| KUPTI AND IMANI | KUPTI VÀ IMANI |
|---|---|
| Once there was a king who had two daughters; and their names were Kupti and Imani. | Ngày xửa ngày xưa, có một vị vua sinh được hai cô con gái, tên là Kupti và Imani. |
| He loved them both very much, and spent hours in talking to them, and one day he said to Kupti, the elder: | Ông yêu thương cả hai cô hết mực và thường dành hàng giờ để trò chuyện cùng các con, cho đến một hôm, ông hỏi Kupti, cô chị cả: |
| ‘Are you satisfied to leave your life and fortune in my hands?’ | “Con có bằng lòng phó mặc cuộc đời và vận mệnh của mình vào tay cha không?” |
| ‘Verily yes,’ answered the princess, surprised at the question. | “Dạ chắc chắn là có rồi,” nàng công chúa ngạc nhiên trả lời. |
| ‘In whose hands should I leave them, if not in yours?’ | “Con không phó mặc vào tay cha thì còn biết trông cậy vào ai?” |
| But when he asked his younger daughter Imani the same question, she replied: | Nhưng khi nhà vua hỏi cô con gái út Imani cùng một câu hỏi ấy, nàng đáp: |
| ‘No, indeed! If I had the chance I would make my own fortune.’ | “Thưa không, thật sự là không! Nếu có cơ hội, con muốn tự tay tạo dựng vận mệnh của chính mình.” |
| At this answer the king was very displeased, and said: | Nghe câu trả lời này, nhà vua tỏ ý rất không hài lòng và phán: |
| ‘You are too young to know the meaning of your words. | “Con còn quá trẻ để hiểu hết ý nghĩa những lời mình nói. |
| But, be it so; I will give you the chance of gratifying your wish.’ | Nhưng được thôi, nếu đã vậy, ta sẽ cho con cơ hội để thỏa mãn ước nguyện đó.” |
| Then he sent for an old lame fakir who lived in a tumbledown hut on the outskirts of the city, and when he had presented himself, the king said: | Sau đó, vua cho gọi một ông lão tu sĩ già nua, què quặt sống trong một túp lều xiêu vẹo ở ngoại ô thành phố đến, và khi ông lão tới diện kiến, nhà vua bảo: |
| ‘No doubt, as you are very old and nearly crippled, you would be glad of some young person to live with you and serve you; so I will send you my younger daughter. | “Hẳn là, vì ông đã già yếu và chân tay lại què quặt, ông sẽ rất vui lòng nếu có một người trẻ tuổi về sống cùng để phụng dưỡng; vì thế, ta sẽ gửi con gái út của ta đi theo ông. |
| She wants to earn her living, and she can do so with you.’ | Nó muốn tự kiếm sống, và nó có thể thực hiện điều đó khi ở cùng ông.” |
| Of course the old fakir had not a word to say, or, if he had, he was really too astonished and troubled to say it; but the young princess went off with him smiling, and tripped along quite gaily, whilst he hobbled home with her in perplexed silence. | Lẽ dĩ nhiên, ông lão tu sĩ chẳng dám hó hé nửa lời, hoặc giả là ông quá kinh ngạc và bối rối đến mức không nói nên lời; nhưng nàng công chúa trẻ vẫn mỉm cười đi theo ông, bước chân sải bước vui vẻ, trong khi ông lão tập tễnh bước về nhà với sự im lặng đầy băn khoăn. |
| Directly they got to the hut the fakir began to think what he could arrange for the princess’s comfort; but after all he was a fakir, and his house was bare except for one bedstead, two old cooking pots and an earthen jar for water, and one cannot get much comfort out of those things. | Ngay khi họ về đến túp lều, ông lão bắt đầu suy tính xem làm thế nào để lo liệu cho công chúa được thoải mái; nhưng xét cho cùng ông chỉ là một tu sĩ nghèo, nhà chẳng có gì ngoài một chõng tre, hai cái nồi nấu ăn cũ kỹ và một bình gốm đựng nước, mà những thứ đó thì chẳng thể mang lại chút tiện nghi nào. |
| However, the princess soon ended his perplexity by asking: | Tuy nhiên, công chúa đã sớm dập tắt nỗi băn khoăn của ông bằng câu hỏi: |
| ‘Have you any money?’ | “Ông có đồng tiền nào không?” |
| ‘I have a penny somewhere,’ replied the fakir. | “Ta có một đồng xu đâu đó quanh đây,” ông lão đáp. |
| ‘Very well,’ rejoined the princess, ‘give me the penny and go out and borrow me a spinning-wheel and a loom.’ | “Tốt lắm,” công chúa đáp lời, “hãy đưa con đồng xu đó và đi mượn giúp con một guồng quay tơ cùng một khung cửi nhé.” |
| After much seeking the fakir found the penny and started on his errand, whilst the princess went off shopping. | Sau một hồi tìm kiếm, ông lão cũng thấy đồng xu và lên đường làm việc được nhờ, trong khi công chúa đi mua sắm. |
| First she bought a farthing’s worth of oil, and then she bought three farthings’ worth of flax. | Trước hết nàng mua một ít dầu trị giá một phần tư xu, rồi nàng mua một ít sợi lanh với ba phần tư xu còn lại. |
| When she got back with her purchases she set the old man on the bedstead and rubbed his crippled leg with the oil for an hour. | Khi trở về với những món đồ đã mua, nàng để ông lão ngồi lên chõng tre và xoa bóp cái chân què của ông bằng dầu suốt cả tiếng đồng hồ. |
| Then she sat down to the spinning-wheel and spun and spun all night long whilst the old man slept, until, in the morning, she had spun the finest thread that ever was seen. | Sau đó, nàng ngồi bên guồng quay tơ và miệt mài quay sợi suốt đêm trong khi ông lão ngủ say, cho đến khi trời sáng, nàng đã quay được những sợi tơ mảnh mai nhất trần đời. |
| Next she went to the loom and wove and wove until by the evening she had woven a beautiful silver cloth. | Tiếp đó, nàng ngồi vào khung cửi, dệt mãi, dệt mãi cho đến chiều tối thì làm xong một tấm vải bạc tuyệt đẹp. |
| ‘Now,’ said she to the fakir, ‘go into the market-place and sell my cloth whilst I rest.’ | “Bây giờ,” nàng bảo ông lão, “ông hãy mang ra chợ bán tấm vải này trong lúc con nghỉ ngơi một chút.” |
| ‘And what am I to ask for it?’ said the old man. | “Thế ta phải bán với giá bao nhiêu?” ông lão hỏi. |
| ‘Two gold pieces,’ replied the princess. | “Hai đồng vàng,” công chúa đáp. |
| So the fakir hobbled away, and stood in the market-place to sell the cloth. | Thế là ông lão khập khiễng bước đi, đứng ở chợ để bán tấm vải. |
| Presently the elder princess drove by, and when she saw the cloth she stopped and asked the price. | Một lát sau, cô công chúa chị cả đi xe ngựa ngang qua, nhìn thấy tấm vải đẹp liền dừng lại hỏi giá. |
| ‘Two gold pieces,’ said the fakir. | “Hai đồng vàng,” ông lão đáp. |
| And the princess gladly paid them, after which the old fakir hobbled home with the money. | Và nàng công chúa vui vẻ trả tiền, sau đó ông lão tu sĩ lại khập khiễng mang tiền về nhà. |
| As she had done before so Imani did again day after day. | Imani cứ làm như thế ngày này qua ngày khác. |
| Always she spent a penny upon oil and flax, always she tended the old man’s lame limb, and spun and wove the most beautiful cloths and sold them at high prices. | Lúc nào nàng cũng dành một ít tiền lẻ mua dầu và lanh, luôn chăm sóc cái chân què của ông lão, rồi quay tơ dệt nên những tấm vải tuyệt mỹ và bán chúng với giá cao. |
| Gradually the city became famous for her beautiful stuffs, the old fakir’s lame leg became straighter and stronger, and the hole under the floor of the hut where they kept their money became fuller and fuller of gold pieces. | Dần dà, cả thành phố trở nên nổi tiếng nhờ những thước vải tuyệt đẹp của nàng, cái chân đau của ông lão tu sĩ ngày càng thẳng ra và khỏe hơn, và cái hố dưới sàn lều nơi họ cất tiền ngày càng đầy ắp những đồng vàng. |
| At last, one day, the princess said: | Cuối cùng, một ngày nọ, công chúa bảo: |
| ‘I really think we have got enough to live in greater comfort.’ | “Con nghĩ chúng ta đã có đủ tiền để sống sung túc hơn rồi.” |
| And she sent for builders, and they built a beautiful house for her and the old fakir, and in all the city there was none finer except the king’s palace. | Thế là nàng cho gọi thợ xây đến, dựng lên một ngôi nhà lộng lẫy cho nàng và ông lão, trong khắp thành phố chẳng có ngôi nhà nào đẹp hơn, ngoại trừ cung điện của nhà vua. |
| Presently this reached the ears of the king, and when he inquired whose it was they told him that it belonged to his daughter. | Chẳng bao lâu tin này đến tai vua, và khi ngài hỏi chủ nhân ngôi nhà là ai, người ta tâu rằng đó là nhà của con gái ngài. |
| ‘Well,’ exclaimed the king, ‘she said that she would make her own fortune, and somehow or other she seems to have done it!’ | “Chà,” nhà vua thốt lên, “nó đã nói là sẽ tự tạo dựng cơ nghiệp, và bằng cách này hay cách khác, có vẻ như nó đã làm được thật!” |
| A little while after this, business took the king to another country, and before he went he asked his elder daughter what she would like him to bring her back as a gift. | Ít lâu sau, nhà vua có việc kinh doanh phải sang nước khác, trước khi đi, ngài hỏi cô con gái lớn xem muốn ngài mang quà gì về. |
| ‘A necklace of rubies,’ answered she. | “Một chiếc vòng cổ hồng ngọc ạ,” cô trả lời. |
| And then the king thought he would like to ask Imani too; so he sent a messenger to find out what sort of a present she wanted. | Sau đó, vua nghĩ mình cũng nên hỏi cả Imani nữa; thế là ngài sai một người lính đi hỏi xem nàng muốn quà gì. |
| The man happened to arrive just as she was trying to disentangle a knot in her loom, and bowing low before her, he said: | Người lính đến đúng lúc nàng đang cố gỡ một nút thắt trên khung cửi, hắn cúi rạp người trước nàng và nói: |
| ‘The king sends me to inquire what you wish him to bring you as a present from the country of Dûr?’ | “Nhà vua sai tôi đến hỏi xem công chúa muốn ngài mang tặng vật gì về từ xứ Dûr?” |
| But Imani, who was only considering how she could best untie the knot without breaking the thread, replied: | Nhưng Imani, lúc đó chỉ mải suy tính làm sao gỡ được nút thắt mà không làm đứt sợi chỉ, bèn buột miệng đáp: |
| ‘Patience!’ meaning that the messenger should wait till she was able to attend to him. | “Kiên nhẫn!” ý bảo người lính hãy đợi cho đến khi nàng có thể tiếp chuyện hắn. |
| But the messenger went off with this as an answer, and told the king that the only thing the princess Imani wanted was ‘patience.’ | Nhưng người lính lại tưởng đó là câu trả lời rồi bỏ đi, về tâu với vua rằng thứ duy nhất công chúa Imani muốn là “sự kiên nhẫn“. |
| ‘Oh!’ said the king, ‘I don’t know whether that’s a thing to be bought at Dûr; I never had it myself, but if it is to be got I will buy it for her.’ | “Ồ!” nhà vua nói, “Ta không biết liệu ở xứ Dûr có bán thứ đó không nữa; bản thân ta cũng chưa bao giờ có nó, nhưng nếu kiếm được thì ta sẽ mua cho nó.” |
| Next day the king departed on his journey, and when his business at Dûr was completed he bought for Kupti a beautiful ruby necklace. | Hôm sau, nhà vua lên đường, và khi xong việc ở Dûr, ngài mua cho Kupti một chiếc vòng cổ hồng ngọc tuyệt đẹp. |
| Then he said to a servant: | Rồi ngài bảo một tên gia nhân: |
| ‘The princess Imani wants some patience. I did not know there was such a thing, but you must go to the market and inquire, and if any is to be sold, get it and bring it to me.’ | “Công chúa Imani muốn một ít sự kiên nhẫn. Ta không biết có thứ đó trên đời không, nhưng người hãy ra chợ hỏi xem, nếu ai có bán thì mua mang về cho ta.” |
| The servant saluted and left the king’s presence. | Tên gia nhân chào vua rồi đi. |
| He walked about the market for some time crying: ‘Has anyone patience to sell? patience to sell?’ | Hắn đi quanh chợ một hồi lâu, rao lớn: “Có ai bán kiên nhẫn không? Có ai bán kiên nhẫn không?” |
| And some of the people mocked, and some (who had no patience) told him to go away and not be a fool; and some said: ‘The fellow’s mad! As though one could buy or sell patience!’ | Một số người chế nhạo, số khác (những kẻ vốn chẳng có chút kiên nhẫn nào) thì bảo hắn cút đi đừng làm trò hề nữa; lại có người bảo: “Gã này điên rồi! Làm như kiên nhẫn có thể mua bán được ấy!” |
| At length it came to the ears of the king of Dûr that there was a madman in the market trying to buy patience. | Cuối cùng, tin về một gã điên ở chợ đang cố mua sự kiên nhẫn cũng đến tai vua xứ Dûr. |
| And the king laughed and said: | Và nhà vua bật cười bảo: |
| ‘I should like to see that fellow, bring him here!’ | “Ta muốn xem mặt gã đó, đưa hắn vào đây!” |
| And immediately his attendants went to seek the man, and brought him to the king, who asked: | Ngay lập tức quân lính đi tìm người đàn ông nọ và đưa về trước mặt vua, ngài hỏi: |
| ‘What is this you want?’ | “Ngươi đang tìm kiếm cái gì thế?” |
| And the man replied: ‘Sire! I am bidden to ask for patience.’ | Người gia nhân đáp: “Muôn tâu Bệ hạ! Hạ thần được lệnh phải đi hỏi mua sự kiên nhẫn.” |
| ‘Oh,’ said the king, ‘you must have a strange master! What does he want with it?’ | “Ồ,” nhà vua nói, “chủ nhân của ngươi hẳn là một người kỳ lạ! Ông ta cần nó để làm gì?” |
| ‘My master wants it as a present for his daughter Imani,’ replied the servant. | “Chủ nhân của tôi muốn mua nó làm quà cho con gái là công chúa Imani,” tên gia nhân đáp. |
| ‘Well,’ said the king, ‘I know of some patience which the young lady might have if she cares for it; but it is not to be bought.’ | “Chà,” nhà vua nói, “Ta có biết một loại kiên nhẫn mà cô gái trẻ đó có thể nhận nếu nàng thích; nhưng nó không phải là thứ để mua bán.” |
| Now the king’s name was Subbar Khan, and Subbar means ‘patience‘; but the messenger did not know that, or understand that he was making a joke. | Số là tên của nhà vua là Subbar Khan, mà “Subbar” lại có nghĩa là “kiên nhẫn“; nhưng người đưa tin không biết điều đó nên không hiểu ngài đang nói đùa. |
| However, he declared that the princess Imani was not only young and beautiful, but also the cleverest, most industrious, and kindest-hearted of princesses; and he would have gone on explaining her virtues had not the king laughingly put up his hand and stopped him saying: | Tuy nhiên, hắn khẳng định rằng công chúa Imani không chỉ trẻ đẹp mà còn là nàng công chúa thông minh nhất, chăm chỉ nhất và nhân hậu nhất trần đời; hắn định kể lể tiếp về các đức tính của nàng thì nhà vua đã cười xòa, giơ tay ngăn lại và bảo: |
| ‘Well, well, wait a minute, and I will see what can be done.’ | “Được rồi, được rồi, đợi một chút, ta sẽ xem có thể làm được gì.” |
| With that he got up and went to his own apartments and took out a little casket. | Nói đoạn, ngài đứng dậy đi về phòng riêng, lấy ra một chiếc tráp nhỏ. |
| Into the casket he put a fan, and shutting it up carefully he brought it to the messenger and said: | Ngài đặt vào trong tráp một chiếc quạt, đóng lại cẩn thận rồi mang ra đưa cho người đưa tin và dặn: |
| ‘Here is a casket. It has no lock nor key, and yet will open only to the touch of the person who needs its contents—and whoever opens it will obtain patience; but I can’t tell whether it will be quite the kind of patience that is wanted.’ | “Đây là chiếc tráp. Nó không có khóa hay chìa, nhưng sẽ chỉ mở ra khi người cần những gì bên trong chạm tay vào—và bất cứ ai mở được nó sẽ có được sự kiên nhẫn; tuy nhiên ta không dám chắc liệu đó có đúng là loại kiên nhẫn mà nàng ấy muốn hay không.” |
| And the servant bowed low, and took the casket; but when he asked what was to be paid, the king would take nothing. | Người hầu cúi rạp mình nhận lấy chiếc tráp; nhưng khi hắn hỏi phải trả bao nhiêu tiền, nhà vua nhất định không nhận. |
| So he went away and gave the casket and an account of his adventures to his master. | Thế là hắn ra về, dâng chiếc tráp cùng câu chuyện phiêu lưu của mình lên cho chủ nhân. |
| As soon as their father got back to his country Kupti and Imani each got the presents he had brought for them. | Ngay khi vua cha trở về nước, Kupti và Imani đều nhận được món quà ngài mang về. |
| Imani was very surprised when the casket was brought to her by the hand of a messenger. | Imani vô cùng ngạc nhiên khi thấy người lính mang chiếc tráp đến cho mình. |
| ‘But,’ she said, ‘what is this? I never asked for anything! Indeed I had no time, for the messenger ran away before I had unravelled my tangle.’ | “Nhưng mà,” nàng nói, “cái gì đây? Ta đâu có xin thứ gì! Quả thực ta còn chẳng có thời gian, vì người lính đã chạy đi mất trước khi ta kịp gỡ xong mối chỉ rối.” |
| But the servant declared that the casket was for her, so she took it with some curiosity, and brought it to the old fakir. | Nhưng người lính quả quyết rằng chiếc tráp là dành cho nàng, nên nàng tò mò nhận lấy và mang đến cho ông lão tu sĩ. |
| The old man tried to open it, but in vain—so closely did the lid fit that it seemed to be quite immovable, and yet there was no lock, nor bolt, nor spring, nor anything apparently by which the casket was kept shut. | Ông lão cố mở nó ra nhưng vô ích—nắp tráp khít chặt đến nỗi tưởng như không thể xê dịch, mặc dù chẳng có ổ khóa, chốt hay lò xo nào giữ nó đóng lại. |
| When he was tired of trying he handed the casket to the princess, who hardly touched it before it opened quite easily, and there lay within a beautiful fan. | Khi đã mệt nhoài vì thử mọi cách, ông đưa chiếc tráp cho công chúa, tay nàng vừa mới chạm vào thì nắp tráp đã mở ra thật dễ dàng, và bên trong là một chiếc quạt tuyệt đẹp. |
| With a cry of surprise and pleasure Imani took out the fan, and began to fan herself. | Imani reo lên đầy ngạc nhiên và thích thú, nàng lấy chiếc quạt ra và bắt đầu phe phẩy. |
| Hardly had she finished three strokes of the fan before there suddenly appeared from nowhere in particular, king Subbar Khan of Dûr! | Nàng vừa mới quạt được ba cái thì đột nhiên, từ hư không, đức vua Subbar Khan của xứ Dûr xuất hiện! |
| The princess gasped and rubbed her eyes, and the old fakir sat and gazed in such astonishment that for some minutes he could not speak. | Công chúa há hốc mồm dụi mắt, còn ông lão tu sĩ ngồi chết lặng vì kinh ngạc đến nỗi vài phút sau vẫn chưa thốt nên lời. |
| At length he said: ‘Who may you be, fair sir, if you please?’ | Cuối cùng ông lão mới hỏi: “Thưa ngài, xin mạn phép hỏi ngài là ai vậy?” |
| ‘My name,’ said the king, ‘is Subbar Khan of Dûr. This lady,’ bowing to the princess, ‘has summoned me, and here I am!’ | “Tên ta,” nhà vua đáp, “là Subbar Khan của xứ Dûr. Vị tiểu thư này,” ngài cúi chào công chúa, “đã triệu hồi ta, và ta đã có mặt đây!” |
| ‘I?’—stammered the princess—’I have summoned you? I never saw or heard of you in my life before, so how could that be?’ | “Tôi ư?” công chúa lắp bắp, “Tôi đã triệu hồi ngài ư? Tôi chưa từng gặp hay nghe về ngài trong đời, làm sao chuyện đó có thể xảy ra được?” |
| Then the king told them how he had heard of a man in his own city of Dûr trying to buy patience, and how he had given him the fan in the casket. | Bấy giờ nhà vua mới kể cho họ nghe chuyện ngài đã nghe tin một người đàn ông ở kinh thành Dûr đi tìm mua sự kiên nhẫn ra sao, và chuyện ngài đã tặng chiếc quạt trong tráp như thế nào. |
| ‘Both are magical,’ he added; ‘when anyone uses the fan, in three strokes of it I am with them; if they fold it and tap it on the table, in three taps I am at home again. | “Cả hai đều là vật báu phép thuật,” ngài nói thêm; “khi ai đó dùng quạt, chỉ cần ba cái phẩy tay là ta sẽ đến bên họ; nếu họ gấp quạt lại và gõ xuống bàn, chỉ ba cái gõ là ta sẽ trở về nhà. |
| The casket will not open to all, but you see it was this fair lady who asked for patience, and, as that is my name, here I am, very much at her service.’ | Chiếc tráp không mở cho bất cứ ai, nhưng quý cô đây chính là người đã hỏi xin sự kiên nhẫn, và vì đó là tên ta, nên ta ở đây, rất sẵn lòng phục vụ nàng.” |
| Now the princess Imani, being of a high spirit, was anxious to fold up the fan, and give the three taps which would send the king home again; but the old fakir was very pleased with his guest, and so in one way and another they spent quite a pleasant evening together before Subbar Khan took his leave. | Công chúa Imani vốn tính khí kiêu hãnh, lúc ấy chỉ nóng lòng muốn gấp quạt lại và gõ ba cái để tống nhà vua về nước; nhưng ông lão tu sĩ lại rất quý người khách này, nên cuối cùng họ đã cùng nhau trải qua một buổi tối vui vẻ trước khi Subbar Khan cáo từ. |
| After that he was often summoned; and as both the fakir and he were very fond of chess and were good players, they used to sit up half the night playing, and at last a little room in the house began to be called the king’s room, and whenever he stayed late he used to sleep there and go home again in the morning. | Sau lần đó, ngài thường xuyên được triệu đến; và vì cả ông lão lẫn nhà vua đều mê cờ vua và là những tay cờ giỏi, họ thường ngồi chơi thâu đêm suốt sáng, đến nỗi một căn phòng nhỏ trong nhà dần được gọi là phòng của vua, và hễ khi nào ở lại quá khuya, ngài thường ngủ tại đó và trở về nhà vào sáng hôm sau. |
| By-and-by it came to the ears of the princess Kupti that there was a rich and handsome young man visiting at her sister’s house, and she was very jealous. | Chẳng bao lâu sau, tin đồn về một chàng trai trẻ giàu có và tuấn tú thường lui tới nhà em gái đến tai công chúa Kupti, và cô ta nổi lòng ghen tức. |
| So she went one day to pay Imani a visit, and pretended to be very affectionate, and interested in the house, and in the way in which Imani and the old fakir lived, and of their mysterious and royal visitor. | Thế là một hôm cô ta đến thăm Imani, giả vờ tỏ ra rất thương mến, quan tâm đến ngôi nhà, đến cách sống của Imani cùng ông lão, và cả vị khách vương giả bí ẩn kia nữa. |
| As the sisters went from place to place, Kupti was shown Subbar Khan’s room; and presently, making some excuse, she slipped in there by herself and swiftly spread under the sheet which lay upon the bed a quantity of very finely powdered and splintered glass which was poisoned, and which she had brought with her concealed in her clothes. | Khi hai chị em đi tham quan các phòng, Kupti được dẫn vào xem phòng của Subbar Khan; nhân lúc không ai để ý, cô ta lẻn vào đó một mình và nhanh chóng rải xuống dưới lớp khăn trải giường một lượng lớn bột thủy tinh và mảnh kính vụn tẩm độc mà cô ta đã lén mang theo trong người. |
| Shortly afterwards she took leave of her sister, declaring that she could never forgive herself for not having come near her all this time, and that she would now begin to make amends for her neglect. | Ngay sau đó, cô ta cáo từ em gái, miệng thì thốt lên rằng không thể tha thứ cho bản thân vì đã không đến thăm em suốt thời gian qua, và hứa từ nay sẽ bù đắp cho sự bỏ bê của mình. |
| That very evening Subbar Khan came and sat up late with the old fakir playing chess as usual. | Ngay tối hôm đó, Subbar Khan đến và thức khuya chơi cờ cùng ông lão như thường lệ. |
| Very tired, he at length bade him and the princess good-night and, as soon as he lay down on the bed, thousands of tiny, tiny splinters of poisoned glass ran into him. | Mệt nhoài, cuối cùng ngài chúc ông lão và công chúa ngủ ngon, nhưng vừa đặt lưng xuống giường, hàng ngàn mảnh kính vụn tẩm độc nhỏ xíu đã găm vào người ngài. |
| He could not think what was the matter, and started this way and that until he was pricked all over, and he felt as though he were burning from head to foot. | Ngài không hiểu chuyện gì xảy ra, cứ trở mình qua lại cho đến khi toàn thân bị đâm nát, cảm giác như bị thiêu đốt từ đầu đến chân. |
| But he never said a word, only he sat up all night in agony of body and in worse agony of mind to think that he should have been poisoned, as he guessed he was, in Imani’s own house. | Nhưng ngài không nói một lời, chỉ ngồi dậy suốt đêm trong nỗi đau đớn về thể xác và nỗi thống khổ còn lớn hơn về tinh thần khi nghĩ rằng mình đã bị đầu độc, theo như ngài đoán, ngay tại nhà của Imani. |
| In the morning, although he was nearly fainting, he still said nothing, and by means of the magic fan was duly transported home again. | Sáng hôm sau, dù gần như ngất lịm, ngài vẫn không nói gì, dùng chiếc quạt thần để trở về nhà. |
| Then he sent for all the physicians and doctors in his kingdom, but none could make out what his illness was; and so he lingered on for weeks and weeks trying every remedy that anyone could devise, and passing sleepless nights and days of pain and fever and misery, until at last he was at the point of death. | Sau đó ngài cho triệu tập tất cả danh y trong vương quốc, nhưng không ai chẩn đoán được bệnh của ngài; thế là ngài cứ nằm đó lay lắt tuần này qua tuần khác, thử mọi phương thuốc người ta nghĩ ra, trải qua những đêm không ngủ và những ngày đau đớn, sốt cao và khổ sở, cho đến khi ngài nằm bên bờ vực của cái chết. |
| Meanwhile the princess Imani and the old fakir were much troubled because, although they waved the magic fan again and again, no Subbar Khan appeared, and they feared that he had tired of them, or that some evil fate had overtaken him. | Trong khi đó, công chúa Imani và ông lão vô cùng lo lắng bởi vì, mặc dù họ vẫy chiếc quạt thần hết lần này đến lần khác, Subbar Khan vẫn không xuất hiện, và họ sợ rằng ngài đã chán họ rồi, hoặc có tai ương nào đó đã giáng xuống đầu ngài. |
| At last the princess was in such a miserable state of doubt and uncertainty that she determined to go herself to the kingdom of Dûr and see what was the matter. | Cuối cùng, công chúa rơi vào trạng thái ngờ vực và bất an khổ sở đến mức nàng quyết định tự mình đến vương quốc Dûr xem chuyện gì đã xảy ra. |
| Disguising herself in man’s clothes as a young fakir, she set out upon her journey alone and on foot, as a fakir should travel. | Nàng cải trang thành một nam tu sĩ trẻ, lên đường một mình và đi bộ, đúng theo cách của một người tu hành. |
| One evening she found herself in a forest, and lay down under a great tree to pass the night. | Một buổi tối nọ, nàng lạc vào một khu rừng và nằm nghỉ dưới gốc một cái cây lớn để qua đêm. |
| But she could not sleep for thinking of Subbar Khan, and wondering what had happened to him. | Nhưng nàng không tài nào ngủ được vì cứ mải nghĩ về Subbar Khan và tự hỏi điều gì đã xảy ra với chàng. |
| Presently she heard two great monkeys talking to one another in the tree above her head. | Bỗng nhiên, nàng nghe thấy hai con khỉ lớn đang nói chuyện với nhau trên tàn cây phía trên đầu. |
| ‘Good evening, brother,’ said one, ‘whence come you—and what is the news?’ | “Chào người anh em,” con này nói, “chú mày từ đâu đến và có tin tức gì không?” |
| ‘I come from Dûr,’ said the other, ‘and the news is that the king is dying.’ | “Tôi từ Dûr đến,” con kia đáp, “và tin tức là nhà vua đang hấp hối.” |
| ‘Oh,’ said the first, ‘I’m sorry to hear that, for he is a master hand at slaying leopards and creatures that ought not to be allowed to live. What is the matter with him?’ | “Ồ,” con đầu tiên nói, “nghe mà buồn quá, vì ngài ấy là một tay thiện xạ cừ khôi chuyên tiêu diệt báo gấm và những loài thú dữ không đáng sống. Ngài bị bệnh gì vậy?” |
| ‘No man knows,’ replied the second monkey, ‘but the birds, who see all and carry all messages, say that he is dying of poisoned glass that Kupti the king’s daughter spread upon his bed.’ | “Không người nào biết cả,” con khỉ thứ hai đáp, “nhưng loài chim chóc, những kẻ nhìn thấy tất cả và truyền tin khắp nơi, bảo rằng ngài sắp chết vì những mảnh kính tẩm độc mà Kupti, con gái nhà vua, đã rải trên giường ngài.” |
| ‘Ah!’ said the first monkey, ‘that is sad news; but if they only knew it, the berries of the very tree we sit in, steeped in hot water, will cure such a disease as that in three days at most.’ | “Chà!” con khỉ đầu tiên nói, “Tin buồn thật đấy; nhưng giá mà họ biết rằng, những quả mọng trên chính cái cây chúng ta đang ngồi đây, đem ngâm vào nước nóng, sẽ chữa khỏi căn bệnh đó chỉ trong ba ngày là cùng.” |
| ‘True!’ said the other, ‘it’s a pity that we can’t tell some man of a medicine so simple, and so save a good man’s life. | “Đúng thế!” con kia nói, “Thật tiếc là chúng ta chẳng thể mách cho con người biết về phương thuốc đơn giản ấy để cứu mạng một người tốt. |
| But men are so silly; they go and shut themselves up in stuffy houses in stuffy cities instead of living in nice airy trees, and so they miss knowing all the best things.’ | Nhưng loài người ngốc lắm; họ cứ đi giam mình trong những ngôi nhà bí bách ở những thành phố chật chội thay vì sống trên những cái cây thoáng mát, thế nên họ bỏ lỡ việc biết đến những điều tốt đẹp nhất.” |
| Now when Imani heard that Subbar Khan was dying she began to weep silently; but as she listened she dried her tears and sat up; and as soon as daylight dawned over the forest she began to gather the berries from the tree until she had filled her cloth with a load of them. | Khi Imani nghe tin Subbar Khan đang hấp hối, nàng bắt đầu khóc thầm; nhưng khi nghe tiếp, nàng lau nước mắt và ngồi dậy; ngay khi bình minh vừa ló rạng khu rừng, nàng bắt đầu hái những quả mọng trên cây cho đến khi đầy ắp một khăn. |
| Then she walked on as fast as she could, and in two days reached the city of Dûr. | Sau đó nàng rảo bước nhanh nhất có thể, và trong hai ngày đã đến thành phố Dûr. |
| The first thing she did was to pass through the market crying: ‘Medicine for sale! Are any ill that need my medicine?’ | Việc đầu tiên nàng làm là đi qua chợ và rao lớn: “Thuốc đây! Có ai bệnh tật cần thuốc của ta không?” |
| And presently one man said to his neighbour: ‘See, there is a young fakir with medicine for sale, perhaps he could do something for the king.’ | Và rồi một người nói với người hàng xóm: “Nhìn kìa, có một tu sĩ trẻ đang bán thuốc, biết đâu cậu ta có thể làm được gì đó cho đức vua.” |
| ‘Pooh!’ replied the other, ‘where so many grey-beards have failed, how should a lad like that be of any use?’ | “Xùy!” người kia đáp, “đến bao nhiêu danh y râu tóc bạc phơ còn bó tay, thì một thằng nhóc như thế làm nên trò trống gì?” |
| ‘Still,’ said the first, ‘he might try.’ | “Dẫu vậy,” người đầu tiên nói, “cậu ta cứ thử xem sao.” |
| And he went up and spoke to Imani, and together they set out for the palace and announced that another doctor was come to try and cure the king. | Và ông ta bước đến nói chuyện với Imani, rồi cùng nhau họ đi đến cung điện, thông báo rằng có một thầy thuốc khác đến thử chữa bệnh cho vua. |
| After some delay Imani was admitted to the sick room, and, whilst she was so well disguised that the king did not recognize her, he was so wasted by illness that she hardly knew him. | Sau một hồi chờ đợi, Imani được đưa vào phòng bệnh, và vì nàng hóa trang quá khéo nên nhà vua không nhận ra, còn ngài thì gầy mòn vì bệnh tật đến nỗi nàng cũng suýt không nhận ra ngài. |
| But she began at once, full of hope, by asking for some apartments all to herself and a pot in which to boil water. | Nhưng tràn trề hy vọng, nàng bắt tay vào việc ngay bằng cách yêu cầu một căn phòng riêng và một cái nồi đun nước. |
| As soon as the water was heated she steeped some of her berries in it and gave the mixture to the king’s attendants and told them to wash his body with it. | Ngay khi nước nóng, nàng ngâm những quả mọng vào đó, đưa hỗn hợp nước thuốc cho người hầu của vua và bảo họ lau người cho ngài bằng thứ nước đó. |
| The first washing did so much good that the king slept quietly all the night. | Lần lau rửa đầu tiên hiệu nghiệm đến mức nhà vua đã ngủ yên giấc suốt cả đêm. |
| Again the second day she did the same, and this time the king declared he was hungry, and called for food. | Ngày thứ hai nàng lại làm y như vậy, và lần này nhà vua tuyên bố ngài thấy đói bụng và đòi ăn. |
| After the third day he was quite well, only very weak from his long illness. | Qua ngày thứ ba thì ngài đã khỏi hẳn, chỉ còn hơi yếu do trận ốm dài ngày. |
| On the fourth day he got up and sat upon his throne, and then sent messengers to fetch the physician who had cured him. | Đến ngày thứ tư, ngài đã dậy và ngồi trên ngai vàng, rồi sai người đi mời vị thầy thuốc đã chữa khỏi cho mình đến. |
| When Imani appeared everyone marvelled that so young a man should be so clever a doctor; and the king wanted to give him immense presents of money and of all kinds of precious things. | Khi Imani xuất hiện, ai nấy đều trầm trồ kinh ngạc vì một người đàn ông trẻ tuổi nhường ấy lại là một danh y tài ba; và nhà vua muốn ban thưởng cho chàng trai vô số vàng bạc châu báu. |
| At first Imani would take nothing, but at last she said that, if she must be rewarded, she would ask for the king’s signet ring and his handkerchief. | Ban đầu Imani không chịu nhận gì cả, nhưng cuối cùng nàng nói rằng, nếu nhất định phải nhận thưởng, nàng xin được nhận chiếc nhẫn ấn tín của vua và chiếc khăn tay của ngài. |
| So, as she would take nothing more, the king gave her his signet ring and his handkerchief, and she departed and travelled back to her own country as fast as she could. | Vì nàng không chịu nhận gì hơn, nhà vua đành trao nhẫn và khăn tay cho nàng, rồi nàng cáo biệt và trở về nước nhanh nhất có thể. |
| A little while after her return, when she had related to the fakir all her adventures, they sent for Subbar Khan by means of the magic fan; and when he appeared they asked him why he had stayed away for so long. | Ít lâu sau khi trở về, khi đã kể lại hết mọi chuyện phiêu lưu cho ông lão tu sĩ nghe, họ dùng chiếc quạt thần triệu hồi Subbar Khan đến; và khi ngài xuất hiện, họ hỏi tại sao ngài lại vắng mặt lâu đến thế. |
| Then he told them all about his illness, and how he had been cured, and when he had finished the princess rose up and, opening a cabinet, brought out the ring and handkerchief, and said, laughing: | Bấy giờ ngài mới kể cho họ nghe về cơn bạo bệnh, và chuyện ngài đã được chữa khỏi ra sao; khi ngài vừa dứt lời, công chúa đứng dậy, mở chiếc tủ nhỏ, lấy ra chiếc nhẫn cùng chiếc khăn tay và cười nói: |
| ‘Are these the rewards you gave to your doctor?’ | “Đây có phải là những phần thưởng chàng đã tặng cho vị bác sĩ của mình không?” |
| At that the king looked, and he recognised her, and understood in a moment all that had happened; and he jumped up and put the magic fan in his pocket, and declared that no one should send him away to his own country any more unless Imani would come with him and be his wife. | Lúc đó nhà vua nhìn kỹ lại, nhận ra nàng và lập tức hiểu thấu mọi chuyện đã xảy ra; ngài bật dậy, cất chiếc quạt thần vào túi và tuyên bố rằng sẽ không ai có thể bắt ngài trở về nước một mình nữa, trừ khi Imani chịu đi cùng và trở thành vợ ngài. |
| And so it was settled, and the old fakir and Imani went to the city of Dûr, where Imani was married to the king and lived happily ever after. | Thế là mọi việc được an bài, ông lão tu sĩ cùng Imani đến thành phố Dûr, tại đây Imani kết hôn với đức vua và họ sống hạnh phúc mãi mãi về sau. |
Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa.