| The Sea King’s Gift | Món quà của Vua Biển |
|---|---|
| There was once a fisherman who was called Salmon, and his Christian name was Matte. | Ngày xửa ngày xưa, có một ngư dân thường được gọi là Cá Hồi, và tên thánh của ông là Matte. |
| He lived by the shore of the big sea; where else could he live? | Ông sống ngay bên bờ biển lớn; mà ông có thể sống ở đâu khác được chứ? |
| He had a wife called Maie; could you find a better name for her? | Ông có một người vợ tên là Maie; liệu có thể tìm được cái tên nào hay hơn cho bà ấy không? |
| In winter they dwelt in a little cottage by the shore, but in spring they flitted to a red rock out in the sea and stayed there the whole summer until it was autumn. | Vào mùa đông, họ trú ngụ trong một túp lều tranh nhỏ bên bờ, nhưng đến mùa xuân, họ lại chuyển ra một tảng đá đỏ ngoài khơi và sống ở đó suốt cả mùa hè cho đến tận mùa thu. |
| The cottage on the rock was even smaller than the other; it had a wooden bolt instead of an iron lock to the door, a stone hearth, a flagstaff, and a weather-cock on the roof. | Túp lều trên tảng đá ấy thậm chí còn nhỏ hơn túp lều kia; cửa nẻo dùng then gỗ cài chứ chẳng có khóa sắt, trong nhà có một bếp lò bằng đá, một cột cờ và một con gà chỉ hướng gió trên mái nhà. |
| The rock was called Ahtola, and was not larger than the market-place of a town. | Tảng đá đó tên là Ahtola, và nó chẳng lớn hơn cái chợ của thị trấn là bao. |
| Between the crevices there grew a little rowan tree and four alder bushes. | Len lỏi giữa những khe đá là một cây thanh lương trà nhỏ và bốn bụi cây trăn. |
| Heaven only knows how they ever came there; perhaps they were brought by the winter storms. | Chỉ có Trời mới biết làm sao cây cối mọc được ở đó; có lẽ những cơn bão mùa đông đã mang hạt giống tới chăng. |
| Besides that, there flourished some tufts of velvety grass, some scattered reeds, two plants of the yellow herb called tansy, four of a red flower, and a pretty white one; but the treasures of the rock consisted of three roots of garlic, which Maie had put in a cleft. | Ngoài ra, nơi đây còn xanh tốt vài khóm cỏ mượt như nhung, vài bụi sậy rải rác, hai cây cúc ngải vàng, bốn cây hoa đỏ và một bông hoa trắng xinh xinh; nhưng báu vật thực sự của tảng đá này lại là ba củ tỏi mà bà Maie đã trồng vào trong một hốc đá. |
| Rock walls sheltered them on the north side, and the sun shone on them on the south. | Những vách đá che chắn cho chúng ở phía bắc, và ánh mặt trời sưởi ấm chúng từ phía nam. |
| This does not seem much, but it sufficed Maie for a herb plot. | Nghe thì chẳng đáng là bao, nhưng bấy nhiêu cũng đủ để làm nên một vườn cây nho nhỏ cho bà Maie rồi. |
| All good things go in threes, so Matte and his wife fished for salmon in spring, for herring in summer, and for cod in winter. | Mọi sự tốt lành đều đến theo bộ ba, thế nên vợ chồng Matte đánh bắt cá hồi vào mùa xuân, cá trích vào mùa hè và cá tuyết vào mùa đông. |
| When on Saturdays the weather was fine and the wind favourable, they sailed to the nearest town, sold their fish, and went to church on Sunday. | Vào những ngày thứ Bảy đẹp trời và gió thuận, họ giong buồm tới thị trấn gần nhất, bán cá và đi lễ nhà thờ vào Chủ nhật. |
| But it often happened that for weeks at a time they were quite alone on the rock Ahtola, and had nothing to look at except their little yellow-brown dog, which bore the grand name of Prince, their grass tufts, their bushes and blooms, the sea bays and fish, a stormy sky and the blue, white-crested waves. | Nhưng thường thì suốt nhiều tuần liền, họ hoàn toàn cô độc trên tảng đá Ahtola, chẳng có gì để ngắm nhìn ngoài chú chó nhỏ màu vàng nâu mang cái tên oai vệ là Hoàng Tử, cùng những khóm cỏ, bụi cây, hoa lá, những vũng biển đầy cá, bầu trời đầy giông gió và những con sóng xanh biếc bạc đầu. |
| For the rock lay far away from the land, and there were no green islets or human habitations for miles round, only here and there appeared a rock of the same red stone as Ahtola, besprinkled day and night with the ocean spray. | Bởi lẽ tảng đá nằm rất xa đất liền, xung quanh hàng dặm chẳng có hòn đảo xanh tươi hay bóng dáng con người nào, chỉ thi thoảng thấp thoáng một vài tảng đá đỏ giống như Ahtola, ngày đêm đắm mình trong bụi nước của đại dương. |
| Matte and Maie were industrious, hard-working folk, happy and contented in their poor hut, and they thought themselves rich when they were able to salt as many casks of fish as they required for winter and yet have some left over with which to buy tobacco for the old man, and a pound or two of coffee for his wife, with plenty of burned corn and chicory in it to give it a flavour. | Matte và Maie là những con người cần cù, chịu khó, họ sống hạnh phúc và mãn nguyện trong túp lều nghèo nàn của mình, và họ ngỡ mình thật giàu có khi muối đủ số thùng cá cần thiết cho mùa đông mà vẫn còn dư chút đỉnh để mua thuốc lá cho ông lão, và một hai cân cà phê cho bà vợ, loại cà phê trộn nhiều ngô rang và rau diếp xoăn để tăng thêm hương vị. |
| Besides that, they had bread, butter, fish, a beer cask, and a buttermilk jar; what more did they require? | Ngoài những thứ đó, họ có bánh mì, bơ, cá, một thùng bia và một hũ sữa bơ; họ còn cần gì hơn nữa chứ? |
| All would have gone well had not Maie been possessed with a secret longing which never let her rest; and this was, how she could manage to become the owner of a cow. | Mọi chuyện hẳn sẽ êm đẹp nếu bà Maie không bị ám ảnh bởi một nỗi khao khát thầm kín khiến bà chẳng lúc nào yên; đó là làm sao để có được một con bò. |
| ‘What would you do with a cow?’ asked Matte. | “Bà định làm gì với một con bò?” ông Matte hỏi. |
| ‘She could not swim so far, and our boat is not large enough to bring her over here; and even if we had her, we have nothing to feed her on.’ | “Nó không thể bơi xa đến thế, thuyền của chúng ta lại chẳng đủ lớn để chở nó ra đây; mà kể cả có mang được nó ra, chúng ta lấy gì cho nó ăn?” |
| ‘We have four alder bushes and sixteen tufts of grass,’ rejoined Maie. | “Chúng ta có bốn bụi cây trăn và mười sáu khóm cỏ mà,” bà Maie đáp lại. |
| ‘Yes, of course,’ laughed Matte, ‘and we have also three plants of garlic. Garlic would be fine feeding for her.’ | “Ừ, tất nhiên rồi,” ông Matte cười lớn, “và chúng ta còn có ba cây tỏi nữa chứ. Tỏi chắc là món ngon cho nó đấy.” |
| ‘Every cow likes salt herring,’ rejoined his wife. ‘Even Prince is fond of fish.’ | “Con bò nào cũng thích cá trích muối cả,” vợ ông cãi lại. “Ngay cả con Hoàng Tử cũng thích cá đấy thôi.” |
| ‘That may be,’ said her husband. ‘Methinks she would soon be a dear cow if we had to feed her on salt herring. | “Cũng có thể,” chồng bà nói. “Tôi nghĩ nuôi nó bằng cá trích muối thì tốn kém lắm. |
| All very well for Prince, who fights with the gulls over the last morsel. | Với con Hoàng Tử tranh ăn từng miếng vụn với hải âu thì không sao. |
| Put the cow out of your head, mother, we are very well off as we are.’ | Thôi dẹp chuyện con bò đi bà nó ơi, chúng ta sống thế này là tốt lắm rồi.” |
| Maie sighed. | Bà Maie thở dài. |
| She knew well that her husband was right, but she could not give up the idea of a cow. | Bà biết thừa là chồng mình nói đúng, nhưng bà chẳng thể nào gạt bỏ hình ảnh con bò ra khỏi tâm trí. |
| The buttermilk no longer tasted as good as usual in the coffee; she thought of sweet cream and fresh butter, and of how there was nothing in the world to be compared with them. | Món sữa bơ pha cà phê dường như không còn ngon như trước nữa; bà mơ tưởng đến lớp váng kem ngọt ngào và những thỏi bơ tươi, nghĩ rằng trên đời này chẳng còn gì sánh bằng những thứ ấy. |
| One day as Matte and his wife were cleaning herring on the shore they heard Prince barking, and soon there appeared a gaily painted boat with three young men in it, steering towards the rock. | Một ngày nọ, khi Matte và vợ đang làm cá trích trên bờ, họ nghe tiếng chó Hoàng Tử sủa vang, và chẳng mấy chốc xuất hiện một chiếc thuyền sơn màu sặc sỡ chở ba chàng trai trẻ đang hướng về phía tảng đá. |
| They were students, on a boating excursion, and wanted to get something to eat. | Họ là những sinh viên đang đi du ngoạn bằng thuyền và muốn ghé vào tìm chút gì bỏ bụng. |
| ‘Bring us a junket, good mother,’ cried they to Maie. | “Cho chúng cháu xin chút sữa đông đi bà ơi,” họ gọi to với bà Maie. |
| ‘Ah! if only I had such a thing!’ sighed Maie. | “Chao ôi! Giá mà tôi có thứ đó!” bà Maie thở dài. |
| ‘A can of fresh milk, then,’ said the students; ‘but it must not be skim.’ | “Vậy thì một can sữa tươi cũng được,” mấy cậu sinh viên nói; “nhưng phải là sữa nguyên kem nhé.” |
| ‘Yes, if only I had it!’ sighed the old woman, still more deeply. | “Ừ, giá mà tôi có nó!” bà lão thở dài sườn sượt. |
| ‘What! haven’t you got a cow?’ | “Cái gì! Ông bà không có bò sao?” |
| Maie was silent. | Bà Maie im lặng. |
| This question so struck her to the heart that she could not reply. | Câu hỏi ấy chạm đúng vào nỗi lòng khiến bà không sao cất lời được. |
| ‘We have no cow,’ Matte answered; ‘but we have good smoked herring, and can cook them in a couple of hours.’ | “Chúng tôi không có bò,” ông Matte trả lời; “nhưng chúng tôi có món cá trích hun khói ngon tuyệt, và có thể nấu xong trong vài tiếng nữa.” |
| ‘All right, then, that will do,’ said the students, as they flung themselves down on the rock, while fifty silvery-white herring were turning on the spit in front of the fire. | “Được rồi, thế cũng được,” mấy cậu sinh viên nói, rồi ngả lưng xuống tảng đá, trong khi năm mươi con cá trích trắng bạc đang được nướng trên xiên trước bếp lửa. |
| ‘What’s the name of this little stone in the middle of the ocean?’ asked one of them. | “Hòn đá nhỏ giữa đại dương này tên là gì vậy?” một người trong số họ hỏi. |
| ‘Ahtola,’ answered the old man. | “Ahtola,” ông lão đáp. |
| ‘Well, you should want for nothing when you live in the Sea King‘s dominion.’ | “Chà, sống trong vương quốc của Vua Biển thì ông bà chắc chẳng thiếu thốn gì đâu nhỉ.” |
| Matte did not understand. | Ông Matte chẳng hiểu gì cả. |
| He had never read Kalevala and knew nothing of the sea gods of old, but the students proceeded to explain to him. | Ông chưa bao giờ đọc sử thi Kalevala và cũng chẳng biết gì về các vị thần biển ngày xưa, nhưng mấy cậu sinh viên bắt đầu giải thích cho ông nghe. |
| ‘Ahti,’ said they, ‘is a mighty king who lives in his dominion of Ahtola, and has a rock at the bottom of the sea, and possesses besides a treasury of good things. | “Ahti,” họ kể, “là một vị vua hùng mạnh sống trong vương quốc Ahtola của ngài, ngài có một cung điện bằng đá dưới đáy biển, và sở hữu vô vàn báu vật. |
| He rules over all fish and animals of the deep; he has the finest cows and the swiftest horses that ever chewed grass at the bottom of the ocean. | Ngài cai quản tất cả các loài cá và sinh vật dưới lòng đại dương; ngài có những đàn bò béo tốt nhất và những con ngựa nhanh nhất từng gặm cỏ dưới đáy biển. |
| He who stands well with Ahti is soon a rich man, but one must beware in dealing with him, for he is very changeful and touchy. | Ai mà được lòng Ahti thì chẳng mấy chốc sẽ trở thành đại gia, nhưng khi giao du với ngài phải hết sức cẩn trọng, vì tính khí ngài thất thường và rất dễ tự ái. |
| Even a little stone thrown into the water might offend him, and then as he takes back his gift, he stirs up the sea into a storm and drags the sailors down into the depths. | Chỉ cần ném một viên đá nhỏ xuống nước cũng có thể làm ngài phật ý, và rồi khi ngài thu hồi quà tặng, ngài sẽ khuấy động biển khơi thành bão tố và kéo các thủy thủ xuống tận đáy sâu. |
| Ahti owns also the fairest maidens, who bear the train of his queen Wellamos, and at the sound of music they comb their long, flowing locks, which glisten in the water.’ | Ahti còn có những hầu nữ xinh đẹp tuyệt trần chuyên nâng tà áo cho hoàng hậu Wellamos, và mỗi khi tiếng nhạc cất lên, họ lại chải những mái tóc dài óng ả lấp lánh trong làn nước.” |
| ‘Oh!’ cried Matte, ‘have your worships really seen all that?’ | “Ồ!” ông Matte thốt lên, “các cậu thực sự đã nhìn thấy tất cả những thứ đó sao?” |
| ‘We have as good as seen it,’ said the students. ‘It is all printed in a book, and everything printed is true.’ | “Chúng cháu coi như đã thấy,” mấy cậu sinh viên nói. “Tất cả đều được in trong sách, mà cái gì đã in thành sách thì đều là sự thật cả.” |
| ‘I’m not so sure of that,’ said Matte, as he shook his head. | “Tôi thì không chắc lắm đâu,” ông Matte vừa nói vừa lắc đầu. |
| But the herring were now ready, and the students ate enough for six, and gave Prince some cold meat which they happened to have in the boat. | Nhưng lúc này cá trích đã chín, mấy cậu sinh viên ăn sức bằng sáu người, lại còn cho chó Hoàng Tử ít thịt nguội mà họ mang theo trên thuyền. |
| Prince sat on his hind legs with delight and mewed like a pussy cat. | Hoàng Tử sướng rơn, ngồi bằng hai chân sau và rên ư ử y như một con mèo. |
| When all was finished, the students handed Matte a shining silver coin, and allowed him to fill his pipe with a special kind of tobacco. | Khi bữa ăn kết thúc, các sinh viên đưa cho ông Matte một đồng bạc sáng loáng, và mời ông nhồi đầy tẩu bằng một loại thuốc lá đặc biệt. |
| They then thanked him for his kind hospitality and went on their journey, much regretted by Prince, who sat with a woeful expression and whined on the shore as long as he could see a flip of the boat’s white sail in the distance. | Sau đó, họ cảm ơn sự hiếu khách của ông và tiếp tục hành trình, để lại sự tiếc nuối khôn nguôi cho chó Hoàng Tử; nó ngồi với vẻ mặt sầu thảm và rên rỉ trên bờ cho đến khi bóng cánh buồm trắng của con thuyền khuất hẳn phía xa. |
| Maie had never uttered a word, but thought the more. | Bà Maie chẳng nói nửa lời, nhưng trong lòng lại suy tính đủ điều. |
| She had good ears, and had laid to heart the story about Ahti. | Bà rất thính tai và đã ghi tâm khắc cốt câu chuyện về thần Ahti. |
| ‘How delightful,’ thought she to herself, ‘to possess a fairy cow! | “Thật tuyệt vời biết bao,” bà tự nhủ, “nếu được sở hữu một con bò thần! |
| How delicious every morning and evening to draw milk from it, and yet have no trouble about the feeding, and to keep a shelf near the window for dishes of milk and junkets! | Thật ngon lành làm sao khi mỗi sáng mỗi tối được vắt sữa mà chẳng phải lo chuyện cho ăn, rồi xếp đầy những đĩa sữa và món sữa đông lên cái kệ bên cửa sổ! |
| But this will never be my luck.’ | Nhưng vận may đó chắc chẳng bao giờ đến với mình.” |
| ‘What are you thinking of?’ asked Matte. | “Bà đang nghĩ gì thế?” ông Matte hỏi. |
| ‘Nothing,’ said his wife; but all the time she was pondering over some magic rhymes she had heard in her childhood from an old lame man, which were supposed to bring luck in fishing. | “Không có gì,” vợ ông đáp; nhưng kỳ thực bà đang ngẫm nghĩ về mấy câu vè thần chú mà bà từng nghe một ông già thọt chân kể hồi còn bé, nghe đâu những câu vè đó sẽ mang lại may mắn khi đánh cá. |
| ‘What if I were to try?’ thought she. | “Hay là mình thử xem sao?” bà nghĩ. |
| Now this was Saturday, and on Saturday evenings Matte never set the herring-net, for he did not fish on Sunday. | Hôm nay lại là thứ Bảy, mà vào tối thứ Bảy ông Matte không bao giờ thả lưới cá trích, vì ông kiêng đánh cá vào ngày Chủ nhật. |
| Towards evening, however, his wife said: ‘Let us set the herring-net just this once.’ | Tuy nhiên, khi trời về chiều, vợ ông bảo: “Hãy thả lưới cá trích một lần này thôi ông.” |
| ‘No,’ said her husband, ‘it is a Saturday night.’ | “Không,” chồng bà nói, “tối nay là tối thứ Bảy.” |
| ‘Last night was so stormy, and we caught so little,’ urged his wife; ‘to-night the sea is like a mirror, and with the wind in this direction the herring are drawing towards land.’ | “Tối qua bão bùng quá, chúng ta bắt được ít cá lắm,” vợ ông nài nỉ; “đêm nay biển lặng như tờ, lại thêm hướng gió này thì lũ cá trích đang kéo vào bờ đấy.” |
| ‘But there are streaks in the north-western sky, and Prince was eating grass this evening,’ said the old man. | “Nhưng bầu trời phía tây bắc có nhiều vệt mây lạ, và chiều nay con Hoàng Tử lại ăn cỏ nữa,” ông lão nói. |
| ‘Surely he has not eaten my garlic,’ exclaimed the old woman. | “Chắc nó không ăn mất tỏi của tôi chứ,” bà lão thốt lên. |
| ‘No; but there will be rough weather by to-morrow at sunset,’ rejoined Matte. | “Không; nhưng đến hoàng hôn ngày mai chắc chắn sẽ có động trời,” ông Matte đáp. |
| ‘Listen to me,’ said his wife, ‘we will set only one net close to the shore, and then we shall be able to finish up our half-filled cask, which will spoil if it stands open so long.’ | “Nghe tôi đi,” vợ ông nói, “chúng ta chỉ thả một lưới gần bờ thôi, để làm cho đầy cái thùng đang muối dở, chứ để hở lâu thế nó hỏng mất.” |
| The old man allowed himself to be talked over, and so they rowed out with the net. | Ông lão để cho vợ thuyết phục, thế là họ chèo thuyền ra khơi cùng với tấm lưới. |
| When they reached the deepest part of the water, she began to hum the words of the magic rhyme, altering the words to suit the longing of her heart:
Oh, Ahti, with the long, long beard, |
Khi đến vùng nước sâu nhất, bà bắt đầu ngân nga những câu vè thần chú, sửa đổi lời lẽ cho hợp với nỗi khao khát trong lòng mình:
Hỡi Ahti râu dài vô tận, |
| King of the waters, far and near, I ask not of thy golden store, I wish not jewels of pearl to wear, Nor silver either, ask I for, But one is odd and even is two, So give me a cow, sea-king so bold, And in return I’ll give to you A slice of the moon, and the sun’s gold. |
Vua Thủy Tề của miền xa gần, Tôi không xin vàng kho ngọc khố, Chẳng xin hạt ngọc trai đeo thân, Cũng chẳng màng bạc tiền vương giả, Nhưng một thì lẻ, hai mới chẵn, Xin cho tôi một chú bò thôi, Để đáp lại tôi dâng tặng ngài, Một miếng trăng, cùng vàng của nắng. |
| ‘What’s that you’re humming?’ asked the old man. | “Bà đang ngân nga cái gì thế?” ông lão hỏi. |
| ‘Oh, only the words of an old rhyme that keeps running in my head,’ answered the old woman; and she raised her voice and went on: | “À, chỉ là mấy câu vè cũ cứ luẩn quẩn trong đầu tôi thôi,” bà lão trả lời; rồi bà cất cao giọng hát tiếp: |
| Oh, Ahti, with the long, long beard, Who dwellest in the deep blue sea, A thousand cows are in thy herd, I pray thee give one onto me. |
Hỡi Ahti râu dài vô tận, Ngự trị nơi biển thẳm xanh lơ, Ngàn bò béo trong đàn của ngài, Xin ban tặng một con cho tôi. |
| ‘That’s a stupid sort of song,’ said Matte. ‘What else should one beg of the sea-king but fish? But such songs are not for Sunday.’ | “Bài hát gì mà ngớ ngẩn,” ông Matte nói. “Cầu xin Vua Biển thì cầu cá chứ cầu gì? Mà mấy bài hát kiểu này không dành cho ngày Chủ nhật đâu.” |
| His wife pretended not to hear him, and sang and sang the same tune all the time they were on the water. | Vợ ông giả vờ như không nghe thấy, cứ hát đi hát lại điệu bộ ấy suốt thời gian họ lênh đênh trên mặt nước. |
| Matte heard nothing more as he sat and rowed the heavy boat, while thinking of his cracked pipe and the fine tobacco. | Ông Matte chẳng nghe thấy gì nữa, ông ngồi chèo chiếc thuyền nặng trịch, tâm trí mải nghĩ về cái tẩu thuốc bị nứt và loại thuốc lá thơm ngon. |
| Then they returned to the island, and soon after went to bed. | Sau đó họ quay trở lại đảo và đi ngủ ngay. |
| But neither Matte nor Maie could sleep a wink; the one thought of how he had profaned Sunday, and the other of Ahti‘s cow. | Nhưng cả Matte lẫn Maie đều trằn trọc chẳng thể chợp mắt; người chồng thì day dứt vì đã báng bổ ngày Chủ nhật, còn người vợ thì tơ tưởng đến con bò của thần Ahti. |
| About midnight the fisherman sat up, and said to his wife: ‘Dost thou hear anything?’ | Khoảng nửa đêm, người đánh cá ngồi bật dậy và bảo vợ: “Bà có nghe thấy gì không?” |
| ‘No,’ said she. | “Không,” bà đáp. |
| ‘I think the twirling of the weathercock on the roof bodes ill,’ said he; ‘we shall have a storm.’ | “Tôi thấy tiếng con gà gió trên mái nhà kêu gở lắm,” ông nói; “chắc chúng ta sắp gặp bão rồi.” |
| ‘Oh, it is nothing but your fancy,’ said his wife. | “Ôi dào, chỉ là ông tưởng tượng thôi,” vợ ông nói. |
| Matte lay down, but soon rose again. | Ông Matte nằm xuống, nhưng rồi lại nhỏm dậy. |
| ‘The weathercock is squeaking now,’ said he. | “Bây giờ con gà gió đang rít lên kìa,” ông bảo. |
| ‘Just fancy! Go to sleep,’ said his wife; and the old man tried to. | “Tưởng tượng thôi! Ngủ đi ông,” vợ ông nói; và ông lão cố ngủ. |
| For the third time he jumped out of bed. | Đến lần thứ ba, ông nhảy phắt ra khỏi giường. |
| ‘Ho! how the weather-cock is roaring at the pitch of its voice, as if it had a fire inside it! We are going to have a tempest, and must bring in the net.’ | “Hô! Con gà gió đang gào thét hết cỡ như thể có lửa đốt bên trong vậy! Bão to đến nơi rồi, phải đi thu lưới về thôi.” |
| Both rose. | Cả hai cùng dậy. |
| The summer night was as dark as if it had been October, the weather-cock creaked, and the storm was raging in every direction. | Đêm hè tối đen như mực tựa như đêm tháng Mười, con gà gió kêu ken két, và cơn bão đang hoành hành tứ phía. |
| As they went out the sea lay around them as white as now, and the spray was dashing right over the fisher-hut. | Khi họ bước ra ngoài, biển cả bao quanh trắng xóa như tuyết, và bụi nước bắn tung tóe qua cả mái lều. |
| In all his life Matte had never remembered such a night. | Cả đời mình, ông Matte chưa từng nhớ có đêm nào kinh khủng như thế. |
| To launch the boat and put to sea to rescue the net was a thing not to be thought of. | Việc hạ thuyền ra khơi để cứu tấm lưới là điều không tưởng. |
| The fisherman and his wife stood aghast on the doorstep, holding on fast by the doorpost, while the foam splashed over their faces. | Người đánh cá và vợ đứng chết lặng trước thềm, bám chặt vào khung cửa, trong khi bọt biển tạt ướt đẫm cả mặt. |
| ‘Did I not tell thee that there is no luck in Sunday fishing?’ said Matte sulkily; and his wife was so frightened that she never even once thought of Ahti‘s cows. | “Tôi đã bảo bà là đánh cá ngày Chủ nhật chẳng có gì tốt đẹp mà?” ông Matte cáu kỉnh nói; và vợ ông sợ đến mức chẳng còn mảy may nghĩ gì đến mấy con bò của Ahti nữa. |
| As there was nothing to be done, they went in. | Vì chẳng thể làm gì được nên họ quay vào nhà. |
| Their eyes were heavy for lack of slumber, and they slept as soundly as if there had not been such a thing as an angry sea roaring furiously around their lonely dwelling. | Mắt trĩu nặng vì thiếu ngủ, họ ngủ say sưa như thể chẳng hề có biển khơi giận dữ đang gầm gào điên cuồng quanh túp lều cô quạnh của mình. |
| When they awoke, the sun was high in the heavens, the tempest had cased, and only the swell of the sea rose in silvery heavings against the red rock. | Khi họ thức giấc, mặt trời đã lên cao, cơn bão đã tan, chỉ còn lại những đợt sóng biển dâng lên lấp lánh bạc vỗ vào tảng đá đỏ. |
| ‘What can that be?’ said the old woman, as she peeped out of the door. | “Cái gì thế kia?” bà lão hỏi khi ghé mắt nhìn qua cửa. |
| ‘It looks like a big seal,’ said Matte. | “Trông giống con hải cẩu lớn,” ông Matte nói. |
| ‘As sure as I live, it’s a cow!’ exclaimed Maie. | “Tôi thề có mạng sống của mình, đó là một con bò!” bà Maie reo lên. |
| And certainly it was a cow, a fine red cow, fat and flourishing, and looking as if it had been fed all its days on spinach. | Và quả đúng là một con bò, một con bò đỏ tuyệt đẹp, béo tốt mỡ màng, trông như thể cả đời chỉ toàn được ăn rau chân vịt vậy. |
| It wandered peacefully up and down the shore, and never so much as even looked at the poor little tufts of grass, as if it despised such fare. | Nó ung dung đi dạo dọc bờ biển, chẳng thèm liếc mắt đến những khóm cỏ lưa thưa còi cọc, như thể nó khinh thường thứ thức ăn ấy. |
| Matte could not believe his eyes. | Ông Matte không thể tin vào mắt mình. |
| But a cow she seemed, and a cow she was found to be; and when the old woman began to milk her, every pitcher and pan, even to the baler, was soon filled with the most delicious milk. | Nhưng trông nó giống bò, và hóa ra nó đúng là bò thật; và khi bà lão bắt đầu vắt sữa, mọi bình mọi chậu, thậm chí cả cái gáo múc nước thuyền, cũng nhanh chóng đầy ắp thứ sữa thơm ngon tuyệt hảo. |
| The old man troubled his head in vain as to how she came there, and sallied forth to seek for his lost net. | Ông lão vắt óc suy nghĩ mãi không hiểu sao nó lại ở đó, rồi ông đi ra ngoài tìm lại tấm lưới bị mất. |
| He had not proceeded far when he found it cast up on the shore, and so full of fish that not a mesh was visible. | Đi chưa được bao xa, ông thấy lưới bị sóng đánh dạt lên bờ, đầy ắp cá đến nỗi chẳng còn nhìn thấy mắt lưới nào. |
| ‘It is all very fine to possess a cow,’ said Matte, as he cleaned the fish; ‘but what are we going to feed her on?’ | “Có bò thì tốt đấy,” ông Matte vừa làm cá vừa nói; “nhưng ta lấy gì cho nó ăn đây?” |
| ‘We shall find some means,’ said his wife; and the cow found the means herself. | “Rồi sẽ có cách thôi,” vợ ông nói; và con bò đã tự tìm ra cách. |
| She went out and cropped the seaweed which grew in great abundance near the shore, and always kept in good condition. | Nó lội ra biển và gặm rong biển mọc đầy rẫy gần bờ, và lúc nào cũng giữ được vẻ béo tốt. |
| Every one Prince alone excepted, thought she was a clever beast; but Prince barked at her, for he had now got a rival. | Mọi người, trừ con Hoàng Tử, đều cho rằng đó là một con vật khôn ngoan; riêng Hoàng Tử thì cứ sủa nhặng lên, vì giờ đây nó đã có tình địch. |
| From that day the red rock overflowed with milk and junkets, and every net was filled with fish. | Kể từ ngày đó, tảng đá đỏ tràn ngập sữa và sữa đông, lưới nào kéo lên cũng đầy cá. |
| Matte and Maie grew fat on this fine living, and daily became richer. | Vợ chồng Matte béo tốt lên nhờ cuộc sống sung túc ấy, và ngày càng trở nên giàu có. |
| She churned quantities of butter, and he hired two men to help him in his fishing. | Bà đánh được hàng đống bơ, còn ông thuê thêm hai người làm giúp việc đánh cá. |
| The sea lay before him like a big fish tank, out of which he hauled as many as he required; and the cow continued to fend for herself. | Biển cả nằm trước mặt ông như một bể cá khổng lồ, ông muốn bắt bao nhiêu tùy thích; còn con bò thì vẫn tiếp tục tự kiếm ăn. |
| In autumn, when Matte and Maie went ashore, the cow went to sea, and in spring, when they returned to the rock, there she stood awaiting them. | Mùa thu đến, khi vợ chồng Matte vào đất liền, con bò đi xuống biển, và sang xuân khi họ quay lại tảng đá, nó đã đứng đó đợi sẵn. |
| ‘We shall require a better house,’ said Maie the following summer; ‘the old one is too small for ourselves and the men.’ | “Chúng ta cần một ngôi nhà tốt hơn,” bà Maie nói vào mùa hè năm sau; “cái nhà cũ này quá nhỏ cho vợ chồng mình và đám thợ.” |
| ‘Yes,’ said Matte. So he built a large cottage, with a real lock to the door, and a store-house for fish as well; and he and his men caught such quantities of fish that they sent tons of salmon, herring, and cod to Russian and Sweden. | “Được thôi,” ông Matte nói. Thế là ông xây một ngôi nhà lớn, có khóa cửa hẳn hoi, và thêm cả nhà kho chứa cá nữa; ông cùng những người thợ bắt được nhiều cá đến mức xuất khẩu hàng tấn cá hồi, cá trích và cá tuyết sang cả Nga và Thụy Điển. |
| ‘I am quite overworked with so many folk,’ said Maie; ‘a girl to help me would not come amiss.’ | “Tôi làm không xuể với bao nhiêu người thế này,” bà Maie than vãn; “có thêm một cô hầu gái đỡ đần thì tốt biết mấy.” |
| ‘Get one, then,’ said her husband; and so they hired a girl. | “Thì thuê một cô,” chồng bà bảo; và thế là họ thuê một cô hầu gái. |
| Then Maie said: ‘We have too little milk for all these folk. Now that I have a servant, with the same amount of trouble she could look after three cows.’ | Rồi bà Maie lại nói: “Chúng ta có ít sữa quá, không đủ cho bao nhiêu người này. Giờ đã có người hầu rồi, đằng nào cũng một công chăm sóc, cô ta có thể trông nom ba con bò.” |
| ‘All right, then,’ said her husband, somewhat provoked, ‘you can sing a song to the fairies.’ | “Được rồi,” chồng bà nói, giọng hơi bực dọc, “bà cứ hát bài ca cho thần tiên nghe đi.” |
| This annoyed Maie, but nevertheless she rowed out to sea on Sunday night and sang as before:
Oh, Ahti, with the long, long beard, |
Điều này làm bà Maie phật ý, nhưng bà vẫn chèo thuyền ra khơi vào tối thứ Bảy và hát như lần trước:
Hỡi Ahti râu dài vô tận, |
| The following morning, instead of one, three cows stood on the island, and they all ate seaweed and fended for themselves like the first one. | Sáng hôm sau, thay vì một, có ba con bò đứng trên đảo, và tất cả đều ăn rong biển và tự kiếm sống y như con đầu tiên. |
| ‘Art thou satisfied now?’ said Matte to his wife. | “Giờ bà đã hài lòng chưa?” ông Matte hỏi vợ. |
| ‘I should be quite satisfied,’ said his wife, ‘if only I had two servants to help, and if I had some finer clothes. Don’t you know that I am addressed as Madam?’ | “Tôi sẽ rất hài lòng,” vợ ông nói, “nếu tôi có hai người hầu giúp việc, và có vài bộ quần áo đẹp hơn. Ông không biết là người ta gọi tôi là ‘Bà Chủ’ rồi sao?” |
| ‘Well, well,’ said her husband. So Maie got several servants and clothes fit for a great lady. | “Được rồi, được rồi,” chồng bà nói. Thế là bà Maie có thêm vài người hầu và những bộ xiêm y xứng tầm quý bà. |
| ‘Everything would now be perfect if only we had a little better dwelling for summer. You might build us a two-storey house, and fetch soil to make a garden. Then you might make a little arbour up there to let us have a sea-view; and we might have a fiddler to fiddle to us of an evening, and a little steamer to take us to church in stormy weather.’ | “Mọi thứ giờ sẽ hoàn hảo nếu chúng ta có nơi ở mùa hè tốt hơn chút nữa. Ông nên xây một ngôi nhà hai tầng, rồi chở đất về làm vườn. Sau đó ông dựng một cái chòi nghỉ mát trên kia để ngắm biển; chúng ta cũng cần một nhạc công kéo vĩ cầm mỗi tối, và một chiếc tàu hơi nước nhỏ để đi lễ nhà thờ những khi trời mưa bão.” |
| ‘Anything more?’ asked Matte; but he did everything that his wife wished. | “Còn gì nữa không?” ông Matte hỏi; nhưng rồi ông vẫn làm tất cả những gì vợ muốn. |
| The rock Ahtola became so grand and Maie so grand that all the sea-urchins and herring were lost in wonderment. | Tảng đá Ahtola trở nên lộng lẫy và bà Maie trở nên sang trọng đến nỗi lũ nhím biển và cá trích cứ gọi là lác mắt vì kinh ngạc. |
| Even Prince was fed on beefsteaks and cream scones till at last he was as round as a butter jar. | Ngay cả chó Hoàng Tử cũng được ăn bít tết và bánh nướng kem cho đến khi béo tròn như hũ bơ. |
| ‘Are you satisfied now?’ asked Matte. | “Giờ bà đã hài lòng chưa?” ông Matte hỏi. |
| ‘I should be quite satisfied,’ said Maie, ‘if only I had thirty cows. At least that number is required for such a household.’ | “Tôi sẽ hoàn toàn hài lòng,” bà Maie nói, “nếu tôi có ba mươi con bò. Ít nhất phải có ngần ấy mới đủ cho một gia ngơi thế này.” |
| ‘Go to the fairies,’ said Matte. | “Đi mà cầu thần tiên ấy,” ông Matte bảo. |
| His wife set out in the new steamer and sang to the sea-king. | Vợ ông liền đi chiếc tàu hơi nước mới ra khơi và hát cho Vua Biển nghe. |
| Next morning thirty cows stood on the shore, all finding food for themselves. | Sáng hôm sau, ba mươi con bò đã đứng trên bờ, tất cả đều tự tìm kiếm thức ăn. |
| ‘Know’st thou, good man, that we are far too cramped on this wretched rock, and where am I to find room for so many cows?’ | “Ông biết đấy ông nó ạ, cái tảng đá tồi tàn này chật chội quá rồi, tôi biết lấy chỗ đâu cho bấy nhiêu con bò?” |
| ‘There is nothing to be done but to pump out the sea.’ | “Chẳng còn cách nào khác ngoài việc bơm cạn biển đi.” |
| ‘Rubbish!’ said his wife. ‘Who can pump out the sea?’ | “Vớ vẩn!” vợ ông nói. “Ai mà bơm cạn biển được chứ?” |
| ‘Try with thy new steamer, there is a pump in it.’ | “Thử dùng cái tàu hơi nước mới của bà xem, trong đó có máy bơm đấy.” |
| Maie knew well that her husband was only making fun of her, but still her mind was set upon the same subject. | Bà Maie biết thừa chồng đang chế giễu mình, nhưng đầu óc bà vẫn cứ luẩn quẩn quanh chuyện đó. |
| ‘I never could pump the sea out,’ thought she, ‘but perhaps I might fill it up, if I were to make a big dam. I might heap up sand and stones, and make our island as big again.’ | “Mình không thể bơm cạn biển được,” bà nghĩ, “nhưng có lẽ mình có thể lấp biển, nếu mình đắp một con đập lớn. Mình có thể đổ cát và đá xuống, làm cho hòn đảo của mình rộng gấp đôi.” |
| Maie loaded her boat with stones and went out to sea. | Bà Maie chất đầy đá lên thuyền và ra khơi. |
| The fiddler was with her, and fiddled so finely that Ahti and Wellamos and all the sea’s daughters rose to the surface of the water to listen to the music. | Người nhạc công cũng đi cùng, anh ta kéo đàn hay đến nỗi thần Ahti, nữ thần Wellamos và tất cả các con gái của biển cả đều nổi lên mặt nước để lắng nghe. |
| ‘What is that shining so brightly in the waves?’ asked Maie. | “Cái gì đang sáng lấp lánh dưới sóng nước thế kia?” bà Maie hỏi. |
| ‘That is sea foam glinting in the sunshine,’ answered the fiddler. | “Đó là bọt biển lấp lánh dưới ánh nắng mặt trời đấy,” người nhạc công đáp. |
| ‘Throw out the stones,’ said Maie. | “Ném đá xuống đi,” bà Maie ra lệnh. |
| The people in the boat began to throw out the stones, splash, splash, right and left, into the foam. | Những người trên thuyền bắt đầu ném đá xuống, tùm, tũm, bên trái, bên phải, thẳng vào đám bọt biển. |
| One stone hit the nose of Wellamos‘s chief lady-in-waiting, another scratched the sea queen herself on the cheek, a third plumped close to Ahti‘s head and tore off half of the sea-king‘s beard; then there was a commotion in the sea, the waves bubbled and bubbled like boiling water in a pot. | Một hòn đá trúng mũi của người hầu nữ trưởng của Wellamos, hòn khác làm xước má chính nữ hoàng biển cả, và hòn thứ ba rơi tomm ngay sát đầu thần Ahti, giật đứt phăng một nửa bộ râu của Vua Biển; thế rồi biển cả náo động, sóng nước sủi bọt sùng sục như nước sôi trong nồi. |
| ‘Whence comes this gust of wind?’ said Maie; and as she spoke the sea opened and swallowed up the steamer. | “Cơn gió này từ đâu tới vậy?” bà Maie nói; và lời vừa dứt thì biển cả mở toang, nuốt chửng chiếc tàu hơi nước. |
| Maie sank to the bottom like a stone, but, stretching out her arms and legs, she rose to the surface, where she found the fiddler’s fiddle, and used it as a float. | Bà Maie chìm xuống đáy như một tảng đá, nhưng nhờ quẫy đạp tay chân, bà nổi lên mặt nước, vớ được cây đàn của người nhạc công và dùng nó làm phao. |
| At the same moment she saw close beside her the terrible head of Ahti, and he had only half a beard!’ | Ngay lúc đó, bà nhìn thấy cái đầu khủng khiếp của thần Ahti ngay bên cạnh, và ông ta chỉ còn có nửa bộ râu! |
| ‘Why did you throw stones at me?’ roared the sea-king. | “Tại sao ngươi dám ném đá vào ta?” Vua Biển gầm lên. |
| ‘Oh, your majesty, it was a mistake! Put some bear’s grease on your beard and that will soon make it grow again.’ | “Ôi tâu bệ hạ, đó là nhầm lẫn thôi ạ! Bệ hạ bôi ít mỡ gấu lên râu đi, nó sẽ mọc lại ngay ấy mà.” |
| ‘Dame, did I not give you all you asked for—nay, even more?’ | “Này mụ kia, chẳng phải ta đã cho mụ tất cả những gì mụ cầu xin—thậm chí còn nhiều hơn thế nữa sao?” |
| ‘Truly, truly, your majesty. Many thanks for the cows.’ | “Đúng, đúng vậy, tâu bệ hạ. Đa tạ bệ hạ vì đàn bò.” |
| ‘Well, where is the gold from the sun and the silver from the moon that you promised me?’ | “Thế vàng của mặt trời và bạc của mặt trăng mà mụ đã hứa với ta đâu?” |
| ‘Ah, your majesty, they have been scattered day and night upon the sea, except when the sky was overcast,’ slyly answered Maie. | “A, tâu bệ hạ, chúng vẫn rải đầy trên biển cả ngày lẫn đêm đấy thôi, trừ những khi trời u ám,” bà Maie lém lỉnh đáp. |
| ‘I’ll teach you!’ roared the sea-king; and with that he gave the fiddle such a ‘puff’ that it sent the old woman up like a sky-rocket on to her island. | “Ta sẽ dạy cho mụ một bài học!” Vua Biển gầm lên; và nói đoạn, ngài thổi phù một cái vào cây đàn mạnh đến nỗi hất tung bà lão bay vút như tên lửa về lại hòn đảo của mình. |
| There Prince lay, as famished as ever, gnawing the carcase of a crow. | Ở đó, chó Hoàng Tử đang nằm đói meo như thuở nào, gặm xác một con quạ. |
| There sat Matte in his ragged grey jacket, quite alone, on the steps of the old hut, mending a net. | Còn ông Matte, mặc chiếc áo khoác xám rách rưới, đang ngồi một mình trên bậc thềm túp lều cũ nát, vá tấm lưới đánh cá. |
| ‘Heavens, mother,’ said he, ‘where are you coming from at such a whirlwind pace, and what makes you in such a dripping condition?’ | “Trời ơi bà nó,” ông nói, “bà đi đâu về mà lao nhanh như cơn lốc thế, lại còn ướt sũng thế kia?” |
| Maie looked around her amazed, and said, ‘Where is our two-storey house?’ | Bà Maie ngơ ngác nhìn quanh và hỏi: “Ngôi nhà hai tầng của chúng ta đâu rồi?” |
| ‘What house?’ asked her husband. | “Nhà nào?” chồng bà hỏi. |
| ‘Our big house, and the flower garden, and the men and the maids, and the thirty beautiful cows, and the steamer, and everything else?’ | “Ngôi nhà lớn, vườn hoa, đám gia nhân, ba mươi con bò xinh đẹp, chiếc tàu hơi nước, và tất cả mọi thứ nữa đâu cả rồi?” |
| ‘You are talking nonsense, mother,’ said he. ‘The students have quite turned your head, for you sang silly songs last evening while we were rowing, and then you could not sleep till early morning. We had stormy weather during the night, and when it was past I did not wish to waken you, so rowed out alone to rescue the net.’ | “Bà nói năng lảm nhảm cái gì thế,” ông bảo. “Mấy cậu sinh viên làm bà lú lẫn mất rồi, chả thế mà chiều qua lúc chèo thuyền bà cứ hát mấy bài ngớ ngẩn, rồi trằn trọc mãi đến gần sáng mới ngủ được. Đêm qua bão to, khi bão tan tôi không nỡ đánh thức bà dậy nên đã một mình chèo thuyền ra cứu lưới.” |
| ‘But I’ve seen Ahti,’ rejoined Maie. | “Nhưng tôi đã gặp thần Ahti mà,” bà Maie cãi lại. |
| ‘You’ve been lying in bed, dreaming foolish fancies, mother, and then in your sleep you walked into the water.’ | “Bà nằm trên giường mơ mộng viển vông, rồi mộng du đi xuống nước đấy bà nó ạ.” |
| ‘But there is the fiddle,’ said Maie. | “Nhưng cây đàn vĩ cầm đây này,” bà Maie nói. |
| ‘A fine fiddle! It is only an old stick. No, no, old woman, another time we will be more careful. Good luck never attends fishing on a Sunday.’ | “Đàn với chả sáo! Chỉ là cái gậy mục thôi mà. Thôi thôi bà nó ơi, lần sau chúng ta phải cẩn thận hơn. Đánh cá vào ngày Chủ nhật chẳng bao giờ gặp may đâu.” |
| From Z. Topelius. | Theo Z. Topelius. |
| 2 Kalevala is a collection of old Finnish songs about gods and heroes. | 2 Kalevala là tuyển tập các bài hát cổ của Phần Lan về các vị thần và anh hùng. |
21 – Món quà của Vua Biển
Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa.