| CHAPTER III.—Hope—Wanderings on the Earth Plane—A Door of Spiritual Sight | CHƯƠNG III.—Hy Vọng—Những Bước Lang Thang Trên Cõi Trần—Cánh Cửa Của Linh Nhãn |
|---|---|
| I know not how long this lasted; it seemed a long, long time to me. | Tôi không biết tình trạng này kéo dài bao lâu; với tôi, nó dường như là một khoảng thời gian đằng đẵng. |
| I was sitting wrapped still in my despair when I heard a voice gentle and soft calling to me—the voice of my beloved—and I felt compelled to rise and follow that voice till it should lead me to her; | Tôi vẫn đang ngồi cuộn mình trong nỗi tuyệt vọng thì nghe thấy một giọng nói dịu dàng và êm ái gọi tôi—giọng nói của người tôi yêu—và tôi cảm thấy thôi thúc phải đứng dậy và đi theo giọng nói ấy cho đến khi nó dẫn tôi đến bên nàng; |
| and as I rose to go the thread which had so bound me seemed to stretch and stretch till I scarce felt its pressure, and I was drawn on and on till at last I found myself in a room which, I could dimly see, even in the darkness that always surrounded me, was familiar to my eyes. | và khi tôi đứng lên để bước đi, sợi chỉ từng trói buộc tôi dường như cứ giãn ra, giãn ra mãi cho đến khi tôi hầu như không còn cảm thấy áp lực của nó nữa, và tôi bị kéo đi, kéo đi mãi cho đến khi cuối cùng tôi thấy mình đang ở trong một căn phòng mà tôi có thể lờ mờ nhận ra, ngay cả trong bóng tối luôn bao trùm lấy tôi, là một nơi rất đỗi thân thuộc với đôi mắt mình. |
| It was the home of my beloved one, and in that room I had passed, ah! how many peaceful happy hours in that time which seemed now separated from me by so wide and awful a gulf. | Đó là ngôi nhà của người tôi yêu, và trong căn phòng ấy, a! tôi đã trải qua biết bao giờ phút bình yên và hạnh phúc trong cái thời khắc mà giờ đây dường như đã bị ngăn cách với tôi bởi một vực sâu thăm thẳm và đáng sợ. |
| She sat at a little table with a sheet of paper before her and a pencil in her hand. | Nàng ngồi bên một chiếc bàn nhỏ, trước mặt là một tờ giấy và tay cầm một cây bút chì. |
| She kept repeating my name and saying: “Dearest of friends, if the dead ever return, come back to me, and try if you can make me write a few words from you, even ‘yes’ or ‘no’ in answer to my questions.” | Nàng liên tục gọi tên tôi và nói: “Người bạn tri kỷ nhất của em, nếu người chết thực sự có thể trở về, xin hãy quay lại bên em, và hãy thử xem anh có thể khiến em viết ra vài lời từ anh không, dẫu chỉ là ‘có’ hoặc ‘không’ để trả lời những câu hỏi của em.” |
| For the first time since I had died I saw her with a faint smile upon her lips and a look of hope and expectation in those dear eyes that were so heavy with weeping for me. | Lần đầu tiên kể từ khi tôi qua đời, tôi thấy một nụ cười mờ nhạt trên môi nàng cùng một ánh nhìn đầy hy vọng và mong mỏi trong đôi mắt thân thương vốn đã sưng vù vì khóc thương tôi. |
| The dear face looked so pale and sad with her grief and I felt—ah! how I felt—the sweetness of the love she had given me, and which now less than ever dare I hope to claim. | Khuôn mặt thân yêu ấy trông thật nhợt nhạt và u buồn vì nỗi đau, và tôi cảm nhận được—a! tôi cảm nhận sâu sắc làm sao—sự ngọt ngào của tình yêu mà nàng đã dành cho tôi, thứ tình yêu mà giờ đây, hơn bao giờ hết, tôi càng không dám mong cầu được nhận lấy. |
| Then I saw three other forms beside her, but they I knew were spirits, yet how unlike myself. | Rồi tôi nhìn thấy ba bóng hình khác bên cạnh nàng, tôi biết họ là các linh hồn, nhưng sao họ lại khác tôi đến vậy. |
| These spirits were bright, radiant, so that I could not bear to look at them; the sight seemed to scorch my eyes as with a fire. | Những linh hồn này tỏa sáng rực rỡ, đến mức tôi không thể chịu đựng nổi khi nhìn vào họ; cảnh tượng ấy dường như thiêu đốt đôi mắt tôi như bằng ngọn lửa. |
| One was a man, tall, calm, dignified-looking, who bent over her to protect her as her guardian angel might. | Một người là đàn ông cao lớn, điềm tĩnh, mang dáng vẻ uy nghi, cúi xuống che chở cho nàng như một vị thiên thần bản mệnh. |
| Beside him stood two fair young men whom I knew at once to be those brothers whom she had so often spoken of to me. | Cạnh ông là hai chàng trai trẻ tuấn tú mà tôi nhận ra ngay là hai người anh trai mà nàng thường kể cho tôi nghe. |
| They had died when youth with all its pleasures was before them, and their memories were shrined in her heart as those who were now angels. | Họ đã qua đời khi tuổi thanh xuân với bao niềm vui còn đang ở phía trước, và ký ức về họ được tôn thờ trong trái tim nàng như những người giờ đây đã hóa thành thiên thần. |
| I shrank back, for I felt they saw me, and I sought to cover my disfigured face and form with the dark mantle which I wore. | Tôi co rúm lại, vì tôi cảm nhận được họ đang nhìn mình, và tôi cố gắng che giấu khuôn mặt cùng vóc dáng gớm ghiếc, dị dạng của mình bằng chiếc áo choàng sẫm màu đang mặc. |
| Then my pride awoke, and I said: “Has not she herself called me? I have come, and shall not she be the arbiter of my destiny? Is it so irrevocable that nothing I can do, no sorrow, no repentance however deep, no deeds however great, no work however hard, can reverse it? Is there indeed no hope beyond the grave?” | Rồi lòng kiêu hãnh của tôi trỗi dậy, và tôi thầm nghĩ: “Chẳng phải chính nàng đã gọi ta sao? Ta đã đến, và chẳng phải nàng sẽ là người phán xử số phận của ta sao? Phải chăng mọi thứ đã không thể cứu vãn đến mức dù ta có làm gì, dù có đau buồn, có ăn năn sâu sắc đến đâu, có hành động cao cả hay nỗ lực nhọc nhằn đến mức nào, cũng không thể đảo ngược được nó? Phải chăng thực sự không có hy vọng nào bên ngoài nấm mồ?” |
| And a voice, the voice I had heard before at my own grave, answered me: “Son of grief, is there no hope on earth for those who sin? Does not even man forgive the sinner who has wronged him if the sin be repented of and pardon sought? And shall God be less merciful, less just? Hast thou repentance even now? Search thine own heart and see whether it is for thyself or for those thou hast wronged that thou art sorry?” | Và một giọng nói, chính cái giọng nói mà tôi từng nghe bên nấm mồ của mình, vang lên đáp lại tôi: “Hỡi đứa con của nỗi sầu muộn, chẳng lẽ trên cõi trần không có hy vọng nào cho những kẻ tội lỗi sao? Chẳng phải ngay cả con người cũng sẽ tha thứ cho kẻ đã phạm lỗi với mình nếu kẻ đó biết ăn năn và cầu xin sự dung thứ hay sao? Vậy lẽ nào Thượng Đế lại kém lòng xót thương và kém phần công lý hơn? Ngay lúc này đây, ngươi đã thực sự sám hối chưa? Hãy tự soi xét trái tim mình xem ngươi đang đau buồn cho chính bản thân ngươi hay cho những người mà ngươi đã gây ra lỗi lầm?” |
| And I knew as he spoke that I did not truly repent. I only suffered. I only loved and longed. | Và tôi biết khi người ấy cất lời, rằng tôi chưa thực sự ăn năn. Tôi chỉ đang đau khổ. Tôi chỉ đang yêu và khao khát. |
| then again my beloved spoke and asked me, if I were there and could hear her, to try and write one word through her hand that she might know I still lived, still thought of her. | Rồi người tôi yêu lại cất giọng và hỏi tôi, nếu tôi đang ở đó và có thể nghe thấy nàng, hãy cố gắng viết một từ thông qua bàn tay nàng để nàng biết rằng tôi vẫn sống, vẫn đang nghĩ về nàng. |
| My heart seemed to rise into my throat and choke me, and I drew near to try if I could move her hand, could touch it even. | Trái tim tôi như nghẹn lại ở cổ họng, và tôi tiến đến gần để thử xem mình có thể di chuyển tay nàng, hay thậm chí chỉ là chạm vào nó không. |
| But the tall spirit came between us, and I was forced to draw back. | But the tall spirit came between us, and I was forced to draw back. |
| Then he spoke and said: “Give your words to me and I will cause her hand to write them down for you. I will do this for her sake, and because of the love she has for you.” | Rồi người cất lời: “Hãy trao những lời của ngươi cho ta, và ta sẽ khiến bàn tay cô ấy viết chúng xuống thay ngươi. Ta làm điều này là vì cô ấy, và vì tình yêu mà cô ấy dành cho ngươi.” |
| A great wave of joy swept over me at his words, and I would have taken his hand and kissed it but could not. | Một làn sóng niềm vui trào dâng trong tôi trước những lời ấy, và tôi định nắm lấy tay người mà hôn lên nhưng không thể. |
| My hand seemed scorched by his brightness ere I could touch him, and I bowed myself before him for I thought he must be one of the angels. | Tay tôi dường như bị thiêu đốt bởi ánh sáng rực rỡ của người trước cả khi tôi kịp chạm vào, và tôi phủ phục trước người vì tôi nghĩ ngài hẳn phải là một trong những vị thiên thần. |
| My beloved spoke once more and said: “Are you here, dearest friend?” | Người tôi yêu lại lên tiếng một lần nữa: “Anh có ở đây không, người bạn tri kỷ của em?” |
| I answered, “Yes,” and then I saw the spirit put his hand on her, and when he did so her hand wrote the word “yes.” | Tôi đáp, “Có,” và rồi tôi thấy vị linh hồn nọ đặt tay lên người nàng, và khi ngài làm thế, bàn tay nàng viết ra từ “có”. |
| Slowly and unsteadily it moved, like a child’s learning to write. | Bàn tay ấy di chuyển một cách chậm chạp và run rẩy, giống như một đứa trẻ đang tập viết. |
| Ah! how she smiled, and again she asked me a question, and as before her own hand traced out my answer. | A! nàng đã mỉm cười làm sao, và nàng lại hỏi tôi một câu hỏi, và cũng như trước, chính bàn tay nàng đã viết ra câu trả lời của tôi. |
| She asked me if there were anything she could do for me, any wish of mine that she could help me to carry out? | Nàng hỏi tôi liệu nàng có thể làm gì cho tôi không, có tâm nguyện nào của tôi mà nàng có thể giúp thực hiện không? |
| I said: “No! not now. I would go away now and torment her no more with my presence. I would let her forget me now.” | Tôi đáp: “Không! Không phải lúc này. Anh sẽ rời đi lúc này và không làm em dằn vặt vì sự hiện diện của anh nữa. Anh sẽ để em quên anh từ lúc này.” |
| My heart was so sore as I spoke, so bitter; and ah! how sweet to me was her reply, how it touched my soul to hear her say: “Do not say that to me, for I would ever be your truest, dearest friend, as I was in the past, and since you died my one thought has been to find you and to speak with you again.” | Trái tim tôi đau nhói và cay đắng khôn nguôi khi nói ra những lời ấy; và a! câu trả lời của nàng đối với tôi mới ngọt ngào làm sao, những lời ấy đã chạm đến tận cùng linh hồn tôi: “Đừng nói vậy với em, vì em sẽ mãi là người bạn chân thành nhất, thân thiết nhất của anh, như trong quá khứ, và kể từ khi anh qua đời, suy nghĩ duy nhất của em là tìm thấy anh và được trò chuyện cùng anh một lần nữa.” |
| And I answered, I called out to her, “It has been my only wish also.” | Và tôi đáp lại, tôi gọi lớn với nàng, “Đó cũng là tâm nguyện duy nhất của anh.” |
| She then asked if I would come again, and I said “Yes!” For where would I not have gone for her? What would I not have done? | Rồi nàng hỏi liệu tôi có quay lại không, và tôi đáp “Có!”. Bởi vì có nơi nào mà tôi không sẵn lòng đi vì nàng? Có điều gì mà tôi không sẵn lòng làm? |
| Then the bright spirit said she must write no more that night. He made her hand write that also and said she should go to rest. | Rồi vị linh hồn tỏa sáng nọ bảo rằng nàng không được phép viết thêm nữa trong đêm đó. Ngài cũng khiến bàn tay nàng viết ra điều đó và bảo rằng nàng cần phải đi nghỉ. |
| I felt myself now drawn away once more back to my grave and to my earthly body in that dark churchyard; but not to the same hopeless sense of misery. | Giờ đây, tôi cảm thấy mình lại bị kéo về nấm mồ và cái thể xác trần tục của mình trong nghĩa trang u ám kia; nhưng không còn cái cảm giác cùng cực tuyệt vọng như trước nữa. |
| In spite of everything a spark of hope had risen in my heart, and I knew I should see and speak with her again. | Bất chấp mọi thứ, một tia hy vọng đã lóe lên trong trái tim tôi, và tôi biết mình sẽ còn gặp lại và trò chuyện với nàng một lần nữa. |
| But now I found I was not alone there. Those two spirits who were her brothers had followed me, and now spoke. | But now I found I was not alone there. Hai linh hồn vốn là những người anh trai của nàng đã đi theo tôi, và giờ họ lên tiếng. |
| I shall not state all they said. Suffice it to say they pointed out to me how wide was now the gulf between their sister and myself, and asked me if I desired to shadow all her young life with my dark presence. | Tôi sẽ không kể lại tất cả những gì họ nói. Chỉ cần biết rằng họ đã chỉ ra cho tôi thấy khoảng cách giữa em gái họ và tôi giờ đây đã rộng lớn đến nhường nào, và hỏi tôi liệu tôi có muốn dùng sự hiện diện tăm tối của mình để che khuất cả tuổi thanh xuân của nàng hay không. |
| If I left her now, she would, in time, forget me, except as one who had been a dear friend to her. | Nếu tôi rời xa nàng lúc này, theo thời gian, nàng sẽ quên tôi, ngoại trừ việc coi tôi như một người bạn thân thiết từng có. |
| She could always think tenderly of my memory, and surely if I loved her truly I would not wish to make all her young life lonely and desolate for my sake. | Nàng có thể luôn giữ những ký ức dịu dàng về tôi, và chắc chắn nếu tôi thực sự yêu nàng, tôi sẽ không muốn biến toàn bộ cuộc sống tươi trẻ của nàng trở nên cô đơn và hoang vắng chỉ vì lợi ích của bản thân mình. |
| I replied that I loved her, and could never bear to leave her, never bear to think of any other, loving her as I had done. | Tôi đáp rằng tôi yêu nàng, và không bao giờ có thể chịu đựng được việc phải rời xa nàng, không bao giờ chịu nổi việc phải nghĩ đến một ai khác, sau khi đã yêu nàng đến thế. |
| Then they spoke of myself and my past, and asked if I dared to think of linking myself with her pure life, even in the misty fashion in which I still hoped to do? | Rồi họ nói về chính tôi và quá khứ của tôi, và hỏi liệu tôi có dám mơ mộng gắn kết bản thân mình với cuộc đời thuần khiết của nàng, ngay cả theo cái cách mờ ảo mà tôi vẫn đang nuôi hy vọng? |
| How could I hope that when she died I should meet her? | Làm sao tôi có thể hy vọng rằng khi nàng qua đời, tôi sẽ được gặp nàng? |
| She belonged to a bright sphere to which I could not hope for a long time to rise, and would it not be better for her, and nobler, more truly loving of me, to leave her to forget me and to find what happiness in life could yet be given to her, rather than seek to keep alive a love that could only bring her sorrow? | Nàng thuộc về một cõi giới rạng rỡ mà tôi không thể có hy vọng vươn tới trong một thời gian dài, và liệu có tốt hơn cho nàng, cao cả hơn, và là một minh chứng chân thật hơn cho tình yêu của tôi, nếu tôi rời đi để nàng quên tôi và tìm kiếm những hạnh phúc khác trong cuộc đời còn có thể dành cho nàng, thay vì tìm cách níu giữ một tình yêu chỉ mang lại cho nàng nỗi khổ đau? |
| I said faintly I thought she loved me. | Tôi yếu ớt đáp rằng tôi nghĩ nàng yêu tôi. |
| They said: “Yes, she loves you as she herself has idealized your image in her mind, and as she in her innocence has painted your picture. Do you think if she knew all your story she would love you? Would she not shrink back in horror from you? Tell her the truth, give her the choice of freedom from your presence, and you will have acted a nobler part and shown a truer love than in deceiving her and seeking to tie her to a being like yourself. If you truly love her, think of her and her happiness, and what will bring it—not of yourself alone.” | Họ nói: “Đúng, cô ấy yêu ngươi theo cái cách mà cô ấy đã tự lý tưởng hóa hình ảnh của ngươi trong tâm trí mình, và theo bức chân dung mà cô ấy đã vẽ ra trong sự ngây thơ của mình. Ngươi nghĩ rằng nếu cô ấy biết tất cả quá khứ của ngươi, cô ấy sẽ yêu ngươi sao? Chẳng phải cô ấy sẽ thu mình lại và kinh tởm ngươi sao? Hãy nói cho cô ấy biết sự thật, cho cô ấy quyền được tự do thoát khỏi sự hiện diện của ngươi, và ngươi sẽ đóng một vai trò cao cả hơn, thể hiện một tình yêu chân thực hơn là lừa dối cô ấy và tìm cách trói buộc cô ấy vào một sinh mệnh như ngươi. Nếu ngươi thực sự yêu cô ấy, hãy nghĩ cho cô ấy và hạnh phúc của cô ấy, và những gì có thể mang lại hạnh phúc đó—chứ không phải chỉ nghĩ đến riêng bản thân mình.” |
| Then the hope within me died out, and I bowed my head to the dust in shame and agony, for I knew that I was vile and in no way fit for her, and I saw as in a glass what her life might still be freed from mine. | Thế là hy vọng trong tôi vụt tắt, và tôi cúi gằm mặt xuống đất trong sự tủi nhục và đớn đau tột cùng, vì tôi biết mình là kẻ đê tiện và không cách nào xứng đáng với nàng, và tôi nhìn thấy như qua một tấm gương rằng cuộc đời nàng có thể sẽ ra sao nếu được giải thoát khỏi tôi. |
| She might know happiness yet with another more worthy than I had been, while with my love I would only drag her down into sadness with me. | Nàng vẫn có thể tận hưởng hạnh phúc bên một người khác xứng đáng hơn tôi, trong khi với tình yêu của mình, tôi sẽ chỉ kéo nàng chìm vào nỗi u buồn cùng tôi. |
| For the first time in my life I put the happiness of another before my own, and because I so loved her and would have had her happy, I said to them: “Let it be so, then. Tell her the truth, and let her say but one kind word to me in farewell, and I will go from her and darken her life with the shadow of mine no more.” | Lần đầu tiên trong đời, tôi đặt hạnh phúc của người khác lên trên hạnh phúc của chính mình, và vì tôi quá đỗi yêu nàng và mong muốn nàng được hạnh phúc, tôi đã nói với họ: “Vậy thì hãy cứ như thế đi. Hãy nói cho nàng biết sự thật, và để nàng nói với tôi chỉ một lời tử tế khi từ biệt, rồi tôi sẽ rời xa nàng và không bao giờ bôi đen cuộc đời nàng bằng cái bóng tăm tối của mình nữa.” |
| So we went back to her, and I saw her as she slept exhausted with her sorrow for me. | Thế là chúng tôi quay lại bên nàng, và tôi nhìn thấy nàng đang ngủ thiếp đi vì kiệt sức sau những đau buồn dành cho tôi. |
| I pleaded that they would let me give her one kiss, the first and last that I would ever give. | Tôi cầu xin họ cho phép tôi trao cho nàng một nụ hôn, nụ hôn đầu tiên và cũng là cuối cùng mà tôi từng trao. |
| But they said no, that was impossible, for my touch would snap forever the thread that held her still to life. | Nhưng họ từ chối, bảo rằng điều đó là không thể, vì cái chạm của tôi sẽ làm đứt vĩnh viễn sợi dây kết nối nàng với sự sống. |
| Then they awoke her and made her write down their words, while I stood by and heard each word fall as a nail in the coffin where they were burying my last hope forever. | Sau đó, họ đánh thức nàng và khiến nàng viết xuống những lời của họ, trong khi tôi đứng đó và nghe từng chữ rơi xuống như một chiếc đinh đóng vào cỗ quan tài nơi họ đang chôn vùi mãi mãi tia hy vọng cuối cùng của tôi. |
| She, as one in a dream, wrote on, till at last the whole shameful story of my life was told, and I had but to tell her myself that all was forever at an end between us, and she was free from my sinful presence and my selfish love. | Nàng, như người đang mộng du, cứ tiếp tục viết, cho đến khi cuối cùng toàn bộ câu chuyện đáng hổ thẹn về cuộc đời tôi đã được bày tỏ, và tôi chỉ còn biết tự mình nói với nàng rằng mọi thứ giữa chúng tôi đã kết thúc vĩnh viễn, và nàng đã được tự do khỏi sự hiện diện tội lỗi cũng như tình yêu ích kỷ của tôi. |
| I said adieu to her. As drops of blood wrung from my heart were those words, and as ice they fell upon her heart and crushed it. | Tôi nói lời vĩnh biệt nàng. Những lời ấy như những giọt máu bị vắt kiệt từ trái tim tôi, và chúng rơi xuống như những tảng băng đâm vào và nghiền nát trái tim nàng. |
| Then I turned and left her—how, I know not—but as I went I felt the cord that had tied me to my grave and my earthly body snap, and I was free—free to wander where I would—alone in my desolation! | Rồi tôi quay lưng bước đi—như thế nào, tôi cũng không rõ—nhưng khi tôi rời đi, tôi cảm nhận được sợi dây từng trói buộc tôi vào nấm mồ và thể xác trần tục của mình đã đứt phăng, và tôi được tự do—tự do lang thang đến bất cứ nơi đâu tôi muốn—đơn độc trong nỗi hoang vu của chính mình! |
| And then? Ah, me! While I write the words the tears of thankfulness are in my eyes again, and I almost break down in trying to write them; | Và rồi sao? Ôi, tôi ơi! Ngay khi đang viết những dòng này, những giọt lệ biết ơn lại đọng trên khóe mắt, và tôi gần như gục ngã khi cố gắng viết chúng ra; |
| then she whom we had deemed so weak and gentle that we had but to decide for her, she called me back with all the force of a love none dare oppose—called me back to her. | thế rồi người con gái mà chúng tôi từng cho là quá đỗi yếu đuối và mong manh đến mức chúng tôi phải thay nàng quyết định, nàng đã gọi tôi quay lại với tất cả sức mạnh của một tình yêu không ai dám cưỡng lại—nàng gọi tôi trở lại bên nàng. |
| She said she could never give me up so long as I had love for her. | Nàng nói nàng sẽ không bao giờ từ bỏ tôi chừng nào tôi vẫn còn tình yêu dành cho nàng. |
| “Let your past be what it might; let you be sunk now even to the lowest depths of hell itself, I will still love you, still seek to follow you and claim my right—the right of my love—to help and comfort and cherish you till God in his mercy shall have pardoned your past and you shall be raised up again.” | “Mặc cho quá khứ của anh có ra sao; mặc cho giờ đây anh có chìm xuống tận những tầng sâu thẳm nhất của chính địa ngục đi chăng nữa, em vẫn sẽ yêu anh, vẫn sẽ tìm cách đi theo anh và đòi lại quyền của mình—đặc quyền của tình yêu nơi em—để được giúp đỡ, an ủi và trân trọng anh cho đến khi Thượng Đế với lòng xót thương của Ngài sẽ thứ tha cho quá khứ của anh và anh sẽ được nâng bước trở lại.” |
| And then it was that I broke down and wept as only a strong proud man can weep, whose heart has been wrung and bruised and hardened, and then touched by the soft tender touch of a loving hand till the tears must come to his relief. | Và chính lúc ấy, tôi đã gục ngã và khóc như cách mà chỉ một người đàn ông mạnh mẽ, kiêu hãnh mới có thể khóc, kẻ có trái tim từng bị vắt kiệt, bầm dập và trở nên chai sạn, nay lại được chạm vào bởi cái vuốt ve êm ái, dịu dàng của một bàn tay ngập tràn yêu thương cho đến khi những giọt lệ phải tuôn rơi để giải thoát cho nỗi lòng của mình. |
| I went back to my love and knelt down beside her, and though they would not let me touch her, that calm beautiful spirit who was her guardian whispered to her that her prayer was answered, and that she should indeed lead me back to the light. | Tôi quay lại bên người tôi yêu và quỳ xuống cạnh nàng, và dù họ không để tôi chạm vào nàng, vị linh hồn xinh đẹp, điềm tĩnh vốn là thiên thần bản mệnh của nàng đã thì thầm với nàng rằng lời cầu nguyện của nàng đã được hồi đáp, và rằng nàng sẽ thực sự dẫn dắt tôi trở về với ánh sáng. |
| And so I left my darling, and as I passed away I saw a white angel’s form hover over her to give her strength and comfort, who was herself my angel of light. | Và thế là tôi rời xa người thương của mình, và khi tôi bước đi, tôi nhìn thấy hình bóng của một vị thiên thần áo trắng bay lượn phía trên để ban cho nàng sức mạnh và sự an ủi, người mà với tôi chính là thiên thần ánh sáng của đời mình. |
| I left her thus with those spirits, and went forth to wander till her voice should call me to her side again. | Tôi để nàng lại cùng với những linh hồn ấy, và cất bước lang thang cho đến khi giọng nói của nàng gọi tôi quay lại bên nàng một lần nữa. |
| After the short troubled sleep into which those bright spirits had put her, my darling awoke the next day, and went to visit a kind good man whom she had discovered in her efforts to find some way by which she might reach me even beyond the grave. | Sau giấc ngủ ngắn đầy mộng mị mà những linh hồn tỏa sáng ấy đã đưa nàng vào, người thương của tôi tỉnh dậy vào ngày hôm sau, và đến thăm một người đàn ông tốt bụng, hiền từ mà nàng đã phát hiện ra trong những nỗ lực tìm kiếm một con đường để có thể chạm tới tôi ngay cả khi tôi đã nằm dưới nấm mồ. |
| If it might be that what she had been told about those people who were called Spiritualists was really true, she hoped through their aid to speak again with me, and prompted by those who were watching over her, she had searched out this man who was known as a healing medium, and by him she had been told that if she herself tried, she could write messages from the so-called dead. | Nếu như những gì nàng được kể về những người được gọi là Các Nhà Tâm Linh Học thực sự là đúng, nàng hy vọng thông qua sự giúp đỡ của họ để có thể trò chuyện lại với tôi, và được thúc giục bởi những người đang che chở cho nàng, nàng đã tìm đến người đàn ông được biết đến như một nhà ngoại cảm chữa lành này, và được ông ấy cho biết rằng nếu nàng tự mình cố gắng, nàng có thể viết ra những thông điệp từ những người mà thế gian gọi là đã khuất. |
| This I did not learn till later. | Mãi đến sau này tôi mới biết được điều đó. |
| At the time I only felt myself summoned by the voice of her whose power over me was so great, and in obedience to it I found myself standing in what I could dimly distinguish to be a small room. | Vào lúc bấy giờ, tôi chỉ cảm thấy mình được triệu gọi bởi giọng nói của người con gái có sức mạnh thống trị quá lớn đối với tôi, và trong sự phục tùng tuyệt đối, tôi thấy mình đang đứng trong một nơi mà tôi có thể lờ mờ nhận ra là một căn phòng nhỏ. |
| I say dimly, because all was still dark to me save only where the light around my darling shone as a star and showed faintly what was near. | Tôi nói lờ mờ, bởi vì mọi thứ xung quanh vẫn tối tăm đối với tôi, ngoại trừ nơi có ánh sáng tỏa ra từ người tôi yêu lấp lánh như một vì sao và chiếu rọi mờ nhạt vào những thứ xung quanh. |
| It was to this good man of whom I speak that she had gone, and it was her voice speaking to him that had drawn me. | Chính là người đàn ông tốt bụng mà tôi vừa nhắc đến mà nàng đã tìm đến, và chính giọng nói của nàng khi trò chuyện với ông đã lôi kéo tôi. |
| She was telling him what had passed the night before, and how much she loved me, and how she would gladly give all her life if by so doing she could comfort and help me. | Nàng đang kể cho ông nghe những gì đã xảy ra đêm hôm trước, nàng yêu tôi nhiều đến chừng nào, và nàng sẵn lòng dâng hiến cả cuộc đời mình ra sao nếu điều đó có thể an ủi và giúp đỡ tôi. |
| And that man spoke such kind words to her—from my heart I thanked and still thank him for them. | Và người đàn ông đó đã nói những lời tử tế biết bao với nàng—tận đáy lòng, tôi đã và vẫn luôn biết ơn ông vì những lời ấy. |
| He gave me so much hope. | Ông đã mang đến cho tôi quá nhiều hy vọng. |
| He pointed out to my dear love that the ties of the earth body are broken at its death, and I was free to love her and she was free to return that love—that she herself better than any other could in truth help to raise me, for her love would give me comfort and hope as nothing else would do, and would cheer my path of repentant effort. | Ông chỉ ra cho người tôi yêu rằng những mối liên kết với thể xác trần tục đã bị cắt đứt khi cái chết đến, và tôi hoàn toàn tự do để yêu nàng cũng như nàng hoàn toàn tự do để đáp lại tình yêu đó—rằng chính nàng, hơn bất kỳ ai khác, thực sự có thể giúp nâng đỡ tôi, vì tình yêu của nàng sẽ mang lại cho tôi sự an ủi và hy vọng mà không gì khác có thể làm được, và sẽ soi sáng con đường nỗ lực sám hối của tôi. |
| And she had now the best of rights to give it, my love for her had been so pure and true a passion, while hers for me was stronger than death itself, since it had overcome the barrier of death. | Và giờ đây nàng có đủ mọi đặc quyền để trao đi tình yêu ấy, vì tình yêu tôi dành cho nàng từng là một thứ đam mê thuần khiết và chân thật nhất, trong khi tình yêu nàng dành cho tôi còn mạnh mẽ hơn cả bản thân cái chết, vì nó đã vượt qua ranh giới của cái chết. |
| He was so kind, this man—he helped me to speak to her, and to explain many things as I could not have done the night before when my heart was so sore and full of pride. | Ông ấy thật tốt bụng, người đàn ông này—ông đã giúp tôi trò chuyện với nàng, và giải thích nhiều điều mà tôi đã không thể làm được vào đêm hôm trước khi trái tim tôi còn quá đớn đau và tràn ngập sự kiêu hãnh. |
| He helped me to tell what of excuse there had been for me in the past, though I owned that nothing can truly excuse our sins. | Ông giúp tôi nói lên những lời bào chữa cho bản thân trong quá khứ, dù tôi thừa nhận rằng không gì có thể thực sự bào chữa cho những tội lỗi của mình. |
| He let me tell her that in spite of all the wrong of my past she had been to me as one sacred—loved with a love I had given to none but herself. | Ông để tôi nói với nàng rằng bất chấp mọi sai trái trong quá khứ, nàng đối với tôi vẫn là một người thiêng liêng—được tôi yêu thương bằng một tình yêu mà tôi chưa từng trao cho bất kỳ ai khác ngoài nàng. |
| He soothed and strengthened her with a kindness for which I blessed him even more than for his help to myself, and when she left him at last I, too, went with her to her home, the light of hope in both our hearts. | Ông xoa dịu và tiếp thêm sức mạnh cho nàng bằng một lòng tốt mà tôi cầu chúc cho ông những điều tốt lành nhất, thậm chí còn hơn cả những gì ông đã giúp đỡ tôi, và khi nàng rời đi, tôi cũng theo nàng về nhà, với ánh sáng của niềm hy vọng lấp lánh trong trái tim cả hai chúng tôi. |
| And when we got there I found that a fresh barrier was raised up by those two spirit brothers and others to whom she was dear; | But khi chúng tôi về đến nơi, tôi nhận ra một rào cản mới đã được dựng lên bởi hai linh hồn là anh trai nàng cùng những người khác mà nàng yêu thương; |
| an invisible wall surrounded her through which I could not pass, and though I might follow her about I could not get very near. | một bức tường vô hình bao quanh nàng mà tôi không thể vượt qua, và dù tôi có thể theo chân nàng đi khắp nơi, tôi không thể đến quá gần. |
| Then I said to myself that I would go back to the kind man and see if he would help me. | Rồi tôi nhủ thầm rằng mình sẽ quay lại tìm người đàn ông tốt bụng kia để xem ông ấy có thể giúp tôi không. |
| My wish seemed to carry me back, for I soon found myself there again. | Ước muốn của tôi dường như đã đưa tôi trở lại, vì chẳng mấy chốc tôi đã thấy mình ở đó. |
| He was at once conscious of my presence, and strange as it may seem, I found that he could understand much, although not all, that I said to him. | Ông lập tức nhận ra sự hiện diện của tôi, và dù có vẻ kỳ lạ, tôi nhận thấy ông có thể hiểu được rất nhiều, mặc dù không phải tất cả, những gì tôi nói với ông. |
| He gathered the sense of what I wanted to say, and told me many things I shall not set down here since they concerned only myself. | Ông nắm bắt được ý nghĩa của những điều tôi muốn nói, và nói với tôi nhiều thứ mà tôi sẽ không ghi lại ở đây vì chúng chỉ liên quan đến riêng bản thân tôi. |
| He assured me that if I were only patient all would be well in time, and though the relations might build their spiritual wall around my love, her will would at all times draw me through it to her, and nothing could shut out her love from me; no walls could keep that back. | Ông trấn an tôi rằng chỉ cần tôi kiên nhẫn mọi chuyện rồi sẽ ổn thỏa, và mặc dù những người thân có thể dựng lên bức tường tâm linh của họ quanh người tôi yêu, ý chí của nàng sẽ luôn luôn kéo tôi xuyên qua bức tường ấy để đến bên nàng, và không gì có thể chia cắt tình yêu của nàng dành cho tôi; không một bức tường nào có thể ngăn cản điều đó. |
| If I would seek now to learn the things of the spirit, and work to advance myself, the gulf between us would disappear. | Nếu giờ đây tôi chịu tìm kiếm để học hỏi những điều thuộc về tâm linh, và nỗ lực để thăng tiến bản thân, thì vực thẳm giữa chúng tôi sẽ biến mất. |
| Comforted I left him and wandered away again, I knew not where. | Được an ủi, tôi rời xa ông và lại tiếp tục lang thang, không biết mình sẽ đi về đâu. |
| I was now beginning to be dimly conscious that there were other beings like myself flitting about near me in the darkness, though I could scarce see them. | Lúc này tôi bắt đầu lờ mờ nhận thức được rằng có những sinh mệnh khác giống như tôi đang bay lượn lảng vảng quanh tôi trong bóng tối, mặc dù tôi hiếm khi có thể nhìn thấy họ. |
| I was so lost and lonely that I thought of going back to my grave again, as it was the spot most familiar to me, and my thought seemed to take me back, for soon I was there once more. | Tôi cảm thấy quá đỗi lạc lõng và cô đơn đến mức nảy sinh ý nghĩ quay trở lại nấm mồ của mình, vì đó là nơi thân thuộc nhất đối với tôi, và ý nghĩ ấy dường như đã đưa tôi trở lại, vì chẳng bao lâu tôi đã lại có mặt ở đó. |
| The flowers that my love had brought me were faded now. | Những đóa hoa mà người tôi yêu mang đến giờ đã héo úa. |
| She had not been there for two days; since speaking to me she seemed to forget the body that was laid away in the earth, and this to me was well, and I would have had it so. | Nàng đã không đến đây trong suốt hai ngày qua; kể từ khi trò chuyện với tôi, nàng dường như đã quên đi cái thể xác đang nằm lại dưới lòng đất, và đối với tôi như vậy là tốt, và tôi cũng mong muốn như thế. |
| It was well for her to forget the dead body and think only of the living spirit. | Thật tốt khi nàng quên đi cái xác chết kia và chỉ nghĩ về một linh hồn đang sống. |
| Even these withered flowers spoke of her love, and I tried to pick up one, a white rose, to carry away with me. | Ngay cả những đóa hoa tàn úa này cũng nói lên tình yêu của nàng, và tôi đã cố gắng nhặt một bông lên, một bông hồng trắng, để mang đi theo mình. |
| I found I could not lift it, could not move it in the least. My hand passed through it as though it was but the reflection of a rose. | Tôi nhận ra mình không thể nhấc nó lên, không thể làm nó nhúc nhích dù chỉ một chút. Bàn tay tôi xuyên qua nó như thể nó chỉ là hình bóng phản chiếu của một bông hồng. |
| I moved round to where there was a white marble cross at the head of the grave, and I saw there the names of my beloved one’s two brothers. | Tôi vòng qua chỗ có một cây thánh giá bằng đá cẩm thạch trắng ở đầu mộ, và tôi nhìn thấy trên đó khắc tên hai người anh trai của người tôi yêu. |
| Then I knew what she had done in her love for me; she had laid my body to rest beside those she had loved best of all. | Rồi tôi hiểu ra những gì nàng đã làm vì tình yêu dành cho tôi; nàng đã đặt thi hài tôi yên nghỉ bên cạnh những người mà nàng yêu thương nhất trên đời. |
| My heart was so touched that again I wept, and my tears fell like dew upon my heart and melted away its bitterness. | Trái tim tôi vô cùng xúc động đến nỗi tôi lại bật khóc, và những giọt nước mắt rơi xuống như giọt sương đọng trên trái tim tôi và làm tan biến đi sự cay đắng trong đó. |
| I was so lonely that at last I rose and wandered away again amongst other dark wandering shapes, few of whom even turned to look at me; perhaps like myself they scarcely saw. | Tôi quá đỗi đơn độc nên cuối cùng đã đứng dậy và lại lang thang giữa những hình bóng lang thang tăm tối khác, hiếm ai trong số họ thèm quay lại nhìn tôi; có lẽ cũng giống như tôi, họ hầu như chẳng nhìn thấy gì. |
| Presently, however, three dark forms which seemed like two women and a man passed near me, and then turned and followed. | Tuy nhiên, một lát sau, ba bóng đen có vẻ như là hai người phụ nữ và một người đàn ông đi ngang qua tôi, rồi quay lại bám theo. |
| The man touched my arm and said: “Where are you bound for? Surely you are newly come over to this side, or you would not hurry on so; none hurry here because we all know we have eternity to wander in.” | Gã đàn ông chạm vào cánh tay tôi và nói: “Ngươi định đi đâu? Chắc chắn ngươi mới đến thế giới bên này, nếu không ngươi đã chẳng vội vã như vậy; ở đây chẳng ai vội vàng cả bởi vì tất cả chúng ta đều biết mình có cả sự vĩnh hằng để lang thang.” |
| Then he laughed a laugh so cold and harsh in tone it made me shudder. | Rồi gã cười một điệu cười lạnh lẽo và chói tai đến mức khiến tôi rùng mình. |
| One of the women took my arm on one side and one on the other, saying: “Come away with us and we will show you how you may enjoy life even though you are dead! If we have not got bodies to enjoy ourselves through we will borrow them from some mortals for a little. Come with us and we will show you that all pleasure is not ended yet.” | Một trong hai người phụ nữ khoác tay tôi một bên, người kia khoác bên còn lại, lả lơi nói: “Hãy đi cùng chúng ta và chúng ta sẽ cho ngươi thấy làm thế nào để tận hưởng cuộc sống ngay cả khi ngươi đã chết! Nếu chúng ta không có thể xác để thỏa mãn thú vui của mình, chúng ta sẽ mượn tạm chúng từ vài kẻ phàm tục một chút. Đi cùng chúng ta, và chúng ta sẽ cho ngươi thấy mọi lạc thú vẫn chưa kết thúc đâu.” |
| In my loneliness I was glad to have some being to speak to, that although they were all three most repulsive looking—the women to my mind even more so than the man—I felt inclined to let them lead me away and see what would happen, and I had even turned to accompany them when afar off in the dim distance, like a picture traced in light on a black sky, I saw the spirit form of my pure sweet love. | Trong sự cô đơn của mình, tôi đã rất vui khi có kẻ nào đó để trò chuyện, đến mức dù cả ba người bọn họ đều trông vô cùng gớm ghiếc—trong thâm tâm tôi, hai mụ đàn bà kia còn tởm lợm hơn cả gã đàn ông—tôi vẫn cảm thấy muốn để họ dẫn đi để xem chuyện gì sẽ xảy ra, và tôi thậm chí đã quay người định đi cùng họ thì từ đằng xa trong khoảng không mờ ảo, giống như một bức tranh được vẽ bằng ánh sáng trên nền trời đen kịt, tôi nhìn thấy hình bóng linh hồn của tình yêu trong sáng, ngọt ngào của đời tôi. |
| Her eyes were closed as I had seen her in my first vision, but as before her hands were stretched out to me and her voice fell like a voice from heaven on my ears, saying: “Oh! take care! take care! go not with them; they are not good, and their road leads only to destruction.” | Đôi mắt nàng nhắm nghiền như cách tôi đã thấy trong ảo ảnh đầu tiên của mình, nhưng cũng như trước đó, đôi tay nàng dang rộng về phía tôi và giọng nói nàng vang vọng bên tai tôi như giọng nói vọng xuống từ thiên đường: “Ôi! Hãy cẩn thận! Hãy cẩn thận! Đừng đi cùng bọn chúng; chúng không phải là người tốt, và con đường của chúng chỉ dẫn đến sự diệt vong.” |
| Then the vision was gone, and as one waking from a dream I shook those three persons from me and hurried away again in the darkness. | Rồi ảo ảnh vụt tắt, và như một người bừng tỉnh sau cơn mộng mị, tôi giũ ba kẻ đó ra và vội vã bỏ đi vào trong bóng tối. |
| How long and how far I wandered I know not. I kept hurrying on to get away from the memories that haunted me and I seemed to have all space to wander in. | Tôi đã lang thang bao xa và bao lâu, tôi không hề hay biết. Tôi cứ bước đi vội vã để trốn chạy khỏi những ký ức đang ám ảnh mình và tôi dường như có cả một không gian vô tận để lang thang. |
| At last I sat down on the ground to rest—for there seemed to be ground solid enough to rest upon—and while I sat there I saw glimmering through the darkness a light. | Cuối cùng, tôi ngồi xuống mặt đất để nghỉ ngơi—vì dường như có một nền đất vững chãi đủ để tôi có thể tựa vào—và khi đang ngồi đó, tôi nhìn thấy một quầng sáng le lói qua màn đêm. |
| As I drew near it I saw a great haze of light radiating from a room which I could see, but it was so bright it hurt my eyes to look upon it as would looking at the noon-day sun on earth have done. | Khi tiến lại gần, tôi thấy một vầng sáng chói lòa tỏa ra từ một căn phòng mà tôi có thể nhìn thấy, nhưng nó sáng rực đến mức làm đôi mắt tôi đau nhói khi nhìn vào, hệt như khi nhìn thẳng vào mặt trời giữa trưa trên cõi trần vậy. |
| I could not bear it and would have turned away, when a voice said: “Stay, weary wanderer! Here are only kind hearts and helping hands for you. And if you would see your love, come in, for she is here and you may speak with her.” | Tôi không thể chịu đựng nổi và toan quay mặt đi thì một giọng nói cất lên: “Hãy ở lại, hỡi người lữ hành mệt mỏi! Nơi đây chỉ có những trái tim nhân hậu và những bàn tay sẵn sàng giúp đỡ ngươi. Và nếu ngươi muốn gặp lại người mình yêu, hãy bước vào, vì cô ấy đang ở đây và ngươi có thể trò chuyện với cô ấy.” |
| Then I felt a hand—for I could see no one—draw my mantle over my head to shut out the brightness of the light, and then lead me into the room and seat me in a large chair. | Rồi tôi cảm thấy một bàn tay—vì tôi không nhìn thấy ai cả—kéo chiếc áo choàng trùm kín đầu tôi để che đi sự chói chang của ánh sáng, và rồi dẫn tôi vào phòng, đặt tôi ngồi xuống một chiếc ghế bành lớn. |
| I was so weary, so weary, and so glad to rest. And in this room there was such peace, it seemed to me that I had found my way to heaven. | Tôi đã quá mỏi mệt, quá mỏi mệt, và vô cùng nhẹ nhõm khi được nghỉ ngơi. Và trong căn phòng này có một sự bình yên đến lạ thường, khiến tôi ngỡ như mình đã tìm thấy đường lên thiên đàng. |
| After a little I looked up and saw two gentle, kindly women who were like angels to my eyes, and I said to myself, “I have come near to heaven surely?” | Sau một chốc, tôi ngước nhìn lên và thấy hai người phụ nữ dịu dàng, nhân hậu, những người trông hệt như những thiên thần trong mắt tôi, và tôi tự nhủ: “Chắc chắn là mình đã đến gần thiên đàng rồi chăng?” |
| Again I looked, and by this time my eyes seemed strengthened, for beyond those two fair good women—and at first I could scarce believe it, so great was my joy—I saw my beloved herself smiling sadly but tenderly at where I sat. | Tôi nhìn lại, và lúc này đôi mắt tôi dường như đã mạnh mẽ hơn, bởi phía sau hai người phụ nữ tốt bụng, đoan trang kia—và ban đầu tôi hầu như không thể tin nổi, niềm vui sướng trong tôi là quá lớn—tôi đã nhìn thấy chính người tôi yêu đang mỉm cười, một nụ cười u buồn nhưng dịu dàng hướng về phía tôi đang ngồi. |
| She smiled, but I knew she did not really see me; one of the ladies did though, and she was describing me to my darling in a low quiet voice. | Nàng mỉm cười, nhưng tôi biết nàng không thực sự nhìn thấy tôi; dẫu vậy, một trong hai quý bà kia lại nhìn thấy, và bà đang miêu tả tôi cho người thương của tôi nghe bằng một giọng điệu nhỏ nhẹ, điềm tĩnh. |
| My darling seemed so pleased, for it confirmed to her what the man had told her. She had been telling these ladies what a remarkable experience she had had, and how it seemed to her like a strange dream. | Người thương của tôi trông vô cùng mãn nguyện, vì điều đó đã xác nhận lại với nàng những gì người đàn ông kia đã nói. Nàng vừa kể cho hai quý bà này nghe về trải nghiệm phi thường mà nàng đã trải qua, và đối với nàng, nó giống như một giấc mơ kỳ lạ ra sao. |
| I could have cried out to her then that I was truly there, that I still lived, still loved her, and was trusting in her love for me, but I could not move, some spell was over me, some power I could dimly feel was holding me back. | Lúc ấy tôi đã có thể bật khóc gào lên với nàng rằng tôi đang thực sự ở đó, rằng tôi vẫn sống, vẫn yêu nàng, và vẫn đang tin tưởng vào tình yêu của nàng dành cho tôi, nhưng tôi không thể cử động nổi, dường như có một phép thuật nào đó đang ếm lên tôi, một sức mạnh vô hình mà tôi lờ mờ cảm nhận được đang kìm giữ tôi lại. |
| And then those two kind ladies spoke and I knew they were not angels yet, for they were still in their earthly bodies and she could see and speak to them. | Và rồi hai quý bà tốt bụng ấy lên tiếng và tôi biết họ chưa phải là thiên thần, vì họ vẫn đang trong thể xác trần tục của mình và nàng có thể nhìn thấy cũng như trò chuyện cùng họ. |
| They said much of what the kind good man had done, as to the hope there was for sinners like me. | Họ đã nói rất nhiều về những gì mà người đàn ông tốt bụng, hiền từ kia đã làm, về việc có hy vọng cho những kẻ tội lỗi như tôi. |
| The same voice which had bidden me to enter, now asked would I like one of the ladies to write a message for me. | Chính giọng nói đã mời tôi bước vào lúc nãy, giờ đây lại hỏi liệu tôi có muốn một trong hai quý bà viết lại một thông điệp thay tôi không. |
| I said, “Yes! a thousand times yes!” Then I spoke my words and the spirit caused the lady to write them down. | Tôi đáp, “Có! Một ngàn lần có!” Rồi tôi cất lời, và vị linh hồn nọ đã mượn tay quý bà kia để viết chúng xuống. |
| I said to my beloved that I still lived, still loved her. | Tôi nói với người tôi yêu rằng tôi vẫn sống, vẫn yêu nàng. |
| I bid her never to forget me, never to cease to think of me, for I required all her love and help to sustain me—I was ever the same to her though now I was weak and helpless and could not make her see me. | Tôi xin nàng đừng bao giờ quên tôi, đừng bao giờ ngừng nghĩ về tôi, vì tôi cần tất cả tình yêu và sự giúp đỡ của nàng để duy trì sự tồn tại của mình—tôi vẫn mãi là tôi đối với nàng như trước kia dù cho hiện tại tôi vô cùng yếu ớt, bất lực và không thể khiến nàng nhìn thấy mình. |
| And she, ah! she gave me such sweet words in return I cannot write them down; they are too sacred to me, and still rest in my heart for evermore. | Và nàng, a! nàng đã trao lại cho tôi những lời ngọt ngào đến mức tôi không thể viết chúng ra đây; những lời ấy quá đỗi thiêng liêng đối với tôi, và vẫn luôn đọng lại trong trái tim tôi mãi mãi. |
| The period that followed this interview was one of deep sleep for me. | Khoảng thời gian theo sau cuộc gặp gỡ này là một giấc ngủ sâu đối với tôi. |
| I was so exhausted that when I left that room I wandered on a little way and then sank down upon the ground in deep dreamless unconsciousness. | Tôi đã quá kiệt sức đến nỗi khi rời khỏi căn phòng đó, tôi chỉ lang thang được một quãng ngắn rồi gục xuống nền đất trong một sự vô thức sâu thẳm và không mộng mị. |
| What did it matter where I rested when all was as night around me? How long my sleep lasted I know not. | Việc tôi nằm nghỉ ở đâu nào có nghĩa lý gì khi mà mọi thứ quanh tôi đều như màn đêm u tối? Giấc ngủ của tôi kéo dài bao lâu tôi cũng không biết. |
| At that period I had no means of counting time save by the amount of suffering and misery through which I passed. | Vào thời điểm đó, tôi không có cách nào để đong đếm thời gian ngoại trừ bằng mức độ chịu đựng và những đau khổ mà tôi đã trải qua. |
| From my slumbers I awoke refreshed in a measure, and with all my senses stronger in me than before. | Từ trong giấc ngủ sâu, tôi thức dậy với cảm giác sảng khoái hơn đôi chút, và tất cả các giác quan trong tôi dường như mạnh mẽ hơn trước. |
| I could move more rapidly; my limbs felt stronger and freer, and I was now conscious of a desire to eat I had not felt before. | Tôi có thể di chuyển nhanh hơn; tay chân tôi cảm thấy khỏe khoắn và tự do hơn, và giờ đây tôi nhận thức được một cơn thèm ăn mà tôi chưa từng cảm thấy trước đây. |
| My longing grew so great that I went in search of food, and for a long time could find none anywhere. | Cơn đói của tôi ngày một lớn đến mức tôi phải đi tìm thức ăn, và trong một khoảng thời gian dài tôi không thể tìm thấy bất cứ thứ gì ở bất cứ nơi đâu. |
| At last I found what looked like hard dry bread—a few crusts only, but I was glad to eat them, whereupon I felt more satisfied. | Cuối cùng, tôi tìm thấy thứ trông giống như bánh mì khô cứng—chỉ vài mẩu vụn, nhưng tôi vẫn rất vui vẻ ăn chúng, và sau đó tôi cảm thấy no nê hơn. |
| Here I may say that spirits do eat the spiritual counterpart of your food, do feel both hunger and thirst, as keen to them as your appetites are to you on earth, although neither our food nor our drink would be any more visible to your material sight than our spiritual bodies are, and yet for us they possess objective reality. | Ở đây, tôi có thể nói rằng các linh hồn cũng ăn những phiên bản tâm linh tương ứng với thức ăn của các bạn, cũng cảm thấy đói và khát, mãnh liệt như chính nhu cầu ăn uống của các bạn trên cõi trần vậy, mặc dù cả thức ăn lẫn đồ uống của chúng tôi sẽ chẳng hiển hiện trước tầm nhìn vật lý của các bạn nhiều hơn so với cơ thể tâm linh của chúng tôi, thế nhưng đối với chúng tôi, chúng vẫn sở hữu một thực tại khách quan. |
| Had I been a drunkard or a lover of the pleasures of the table in my earthly body I should much sooner have felt the cravings of appetite. | Nếu tôi từng là một gã bợm nhậu hay một kẻ đam mê những thú vui ăn uống trong cái thể xác trần tục của mình, hẳn tôi đã cảm nhận được sự cồn cào của cơn đói sớm hơn nhiều. |
| As it was, nature with me had ever been easily satisfied, and though at first I turned from those dry crusts in disgust a little reflection told me that I had now no way of procuring anything, I was like a beggar and had better content myself with a beggar’s fare. | Thực tế là, bản chất của tôi vốn luôn dễ dàng thỏa mãn, và dù ban đầu tôi đã quay mặt đi trước những mẩu bánh mì khô khốc ấy trong sự ghê tởm, nhưng một chút ngẫm nghĩ lại mách bảo tôi rằng giờ đây tôi chẳng có cách nào để tìm kiếm thứ gì khác, tôi giống như một kẻ ăn mày và tốt hơn hết là nên bằng lòng với khẩu phần của một kẻ ăn mày. |
| My thoughts had now turned to my beloved again, and the thoughts carried my spirit with them, so that I found myself entering once more the room where I had last seen her and the two ladies. | Suy nghĩ của tôi giờ đây lại hướng về người tôi yêu, và những ý nghĩ ấy đã mang linh hồn tôi đi theo, để rồi tôi lại thấy mình bước vào căn phòng nơi tôi đã nhìn thấy nàng và hai quý bà kia lần cuối. |
| This time I seemed to pass in at once, and was received by two spirit men whom I could but very faintly see. | Lần này, dường như tôi có thể đi thẳng vào ngay, và được chào đón bởi hai linh hồn nam giới mà tôi chỉ có thể nhìn thấy rất mờ nhạt. |
| A veil seemed to hang between us, through which I saw those two spirit men, the ladies and my beloved. | Dường như có một bức màn treo giữa chúng tôi, xuyên qua đó tôi nhìn thấy hai linh hồn nam giới nọ, những quý bà và người tôi yêu. |
| I was told that I might again give a message to her through the lady who had written my words before. | Tôi được bảo rằng tôi có thể tiếp tục gửi một thông điệp cho nàng thông qua quý bà đã viết thay lời tôi trước đó. |
| I was so anxious to try if I could not make my darling write down my words herself as I had seen her guardian spirit do, that I was allowed to try. | Tôi đã quá háo hức muốn thử xem liệu mình có thể tự khiến nàng viết lại những lời của mình như cách tôi từng thấy vị thiên thần bản mệnh của nàng làm hay không, đến mức tôi đã được cho phép thử. |
| To my disappointment I found I could not do it; she was deaf to all I said, and I had to give up that idea and let the lady write for me as before. | Trong sự thất vọng não nề, tôi nhận ra mình không thể làm được; nàng hoàn toàn không nghe thấy những gì tôi nói, và tôi đành từ bỏ ý định đó và để quý bà nọ viết thay tôi như trước. |
| After I had given my message I rested for a short time and watched my beloved one’s sweet face, as I had been wont to do in other happier days. | Sau khi gửi xong thông điệp của mình, tôi nghỉ ngơi một lát và ngắm nhìn khuôn mặt ngọt ngào của người tôi yêu, như thói quen của tôi trong những ngày tháng hạnh phúc hơn trước kia. |
| My musings were interrupted by one of those spirit men—a grave, handsome young man he seemed to be so far as I could see him. | Dòng suy tưởng của tôi bị cắt ngang bởi một trong hai linh hồn nam giới đó—một thanh niên mang vẻ mặt trang nghiêm, tuấn tú theo như những gì tôi có thể nhìn thấy. |
| He spoke to me in a quiet kindly voice, and said that if I truly desired to write my own words through my darling herself, it would be well for me to join a brotherhood of penitents who like myself desired to follow out the better way, and with them I should learn many things of which I was yet ignorant, and which would help me to fit myself to control her mind as well as give me the privilege I sought of being with her at times while she dwelt on earth. | Ngài ấy nói với tôi bằng một giọng trầm tĩnh, nhân hậu, bảo rằng nếu tôi thực sự khao khát được tự viết những lời của chính mình thông qua người thương, sẽ tốt hơn nếu tôi gia nhập một huynh đệ đoàn của những người sám hối, những người cũng giống như tôi, khao khát bước theo một con đường tốt đẹp hơn, và với họ, tôi sẽ học được nhiều điều mà tôi vẫn còn vô tri, những điều sẽ giúp tôi trang bị cho bản thân khả năng kiểm soát tâm trí của nàng cũng như mang lại cho tôi cái đặc quyền mà tôi hằng mong muốn là thỉnh thoảng được ở bên cạnh nàng khi nàng vẫn còn sống trên cõi trần. |
| This way of repentance was hard, he said—very hard—the steps many, the toil and suffering great, but it led to a fair and happy land at last where I should rest in happiness such as I could not dream of now. | Con đường sám hối này rất gian nan, ngài nói—vô cùng gian nan—có nhiều bước phải đi, bao nhọc nhằn và đau khổ lớn lao, nhưng cuối cùng nó sẽ dẫn đến một vùng đất tươi đẹp và ngập tràn niềm vui, nơi tôi sẽ được an nghỉ trong thứ hạnh phúc mà tôi không thể nào mơ tới lúc này. |
| He assured me (even as the kind earthly man had done) that my deformed body, which I was still so anxious to hide from my beloved one’s eyes, would change as my spirit changed, till I should be once more fair to look upon, such as she would no longer grieve to see. | Ngài cam đoan với tôi (hệt như người đàn ông tốt bụng trên thế gian đã làm) rằng cơ thể dị dạng của tôi, thứ mà tôi vẫn luôn nóng lòng muốn che giấu khỏi ánh mắt của người mình yêu, sẽ thay đổi khi linh hồn tôi thay đổi, cho đến khi tôi lại một lần nữa mang hình dáng ưa nhìn, một diện mạo mà nàng sẽ không còn đau lòng khi nhìn thấy. |
| Were I to remain upon the earth plane as I now was, I should most likely be drawn back into my former haunts of so-called pleasure, and in that atmosphere of spiritual degradation I should soon lose the power to be near my darling at all. | Nếu tôi cứ tiếp tục ở lại trên cõi trần với bộ dạng như hiện tại, rất có thể tôi sẽ bị lôi kéo trở lại những chốn trụy lạc trước đây vốn được gọi là lạc thú, và trong cái bầu không khí suy đồi tâm linh đó, tôi sẽ sớm mất đi hoàn toàn khả năng được ở gần bên nàng. |
| For her own sake those who guarded her would be obliged to exclude me. | Vì sự an toàn của chính nàng, những người bảo vệ nàng sẽ buộc phải xua đuổi tôi. |
| On the other hand, were I to join this brotherhood (which was one of hope and endeavor), I should be so helped, so strengthened, and so taught, that when in due course my time came to return to the earth plane, I should have acquired a strength and an armor that could resist its temptations. | Mặt khác, nếu tôi gia nhập huynh đệ đoàn này (vốn là một tổ chức của hy vọng và sự nỗ lực), tôi sẽ được trợ giúp, được tiếp thêm sức mạnh, và được dạy bảo đến mức khi thời điểm thích hợp đến để tôi quay lại cõi trần, tôi sẽ có được một sức mạnh và một áo giáp đủ để chống lại những cám dỗ của nó. |
| I listened to the words of this grave, courteous spirit with wonder and a growing desire to know more of this brotherhood of whom he spoke, and begged he would take me to them. | Tôi lắng nghe những lời của vị linh hồn nghiêm nghị, nhã nhặn này trong sự kinh ngạc cùng một khát khao ngày một lớn lao muốn biết thêm về huynh đệ đoàn mà ngài vừa nhắc đến, và cầu xin ngài hãy đưa tôi đến với họ. |
| This he assured me he would do, and he also explained that I should be there of my own free will and choice only. | Ngài trấn an tôi rằng ngài sẽ làm điều đó, và ngài cũng giải thích rằng tôi sẽ chỉ ở đó bằng ý chí và sự lựa chọn tự nguyện của chính mình. |
| Did I desire at any time to leave I could at once do so. | Bất cứ khi nào tôi muốn rời đi, tôi có thể làm thế ngay lập tức. |
| “All are free in the Spirit world,” he said. “All must follow only where their own wishes and desires lead them. If you study to cultivate the higher desires, means will be given you to attain them, and you will be strengthened with such help and strength as you may need.” | “Mọi thứ đều tự do trong thế giới Linh hồn,” ngài nói. “Tất cả chỉ phải đi theo những nơi mà nguyện vọng và ước muốn của chính họ dẫn lối. Nếu ngươi học cách nuôi dưỡng những khao khát cao thượng, ngươi sẽ được trao những phương tiện để đạt được chúng, và ngươi sẽ được tiếp sức bằng những sự giúp đỡ cùng sức mạnh mà ngươi cần.” |
| “You are one who has never learned the power of prayer. You will learn it now, for all things come by earnest prayer, whether you are conscious that you pray or not. For good or for evil your desires are as prayers and call around you good or evil powers to answer them for you.” | “Ngươi là kẻ chưa từng học được sức mạnh của lời cầu nguyện. Giờ đây ngươi sẽ học được nó, vì mọi thứ đều đến từ những lời cầu nguyện chân thành, cho dù ngươi có ý thức được rằng mình đang cầu nguyện hay không. Dù tốt hay xấu, những mong ước của ngươi chính là những lời cầu nguyện và sẽ kêu gọi những thế lực thiện lành hay tà ác vây quanh ngươi để đáp lại chúng cho ngươi.” |
| As I was again growing weary and exhausted, he suggested that I should bid adieu to my darling for a time. | Khi tôi lại bắt đầu trở nên mệt mỏi và kiệt sức, ngài gợi ý rằng tôi nên tạm thời nói lời từ biệt với người thương. |
| He explained that I should gain more strength as well as permit her to do so if I left her for the time I was to remain in this place of which he spoke. | Ngài giải thích rằng tôi sẽ phục hồi lại sức lực, đồng thời cũng giúp nàng làm được điều tương tự, nếu tôi rời xa nàng trong khoảng thời gian tôi lưu lại cái nơi mà ngài vừa nói đến. |
| It would also be well that she should not try to write for three months, as her mediumistic powers had been greatly tried, and if she did not rest them her health would be much impaired, while I would require all that time to learn even the simple lessons needful before I could control her. | Sẽ tốt hơn nếu nàng không cố gắng viết thêm nữa trong vòng ba tháng, vì năng lực ngoại cảm của nàng đã bị thử thách quá mức, và nếu nàng không để chúng nghỉ ngơi, sức khỏe của nàng sẽ bị tổn hại nghiêm trọng, trong khi tôi cũng sẽ cần ngần ấy thời gian để học ngay cả những bài học đơn giản nhất cần thiết trước khi tôi có thể điều khiển được nàng. |
| Ah! me, how hard it seemed to us both to make this promise, but she set me the example, and I could but follow it. | A! tôi ơi, việc đưa ra lời hứa này dường như mới khó khăn làm sao đối với cả hai chúng tôi, nhưng nàng đã làm gương cho tôi, và tôi không có lựa chọn nào khác ngoài việc noi theo. |
| If she would try to be strong and patient so should I, and I registered a vow that if the God I had so long forgotten would remember and pardon me now, I would give all my life and all my powers to undo the wrongs that I had done; | Nếu nàng đã cố gắng mạnh mẽ và kiên nhẫn thì tôi cũng phải như vậy, và tôi đã lập một lời thề rằng nếu Thượng Đế mà tôi đã lãng quên bấy lâu nay giờ đây vẫn còn nhớ đến và thứ tha cho tôi, tôi sẽ cống hiến toàn bộ phần đời còn lại cùng tất thảy sức mạnh của mình để vãn hồi những sai trái mà tôi đã gây ra; |
| and so it was that I left for a time the troubled earth plane of the spirit world of which I had as yet seen so little, but in which I was yet to see and suffer so much. | và thế là tôi tạm rời xa cõi trần đầy rẫy những phiền muộn của thế giới tâm linh mà tôi mới chỉ chứng kiến được một phần nhỏ bé, nhưng lại là nơi tôi sẽ còn phải nhìn thấy và gánh chịu quá nhiều đau khổ. |
| As I left the room to go with my new guide I turned to my love and waved my hand in farewell, and asked that the good angels and the God I dare not pray to for myself might bless her and keep her safe for evermore, | Khi tôi rời khỏi căn phòng để đi theo người dẫn đường mới của mình, tôi quay lại nhìn người tôi yêu và vẫy tay từ biệt, và cầu xin những thiên thần nhân hậu cùng vị Thượng Đế mà tôi không dám cầu nguyện cho chính mình, xin hãy ban phước và giữ cho nàng được bình an mãi mãi, |
| and the last thing I saw was her tender eyes following me with that look of love and hope which was to sustain me through many a weary, painful hour. | và hình ảnh cuối cùng tôi nhìn thấy là ánh mắt dịu dàng của nàng đang dõi theo tôi với cái nhìn tràn ngập tình yêu và hy vọng, thứ sẽ nâng đỡ tôi vượt qua biết bao những giấy phút đớn đau, mỏi mệt. |
Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa.