung bận rộn đánh bóng áo giáp, mài gươm đao, vì nhà vua và các hoàng tử sẽ dẫn đầu quân đội ra trận. |
Then Paperarello left his geese, and came and told the king that he wished to go to fight also. | Bấy giờ Paperarello rời đàn ngỗng, đến tâu với nhà vua rằng mình cũng muốn đi đánh giặc. |
The king gave him leave, and told him that he might go to the stable and take any horse he liked from the stables. | Nhà vua cho phép, và bảo chàng có thể vào chuồng ngựa chọn bất cứ con nào mình thích. |
So Paperarello examined the horses carefully, but instead of picking out one of the splendid well-groomed creatures, whose skin shone like satin, he chose a poor lame thing, put a saddle on it, and rode after the other men-at-arms who were attending the king. | Paperarello xem xét các con ngựa một cách cẩn thận, nhưng thay vì chọn một trong những con tuấn mã khỏe mạnh, bờm lông bóng như sa tanh, chàng lại chọn một con ngựa què tội nghiệp. Chàng đóng yên cương cho nó rồi cưỡi theo sau những người lính hộ tống nhà vua. |
In a short time he stopped, and said to them: ‘My horse can go no further; you must go on to the war without me, and I will stay here, and make some little clay soldiers, and will play at a battle.’ | Đi được một đoạn, chàng dừng lại và nói với họ: “Ngựa của tôi không đi xa hơn được nữa rồi; các anh cứ đi trước ra trận, còn tôi sẽ ở lại đây, nặn mấy hình nhân bằng đất sét để chơi trò đánh trận.” |
The men laughed at him for being so childish, and rode on after their master. | Những người lính cười nhạo sự trẻ con của chàng, rồi tiếp tục phi ngựa theo chủ tướng. |
Scarcely were they out of sight than Paperarello took out his curl, and wished himself the best armour, the sharpest sword, and the swiftest horse in the world, and the next minute was riding as fast as he could to the field of battle. | Họ vừa đi khuất, Paperarello liền lấy lọn tóc ra, ước có một bộ áo giáp tốt nhất, một thanh gươm sắc bén nhất, và một con chiến mã nhanh nhẹn nhất thế gian. Ngay sau đó, chàng đã phi hết tốc lực ra chiến trường. |
The fight had already begun, and the enemy was getting the best of it, when Paperarello rode up, and in a moment the fortunes of the day had changed. | Trận chiến đã bắt đầu, và quân địch đang chiếm thế thượng phong. Đúng lúc ấy, Paperarello xông tới, và chỉ trong chốc lát, cục diện trận đấu đã thay đổi. |
Right and left this strange knight laid about him, and his sword pierced the stoutest breast-plate, and the strongest shield. | Vị kỵ sĩ lạ mặt tung hoành khắp nơi, thanh gươm của chàng xuyên thủng những tấm giáp che ngực dày nhất, phá tan những chiếc khiên kiên cố nhất. |
He was indeed ‘a host in himself,’ and his foes fled before him thinking he was only the first of a troop of such warriors, whom no one could withstand. | Chàng thực sự là “một mình địch vạn người”, và quân thù tháo chạy tán loạn trước mặt chàng, tưởng rằng chàng chỉ là người tiên phong của một đội quân hùng mạnh mà không ai có thể chống cự. |
When the battle was over, the king sent for him to thank him for his timely help, and to ask what reward he should give him. | Khi trận chiến kết thúc, nhà vua cho triệu chàng đến để cảm tạ sự giúp đỡ kịp thời và hỏi chàng muốn được ban thưởng điều gì. |
‘Nothing but your little finger, your Majesty,’ was his answer; and the king cut off his little finger and gave it to Paperarello, who bowed and hid it in his surcoat. | “Chỉ xin ngón tay út của Bệ hạ,” chàng đáp. Nhà vua cắt ngón tay út của mình trao cho Paperarello. Chàng cúi đầu nhận, giấu nó vào trong áo. |
Then he left the field, and when the soldiers rode back they found him still sitting in the road making whole rows of little clay dolls. | Rồi chàng rời khỏi chiến trường. Khi đoàn quân trở về, họ lại thấy chàng đang ngồi bên vệ đường, mải mê nặn những hàng búp bê bằng đất sét. |
The next day the king went out to fight another battle, and again Paperarello appeared, mounted on his lame horse. | Ngày hôm sau, nhà vua lại ra trận chiến đấu, và Paperarello lại xuất hiện trên lưng con ngựa què của mình. |
As on the day before, he halted on the road, and sat down to make his clay soldiers; then a second time he wished himself armour, sword, and a horse, all sharper and better than those he had previously had, and galloped after the rest. | Cũng như hôm trước, chàng dừng lại giữa đường và ngồi xuống nặn những người lính đất sét. Rồi lần thứ hai, chàng lại ước có áo giáp, gươm đao, và ngựa chiến, tất cả đều tốt và sắc bén hơn lần trước. Chàng phi ngựa đuổi theo đoàn quân. |
He was only just in time: the enemy had almost beaten the king’s army back, and men whispered to each other that if the strange knight did not soon come to their aid, they would be all dead men. | Chàng đến vừa kịp lúc: quân địch gần như đã đánh bại quân đội của nhà vua, và binh lính bắt đầu thì thầm với nhau rằng nếu vị kỵ sĩ lạ mặt không sớm đến cứu viện, họ sẽ chết cả. |
Suddenly someone cried: ‘Hold on a little longer, I see him in the distance; and his armour shines brighter, and his horse runs swifter, than yesterday.’ | Bỗng có người hét lên: “Cố lên một chút nữa, ta thấy ngài ở đằng xa rồi; áo giáp của ngài còn sáng hơn, ngựa của ngài còn nhanh hơn hôm qua!” |
Then they took fresh heart and fought desperately on till the knight came up, and threw himself into the thick of the battle. | Nghe vậy, họ lấy lại tinh thần và chiến đấu quyết liệt cho đến khi vị kỵ sĩ đến nơi và lao vào giữa trận chiến. |
As before, the enemy gave way before him, and in a few minutes the victory remained with the king. | Giống như lần trước, quân địch tan vỡ trước sức mạnh của chàng, và chỉ trong vài phút, chiến thắng đã thuộc về nhà vua. |
The first thing that the victor did was to send for the knight to thank him for his timely help, and to ask what gift he could bestow on him in token of gratitude. | Việc đầu tiên nhà vua làm là cho gọi vị kỵ sĩ đến để cảm tạ và hỏi chàng muốn nhận món quà gì để tỏ lòng biết ơn. |
‘Your Majesty’s ear,’ answered the knight; and as the king could not go back from his word, he cut it off and gave it to him. | “Tai của Bệ hạ,” vị kỵ sĩ đáp. Không thể nuốt lời, nhà vua bèn cắt tai mình trao cho chàng. |
Paperarello bowed, fastened the ear inside his surcoat and rode away. In the evening, when they all returned from the battle, there he was, sitting in the road, making clay dolls. | Paperarello cúi đầu, cất chiếc tai vào trong áo rồi phi ngựa đi. Chiều tối, khi mọi người từ trận chiến trở về, chàng vẫn đang ngồi bên vệ đường, nặn búp bê bằng đất sét. |
On the third day the same thing happened, and this time he asked for the king’s nose as the reward of his aid. | Vào ngày thứ ba, mọi chuyện lại diễn ra như cũ. Lần này, chàng yêu cầu chiếc mũi của nhà vua làm phần thưởng cho sự giúp đỡ của mình. |
Now, to lose one’s nose, is worse even than losing one’s ear or one’s finger, and the king hesitated as to whether he should comply. | Mất một chiếc mũi còn tệ hơn cả mất một bên tai hay một ngón tay, nên nhà vua có chút do dự. |
However, he had always prided himself on being an honourable man, so he cut off his nose, and handed it to Paperarello. | Tuy nhiên, ngài luôn tự hào mình là một người trọng danh dự, nên ngài đã cắt mũi mình và đưa cho Paperarello. |
Paperarello bowed, put the nose in his surcoat, and rode away. In the evening, when the king returned from the battle, he found Paperarello sitting in the road making clay dolls. | Paperarello cúi đầu, cất chiếc mũi vào trong áo rồi phi ngựa đi. Buổi tối, khi nhà vua trở về từ trận chiến, ngài thấy Paperarello đang ngồi bên đường nặn búp bê đất sét. |
And Paperarello got up and said to him: ‘Do you know who I am? I am your dirty goose-boy, yet you have given me your finger, and your ear, and your nose.’ | Paperarello đứng dậy và nói với ngài: “Ngài có biết tôi là ai không? Tôi chính là gã chăn ngỗng bẩn thỉu của ngài, thế mà ngài đã trao cho tôi ngón tay, và tai, và cả mũi của mình.” |
That night, when the king sat at dinner, Paperarello came in, and laying down the ear, and the nose, and the finger on the table, turned and said to the nobles and courtiers who were waiting on the king: ‘I am the invincible knight, who rode three times to your help, and I also am a king’s son, and no goose-boy as you all think.’ | Đêm đó, khi nhà vua đang ngồi dự yến, Paperarello bước vào. Chàng đặt ngón tai, mũi và ngón tay lên bàn, rồi quay lại nói với các quý tộc và cận thần đang hầu hạ nhà vua: “Ta chính là vị kỵ sĩ bất khả chiến bại đã ba lần đến cứu viện các người, và ta cũng là một hoàng tử, chứ không phải một tên chăn ngỗng như các người vẫn tưởng.” |
And he went away and washed himself, and dressed himself in fine clothes and entered the hall again, looking so handsome that the proud princess fell in love with him on the spot. | Nói rồi, chàng đi tắm rửa, thay một bộ y phục lộng lẫy và bước vào đại sảnh lần nữa. Chàng trông tuấn tú đến nỗi nàng công chúa kiêu kỳ đã phải lòng chàng ngay từ cái nhìn đầu tiên. |
But Paperarello took no notice of her, and said to the king: ‘It was kind of you to offer me your daughter in marriage, and for that I thank you; but I have a wife at home whom I love better, and it is to her that I am going. | Nhưng Paperarello chẳng hề để ý đến nàng. Chàng nói với nhà vua: “Thật tốt khi Bệ hạ đã có nhã ý gả công chúa cho tôi, xin đa tạ tấm lòng của Bệ hạ. Nhưng ở quê nhà tôi đã có một người vợ mà tôi yêu thương hơn hết, và tôi sẽ trở về với nàng. |
‘But as a token of farewell, I wish that your ear, and nose, and finger may be restored to their proper places.’ | “Nhưng để làm quà từ biệt, tôi mong rằng tai, mũi và ngón tay của Bệ hạ sẽ trở về đúng vị trí của nó.” |
So saying, he bade them all goodbye, and went back to his home and his fairy bride, with whom he lived happily till the end of his life. | Dứt lời, chàng từ biệt mọi người, quay về quê hương với người vợ tiên của mình, và họ sống hạnh phúc bên nhau cho đến cuối đời. |
Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa.