31 – Andras Baive

Andras Baive Andras Baive
Once upon a time there lived in Lapland a man who was so very strong and swift of foot that nobody in his native town of Vadso could come near him if they were running races in the summer evenings. Ngày xửa ngày xưa, tại vùng đất Lapland, có một người đàn ông khỏe mạnh và nhanh nhẹn đến mức ở quê nhà Vadso của anh, không ai có thể đuổi kịp nếu họ đọ sức chạy thi vào những buổi chiều hè.
The people of Vadso were very proud of their champion, and thought that there was no one like him in the world, till, by-and-by, it came to their ears that there dwelt among the mountains a Lapp, Andras Baive by name, who was said by his friends to be even stronger and swifter than the bailiff. Người dân Vadso vô cùng tự hào về nhà vô địch của mình và ngỡ rằng trên thế gian này chẳng có ai sánh được với anh, mãi cho đến khi họ nghe phong thanh rằng, sống giữa vùng núi non kia có một người tộc Lapp tên là Andras Baive, kẻ được bạn bè đồn đại là còn khỏe hơn và nhanh hơn cả viên quan bảo an trong vùng.
Of course not a creature in Vadso believed that, and declared that if it made the mountaineers happier to talk such nonsense, why, let them! Dĩ nhiên, chẳng có lấy một ai ở Vadso tin vào điều đó, họ quả quyết rằng nếu chuyện tào lao ấy làm đám người miền núi thấy vui hơn thì cứ kệ thây họ!
The winter was long and cold, and the thoughts of the villagers were much busier with wolves than with Andras Baive, when suddenly, on a frosty day, he made his appearance in the little town of Vadso. Mùa đông dài và lạnh lẽo trôi qua, tâm trí dân làng bận lo đối phó với bầy sói hơn là bận tâm về Andras Baive, thì bỗng nhiên, vào một ngày sương giá, anh ta xuất hiện ngay tại thị trấn nhỏ Vadso.
The bailiff was delighted at this chance of trying his strength, and at once went out to seek Andras and to coax him into giving proof of his vigour. Viên quan vô cùng mừng rỡ khi có cơ hội thử sức, liền đi tìm Andras ngay lập tức để dụ anh ta trổ tài chứng tỏ sức mạnh.
As he walked along his eyes fell upon a big eight-oared boat that lay upon the shore, and his face shone with pleasure. Đang đi, mắt viên quan chợt va phải một chiếc thuyền lớn loại tám mái chèo đang nằm trên bờ, và khuôn mặt ông ta sáng bừng lên thích thú.
‘That is the very thing,’ laughed he, ‘I will make him jump over that boat.’ “Chính là cái này đây,” ông ta cười lớn, “ta sẽ bắt hắn nhảy qua cái thuyền này.”
Andras was quite ready to accept the challenge, and they soon settled the terms of the wager. Andras tỏ ra rất sẵn lòng chấp nhận lời thách đấu, và họ nhanh chóng thống nhất các điều khoản cá cược.
He who could jump over the boat without so much as touching it with his heel was to be the winner, and would get a large sum of money as the prize. Người nào có thể nhảy qua chiếc thuyềngót chân không hề chạm vào nó sẽ là người chiến thắng và nhận được một khoản tiền lớn làm phần thưởng.
So, followed by many of the villagers, the two men walked down to the sea. Thế là, trước sự theo sau của đông đảo dân làng, hai người đàn ông cùng đi xuống bờ biển.
An old fisherman was chosen to stand near the boat to watch fair play, and to hold the stakes, and Andras, as the stranger was told to jump first. Một lão ngư dân được chọn đứng gần chiếc thuyền để giám sát cho công bằng và giữ tiền cược, còn Andras, vì là khách lạ, được mời nhảy trước.
Going back to the flag which had been stuck into the sand to mark the starting place, he ran forward, with his head well thrown back, and cleared the boat with a mighty bound. Lùi lại phía lá cờ cắm trên cát làm vạch xuất phát, anh lấy đà chạy tới, đầu ngẩng cao kiêu hãnh và nhảy vọt qua chiếc thuyền bằng một cú bật mạnh mẽ.
The lookers-on cheered him, and indeed he well deserve it; but they waited anxiously all the same to see what the bailiff would do. Những người chứng kiến reo hò cổ vũ, và quả thực anh xứng đáng với điều đó; nhưng họ vẫn hồi hộp chờ xem viên quan sẽ làm gì.
On he came, taller than Andras by several inches, but heavier of build. Ông ta bước tới, cao hơn Andras vài tấc nhưng thân hình lại nặng nề hơn.
He too sprang high and well, but as he came down his heel just grazed the edge of the boat. Ông ta cũng bật nhảy rất cao và đẹp mắt, nhưng khi tiếp đất, gót chân ông ta lại quẹt nhẹ vào mạn thuyền.
Dead silence reigned amidst the townsfolk, but Andras only laughed and said carelessly: Sự im lặng chết chóc bao trùm đám đông dân thị trấn, nhưng Andras chỉ cười và nói một cách thản nhiên:
‘Just a little too short, bailiff; next time you must do better than that.’ “Hơi ngắn một chút rồi, quan lớn ạ; lần sau ngài phải làm tốt hơn thế nhé.”
The bailiff turned red with anger at his rival’s scornful words, and answered quickly: ‘Next time you will have something harder to do.’ Viên quan đỏ mặt tía tai vì giận dữ trước những lời lẽ khinh khỉnh của đối thủ, liền đáp trả nhanh chóng: “Lần sau ngươi sẽ phải làm một việc khó hơn nhiều.”
And turning his back on his friends, he went sulkily home. Rồi quay lưng lại với bạn bè, ông ta hậm hực đi về nhà.
Andras, putting the money he had earned in his pocket, went home also. Andras cũng bỏ tiền thắng cược vào túi rồi trở về.
The following spring Andras happened to be driving his reindeer along a great fiord to the west of Vadso. Mùa xuân năm sau, Andras tình cờ lùa đàn tuần lộc đi dọc theo một vịnh hẹp lớn ở phía tây Vadso.
A boy who had met him hastened to tell the bailiff that his enemy was only a few miles off; and the bailiff, disguising himself as a Stalo, or ogre, called his son and his dog and rowed away across the fiord to the place where the boy had met Andras. Một cậu bé gặp anh đã vội vàng chạy đi báo cho viên quan biết rằng kẻ thù của ông ta chỉ còn cách đó vài dặm; và viên quan, liền cải trang thành một Stalo – tức là một loài quỷ ăn thịt người, gọi con trai và con chó của mình, chèo thuyền qua vịnh hẹp đến nơi cậu bé đã gặp Andras.
Now the mountaineer was lazily walking along the sands, thinking of the new hut that he was building with the money that he had won on the day of his lucky jump. Lúc bấy giờ, chàng trai miền núi đang thong dong tản bộ dọc bãi cát, tâm trí mải nghĩ về ngôi nhà mới mà anh đang xây bằng số tiền thắng được từ cú nhảy may mắn hôm nào.
He wandered on, his eyes fixed on the sands, so that he did not see the bailiff drive his boat behind a rock, while he changed himself into a heap of wreckage which floated in on the waves. Anh cứ lang thang mãi, mắt dán xuống bãi cát, nên chẳng hề hay biết viên quan đã lái thuyền nấp sau một tảng đá, trong khi ông ta tự biến mình thành một đống gỗ vụn trôi dạt dập dềnh trên sóng nước.
A stumble over a stone recalled Andras to himself, and looking up he beheld the mass of wreckage. Một cú vấp chân vào đá khiến Andras bừng tỉnh, ngước nhìn lên, anh thấy một đống gỗ trôi dạt.
‘Dear me! I may find some use for that,’ he said; and hastened down to the sea, waiting till he could lay hold of some stray rope which might float towards him. “Ôi chà! Có thể mình sẽ dùng được thứ này đây,” anh nói rồi vội vã chạy xuống biển, chờ vớt lấy bất cứ sợi dây thừng nào trôi về phía mình.
Suddenly—he could not have told why—a nameless fear seized upon him, and he fled away from the shore as if for his life. Bất chợt—chẳng hiểu vì sao—một nỗi sợ hãi vô hình xâm chiếm lấy anh, và anh bỏ chạy khỏi bờ biển như thể chạy trốn thần chết.
As he ran he heard the sound of a pipe, such as only ogres of the Stalo kind were wont to use; and there flashed into his mind what the bailiff had said when they jumped the boat: ‘Next time you will have something harder to do.’ Vừa chạy, anh vừa nghe thấy tiếng sáo, thứ âm thanh mà chỉ có loài quỷ Stalo mới hay dùng; và rồi trong tâm trí anh lóe lên lời viên quan đã nói hôm thi nhảy qua thuyền: “Lần sau ngươi sẽ phải làm một việc khó hơn nhiều.”
So it was no wreckage after all that he had seen, but the bailiff himself. Hóa ra, thứ anh vừa thấy chẳng phải là gỗ vụn gì cả, mà chính là viên quan đó thôi.
It happened that in the long summer nights up in the mountain, where the sun never set, and it was very difficult to get to sleep, Andras had spent many hours in the study of magic, and this stood him in good stead now. Số là, trong những đêm hè dài đằng đẵng trên núi cao, nơi mặt trời không bao giờ lặn và rất khó để chợp mắt, Andras đã dành nhiều giờ để học phép thuật, và điều này giờ đây đã giúp ích cho anh rất nhiều.
The instant he heard the Stalo music he wished himself to become the feet of a reindeer, and in this guise he galloped like the wind for several miles. Ngay khi nghe tiếng nhạc của quỷ Stalo, anh ước mình có được đôi chân của loài tuần lộc, và trong hình hài ấy, anh phi nhanh như gió suốt mấy dặm đường.
Then he stopped to take breath and find out what his enemy was doing. Sau đó, anh dừng lại lấy hơi và nghe ngóng xem kẻ thù đang làm gì.
Nothing he could see, but to his ears the notes of a pipe floated over the plain, and ever, as he listened, it drew nearer. Mắt anh chẳng thấy gì, nhưng tai anh vẫn nghe thấy tiếng sáo lơ lửng trôi trên bình nguyên, và càng nghe, nó càng tiến lại gần hơn.
A cold shiver shook Andras, and this time he wished himself the feet of a reindeer calf. Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng Andras, và lần này anh ước mình có đôi chân của một chú bê tuần lộc.
For when a reindeer calf has reached the age at which he begins first to lose his hair he is so swift that neither beast nor bird can come near him. Bởi vì khi một chú bê tuần lộc đến độ tuổi bắt đầu rụng lớp lông tơ, nó nhanh đến mức không một loài thú hay loài chim nào có thể đuổi kịp.
A reindeer calf is the swiftest of all things living. Bê tuần lộc là sinh vật nhanh nhất trong các loài.
Yes; but not so swift as a Stalo, as Andras found out when he stopped to rest, and heard the pipe playing! Đúng vậy; nhưng vẫn không nhanh bằng một con Stalo, điều mà Andras nhận ra khi anh dừng lại nghỉ và lại nghe thấy tiếng sáo đang trổi lên!
For a moment his heart sank, and he gave himself up for dead, till he remembered that, not far off, were two little lakes joined together by a short though very broad river. Trong giây lát, tim anh thắt lại, anh ngỡ mình cầm chắc cái chết, cho đến khi anh nhớ ra rằng cách đó không xa có hai hồ nước nhỏ nối với nhau bằng một con sông ngắn nhưng rất rộng.
In the middle of the river lay a stone that was always covered by water, except in dry seasons, and as the winter rains had been very heavy, he felt quite sure that not even the top of it could be seen. Giữa dòng sông có một tảng đá luôn nằm chìm dưới nước, ngoại trừ vào mùa khô, và vì những cơn mưa mùa đông vừa qua rất lớn, anh tin chắc rằng ngay cả đỉnh của tảng đá cũng không thể nhìn thấy được.
The next minute, if anyone had been looking that way, he would have beheld a small reindeer calf speeding northwards, and by-and-by giving a great spring, which landed him in the midst of the stream. Phút tiếp theo, nếu có ai nhìn về hướng đó, họ sẽ thấy một chú bê tuần lộc nhỏ đang lao nhanh về phía bắc, rồi bất ngờ tung một cú nhảy cực lớn, đáp xuống ngay giữa dòng sông.
But, instead of sinking to the bottom, he paused a second to steady himself, then gave a second spring which landed him on the further shore. Nhưng thay vì chìm xuống đáy, chú bê dừng lại một giây để giữ thăng bằng, rồi tung cú nhảy thứ hai đáp xuống bờ bên kia.
He next ran on to a little hill where he sat down and began to neigh loudly, so that the Stalo might know exactly where he was. Sau đó, anh chạy lên một ngọn đồi nhỏ, ngồi xuống và bắt đầu cất tiếng hí vang để tên Stalo biết chính xác anh đang ở đâu.
‘Ah! There you are,’ cried the Stalo, appearing on the opposite bank; ‘for a moment I really thought I had lost you.’ “À! Ngươi đây rồi,” tên Stalo kêu lên, xuất hiện ở bờ đối diện; “có lúc ta thực sự tưởng đã để mất dấu ngươi rồi đấy.”
‘No such luck,’ answered Andras, shaking his head sorrowfully. By this time he had taken his own shape again. “Đâu có may mắn thế,” Andras trả lời, lắc đầu buồn bã, lúc này anh đã trở lại hình dáng con người của mình.
‘Well, but I don’t see how I am to get to you!’ said the Stalo, looking up and down. “Chà, nhưng ta không biết làm sao để qua chỗ ngươi đây!” tên Stalo nói, nhìn ngược nhìn xuôi dòng sông.
‘Jump over, as I did,’ answered Andras; ‘it is quite easy.’ “Nhảy qua đi, như ta đã làm ấy,” Andras đáp, “dễ ợt mà.”
‘But I could not jump this river; and I don’t know how you did,’ replied the Stalo. “Nhưng ta không nhảy qua con sông này được; và ta cũng chẳng hiểu sao ngươi làm được,” tên Stalo đáp lại.
‘I should be ashamed to say such things,’ exclaimed Andras. ‘Do you mean to tell me that a jump, which the weakest Lapp boy would make nothing of, is beyond your strength?’ “Ta mà là ngài thì ta xấu hổ lắm khi nói ra những lời đó,” Andras thốt lên. “Ngài định nói với ta rằng một cú nhảy mà ngay cả đứa trẻ yếu ớt nhất tộc Lapp cũng coi là chuyện nhỏ, lại vượt quá sức ngài sao?”
The Stalo grew red and angry when he heard these words, just as Andras meant him to do. Tên Stalo đỏ mặt tía tai giận dữ khi nghe những lời khích bác ấy, đúng như ý đồ của Andras.
He bounded into the air and fell straight into the river. Hắn tung người lên không trung và rơi tòm thẳng xuống sông.
Not that that would have mattered, for he was a good swimmer; but Andras drew out the bow and arrows which every Lapp carries, and took aim at him. Thực ra điều đó chẳng nhằm nhò gì, vì hắn là một tay bơi lội cự phách; nhưng Andras đã rút sẵn cây cung và những mũi tên mà người Lapp nào cũng mang theo, rồi nhắm bắn vào hắn.
His aim was good, but the Stalo sprang so high into the air that the arrow flew between his feet. Đường ngắm rất chuẩn, nhưng tên Stalo nhảy vọt lên khỏi mặt nước cao đến mức mũi tên bay qua giữa hai chân hắn.
A second shot, directed at his forehead, fared no better, for this time the Stalo jumped so high to the other side that the arrow passed between his finger and thumb. Mũi tên thứ hai, nhắm thẳng vào trán hắn, cũng chẳng khá hơn, vì lần này tên Stalo nhảy sang phía bên kia cao đến nỗi mũi tên lọt qua giữa ngón cái và ngón trỏ của hắn.
Then Andras aimed his third arrow a little over the Stalo’s head, and when he sprang up, just an instant too soon, it hit him between the ribs. Thế rồi Andras nhắm mũi tên thứ ba cao hơn đầu tên Stalo một chút, và khi hắn nhảy lên đón đỡ, nhanh hơn một tích tắc, mũi tên đã găm phập vào giữa sườn hắn.
Mortally wounded as he was, the Stalo was not yet dead, and managed to swim to the shore. bị thương chí mạng, tên Stalo vẫn chưa chết hẳn và cố bơi vào bờ.
Stretching himself on the sand, he said slowly to Andras: ‘Promise that you will give me an honourable burial, and when my body is laid in the grave go in my boat across the fiord, and take whatever you find in my house which belongs to me. My dog you must kill, but spare my son, Andras.’ Nằm dài trên cát, hắn thều thào nói với Andras: “Hãy hứa rằng ngươi sẽ chôn cất ta tử tế, và khi thân xác ta đã nằm yên trong mộ, hãy lấy thuyền của ta đi qua vịnh hẹp và lấy bất cứ thứ gì thuộc về ta mà ngươi tìm thấy trong nhà. Ngươi phải giết con chó của ta, nhưng hãy tha mạng cho con trai ta, Andras nhé.”
Then he died; and Andras sailed in his boat away across the fiord and found the dog and boy. Nói xong thì hắn chết; Andras chèo thuyền của hắn vượt qua vịnh hẹp và tìm thấy con chó cùng đứa bé.
The dog, a fierce, wicked-looking creature, he slew with one blow from his fist, for it is well known that if a Stalo’s dog licks the blood that flows from his dead master’s wounds the Stalo comes to life again. Con chó, một sinh vật trông hung dữ và độc ác, bị anh đấm một phát chết tươi, vì ai cũng biết rằng nếu chó của một Stalo liếm máu chảy ra từ vết thương của chủ, tên Stalo sẽ sống lại.
That is why no REAL Stalo is ever seen without his dog; but the bailiff, being only half a Stalo, had forgotten him, when he went to the little lakes in search of Andras. Đó là lý do tại sao không một Stalo THỰC THỤ nào lại xuất hiện mà thiếu con chó của mình; nhưng viên quan, vì chỉ là một nửa Stalo, nên đã bỏ quên nó khi đi đến vùng hồ tìm Andras.
Next, Andras put all the gold and jewels which he found in the boat into his pockets, and bidding the boy get in, pushed it off from the shore, leaving the little craft to drift as it would, while he himself ran home. Sau đó, Andras nhét tất cả vàng bạc châu báu tìm thấy trong thuyền vào túi, bảo cậu bé bước vào, rồi đẩy chiếc thuyền ra xa bờ, mặc cho con thuyền nhỏ trôi dạt tùy ý, còn bản thân anh thì chạy bộ về nhà.
With the treasure he possessed he was able to buy a great herd of reindeer; and he soon married a rich wife, whose parents would not have him as a son-in-law when he was poor, and the two lived happy for ever after. Với kho báu sở hữu được, anh đã mua một đàn tuần lộc lớn; và chẳng bao lâu sau, anh cưới một cô vợ giàu có, người mà cha mẹ cô trước đây từng không chịu nhận anh làm con rể khi anh còn nghèo khó, và hai người họ sống hạnh phúc bên nhau mãi mãi.
[From Lapplandische Mahrchen, J. C. Poestion.] [Trích từ Lapplandische Mahrchen, J. C. Poestion.]
Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa.