| The Raspberry Worm | Con Sâu Mâm Xôi |
|---|---|
| ‘Phew!’ cried Lisa. | “Khiếp quá!” Lisa kêu lên. |
| ‘Ugh!’ cried Aina. | “Eo ôi!” Aina thốt lên. |
| ‘What now?’ cried the big sister. | “Lại chuyện gì nữa thế?” người chị cả hỏi to. |
| ‘A worm!’ cried Lisa. | “Một con sâu!” Lisa la lớn. |
| ‘On the raspberry!’ cried Aina. | “Trên quả mâm xôi ấy!” Aina kêu. |
| ‘Kill it!’ cried Otto. | “Giết nó đi!” Otto hét lên. |
| ‘What a fuss over a poor little worm!’ said the big sister scornfully. | “Có mỗi con sâu bé tẹo tội nghiệp mà cũng làm ầm ĩ cả lên!” người chị cả bĩu môi nói. |
| ‘Yes, when we had cleaned the raspberries so carefully,’ said Lisa. | “Vâng, nhất là khi chúng em đã rửa sạch mâm xôi cẩn thận thế rồi,” Lisa nói. |
| ‘It crept out from that very large one,’ put in Aina. | “Nó bò ra từ cái quả to đùng kia kìa,” Aina xen vào. |
| ‘And supposing someone had eaten the raspberry,’ said Lisa. | “Và nhỡ đâu có ai đó ăn phải quả đấy,” Lisa nói. |
| ‘Then they would have eaten the worm, too,’ said Aina. | “Thì họ sẽ ăn luôn cả con sâu nữa,” Aina tiếp lời. |
| ‘Well, what harm?’ said Otto. | “Hừm, thế thì hại gì nào?” Otto bảo. |
| ‘Eat a worm!’ cried Lisa. | “Ăn một con sâu ấy á!” Lisa hét lên. |
| ‘And kill him with one bite!’ murmured Aina. | “Và cắn chết nó chỉ bằng một miếng!” Aina lầm bầm. |
| ‘Just think of it!’ said Otto laughing. | “Thử nghĩ mà xem!” Otto cười ngất. |
| ‘Now it is crawling on the table,’ cried Aina again. | “Giờ nó đang bò trên bàn kìa,” Aina lại la lên. |
| ‘Blow it away!’ said the big sister. | “Thổi bay nó đi!” chị cả bảo. |
| ‘Tramp on it!’ laughed Otto. | “Dẫm nát nó đi!” Otto cười lớn. |
| But Lisa took a raspberry leaf, swept the worm carefully on to the leaf and carried it out into the yard. | Nhưng Lisa lấy một chiếc lá mâm xôi, nhẹ nhàng gạt con sâu lên chiếc lá và mang nó ra sân. |
| Then Aina noticed that a sparrow sitting on the fence was just ready to pounce on the poor little worm, so she took up the leaf, carried it out into the wood and hid it under a raspberry bush where the greedy sparrow could not find it. | Rồi Aina nhận thấy một con chim sẻ đang đậu trên hàng rào đã sẵn sàng lao xuống vồ lấy con sâu bé bỏng tội nghiệp, thế là cô bé cầm lấy chiếc lá, mang nó vào trong rừng và giấu dưới một bụi mâm xôi, nơi con chim sẻ tham lam kia không thể tìm thấy. |
| Yes, and what more is there to tell about a raspberry worm? | Phải rồi, còn chuyện gì để kể về một con sâu mâm xôi nữa chứ? |
| Who would give three straws for such a miserable little thing? | Ai mà thèm bận tâm đến một sinh vật nhỏ bé thảm hại như thế? |
| Yes, but who would not like to live in such a pretty home as it lives in; in such a fresh fragrant dark-red cottage, far away in the quiet wood among flowers and green leaves! | Phải, nhưng ai mà chẳng muốn được sống trong một ngôi nhà xinh xắn như nơi nó đang ở; trong một ngôi nhà nhỏ màu đỏ thẫm tươi mát và thơm ngát, ẩn sâu trong khu rừng yên tĩnh giữa những bông hoa và tán lá xanh! |
| Now it was just dinner time, so they all had a dinner of raspberries and cream. | Giờ đã đến giờ ăn tối, nên cả nhà dùng bữa tối với món mâm xôi trộn kem. |
| ‘Be careful with the sugar, Otto,’ said the big sister; but Otto’s plate was like a snowdrift in winter, with just a little red under the snow. | “Cẩn thận với hũ đường nhé Otto,” người chị cả nhắc; nhưng đĩa của Otto trông cứ như một đống tuyết mùa đông, chỉ lộ ra chút xíu màu đỏ bên dưới lớp tuyết trắng. |
| Soon after dinner the big sister said: ‘Now we have eaten up the raspberries and we have none left to make preserve for the winter; it would be fine if we could get two baskets full of berries, then we could clean them this evening, and to-morrow we could cook them in the big preserving pan, and then we should have raspberry jam to eat on our bread!’ | Ngay sau bữa tối, chị cả bảo: “Giờ chúng ta đã ăn hết sạch mâm xôi rồi và chẳng còn tí nào để làm mứt dự trữ cho mùa đông cả; sẽ thật tuyệt nếu chúng ta kiếm được hai giỏ đầy ắp quả, tối nay mình sẽ rửa sạch, rồi ngày mai nấu trong cái chảo lớn, thế là ta sẽ có mứt mâm xôi để ăn với bánh mì!” |
| ‘Come, let us go to the wood and pick,’ said Lisa. | “Nào, mình vào rừng hái đi,” Lisa nói. |
| ‘Yes, let us,’ said Aina. | “Ừ, đi thôi,” Aina đáp. |
| ‘You take the yellow basket and I will take the green one.’ | “Chị cầm cái giỏ màu vàng còn em sẽ cầm cái màu xanh lá.” |
| ‘Don’t get lost, and come back safely in the evening,’ said the big sister. | “Đừng để bị lạc, và nhớ về nhà an toàn trước khi trời tối nhé,” người chị cả dặn dò. |
| ‘Greetings to the raspberry worm,’ said Otto, mockingly. | “Gửi lời chào con sâu mâm xôi nhé,” Otto nói giọng chế giễu. |
| ‘Next time I meet him I shall do him the honour of eating him up.’ | “Lần tới gặp nó, anh sẽ ban cho nó vinh dự được anh ăn ngấu nghiến.” |
| So Aina and Lisa went off to the wood. | Thế là Aina và Lisa đi vào rừng. |
| Ah! how delightful it was there, how beautiful! | Chao ôi! Ở đó mới thú vị và đẹp đẽ làm sao! |
| It was certainly tiresome sometimes climbing over the fallen trees, and getting caught in the branches, and waging war with the juniper bushes and the midges, but what did that matter? | Quả thật đôi khi cũng hơi mệt khi phải trèo qua những thân cây đổ, hay bị mắc kẹt vào các cành cây, rồi phải chiến đấu với những bụi bách xù và đám muỗi mắt, nhưng thế thì có xá gì? |
| The girls climbed well in their short dresses, and soon they were deep in the wood. | Hai cô bé mặc váy ngắn nên leo trèo rất giỏi, và chẳng mấy chốc họ đã tiến sâu vào trong rừng. |
| There were plenty of bilberries and elder berries, but no raspberries. | Có rất nhiều quả việt quất đen và quả cơm cháy, nhưng lại chẳng thấy mâm xôi đâu. |
| They wandered on and on, and at last they came… | Họ lang thang mãi, và cuối cùng họ đến… |
| No, it could not be true!… they came to a large raspberry wood. | Không, không thể là thật được!… họ đã đến một rừng mâm xôi rộng lớn. |
| The wood had been on fire once, and now raspberry bushes had grown up, and there were raspberry bushes and raspberry bushes as far as the eye could see. | Khu rừng này đã từng bị cháy một lần, và giờ thì những bụi mâm xôi đã mọc lên, mâm xôi nối tiếp mâm xôi ngút ngàn tầm mắt. |
| Every bush was weighted to the ground with the largest, dark red, ripe raspberries, such a wealth of berries as two little berry pickers had never found before! | Bụi nào cũng trĩu xuống sát đất vì những quả mâm xôi to nhất, đỏ thẫm và chín mọng, một kho báu trái cây dồi dào mà hai cô bé hái quả chưa từng thấy bao giờ! |
| Lisa picked, Aina picked. | Lisa hái, Aina hái. |
| Lisa ate, Aina ate, and in a little while their baskets were full. | Lisa ăn, Aina cũng ăn, và chỉ một loáng sau giỏ của hai cô bé đã đầy ắp. |
| ‘Now we shall go home,’ said Aina. | “Giờ mình về nhà thôi,” Aina bảo. |
| ‘No, let us gather a few more,’ said Lisa. | “Khoan, hái thêm một ít nữa đi,” Lisa nói. |
| So they put the baskets down on the ground and began to fill their pinafores, and it was not long before their pinafores were full, too. | Vậy là họ đặt giỏ xuống đất và bắt đầu hái đầy vào vạt tạp dề, chẳng bao lâu sau tạp dề của họ cũng đầy ứ. |
| ‘Now we shall go home,’ said Lina. | “Giờ thì về thôi,” Lina nói. |
| ‘Yes, now we shall go home,’ said Aina. | “Ừ, giờ chúng ta về nhà thôi,” Aina đáp. |
| Both girls took a basket in one hand and held up her apron in the other and then turned to go home. | Cả hai cô bé một tay xách giỏ, tay kia túm vạt tạp dề lên và quay người định về nhà. |
| But that was easier said than done. | Nhưng nói thì dễ hơn làm. |
| They had never been so far in the great wood before, they could not find any road nor path, and soon the girls noticed that they had lost their way. | Họ chưa từng đi sâu vào khu rừng lớn thế này bao giờ, họ chẳng tìm thấy con đường hay lối mòn nào, và hai cô bé sớm nhận ra rằng mình đã bị lạc. |
| The worst of it was that the shadows of the tress were becoming so long in the evening sunlight, the birds were beginning to fly home, and the day was closing in. | Tệ nhất là những bóng cây đang đổ dài dưới ánh nắng chiều tà, chim chóc đã bắt đầu bay về tổ, và ngày đang khép lại. |
| At last the sun went down behind the pine tops, and it was cool and dusky in the great wood. | Cuối cùng, mặt trời lặn sau những ngọn thông, và không khí trở nên mát lạnh, mờ tối trong khu rừng già. |
| The girls became anxious but went steadily on, expecting that the wood would soon end, and that they would see the smoke from the chimneys of their home. | Các cô gái bắt đầu lo lắng nhưng vẫn kiên trì bước tiếp, hy vọng rằng khu rừng sẽ sớm kết thúc, và họ sẽ nhìn thấy khói tỏa ra từ ống khói nhà mình. |
| After they had wandered on for a long time it began to grow dark. | Sau khi lang thang một hồi lâu, trời bắt đầu tối hẳn. |
| At last they reached a great plain overgrown with bushes, and when they looked around them, they saw, as much as they could in the darkness, that they were among the same beautiful raspberry bushes from which they had picked their baskets and their aprons full. | Cuối cùng họ đến một vùng đất bằng phẳng rộng lớn mọc đầy bụi rậm, và khi nhìn quanh, trong bóng tối lờ mờ, họ nhận ra mình vẫn đang ở giữa những bụi mâm xôi xinh đẹp y hệt nơi họ đã hái đầy giỏ và tạp dề lúc nãy. |
| Then they were so tired that they sat down on a stone and began to cry. | Khi ấy, vì quá mệt mỏi, họ ngồi phịch xuống một tảng đá và òa khóc. |
| ‘I am so hungry,’ said Lisa. | “Em đói quá,” Lisa nói. |
| ‘Yes,’ said Aina, ‘if we had only two good meat sandwiches now.’ | “Ừ,” Aina đáp, “giá mà bây giờ mình có hai cái bánh mì kẹp thịt thật ngon nhỉ.” |
| As she said that, she felt something in her hand, and when she looked down, she saw a large sandwich of bread and chicken, and at the same time Lisa said: ‘How very queer! I have a sandwich in my hand.’ | Cô bé vừa dứt lời thì cảm thấy có vật gì đó trong tay, nhìn xuống, cô thấy một chiếc bánh mì kẹp thịt gà to tướng, và cùng lúc đó Lisa cũng thốt lên: “Kỳ lạ chưa kìa! Em có một chiếc bánh kẹp trong tay này.” |
| ‘And I, too,’ said Aina. ‘Will you dare to eat it?’ | “Chị cũng thế,” Aina nói. “Em có dám ăn không?” |
| ‘Of course I will,’ said Lisa. ‘Ah, if we only had a good glass of milk now!’ | “Tất nhiên là có rồi,” Lisa đáp. “Ái chà, giá mà bây giờ có thêm ly sữa ngon nữa nhỉ!” |
| Just as she said that she felt a large glass of milk between her fingers, and at the same time Aina cried out, ‘Lisa! Lisa! I have a glass of milk in my hand! Isn’t it queer?’ | Vừa nói dứt câu, cô bé cảm thấy một ly sữa lớn giữa những ngón tay mình, cùng lúc ấy Aina reo lên: “Lisa! Lisa! Chị có một ly sữa trên tay này! Kỳ lạ chưa?” |
| The girls, however, were very hungry, so they ate and drank with a good appetite. | Tuy nhiên, hai cô bé đang rất đói, nên họ ăn và uống rất ngon lành. |
| When they had finished Aina yawned, stretched out her arms and said: ‘Oh, if only we had a nice soft bed to sleep on now!’ | Khi ăn xong, Aina ngáp dài, vươn vai và nói: “Ôi, giá mà có một chiếc giường êm ái để ngủ bây giờ!” |
| Scarcely had she spoken before she felt a nice soft bed by her side, and there beside Lisa was one too. | Cô bé vừa dứt lời thì đã thấy một chiếc giường êm ái hiện ra bên cạnh, và bên phía Lisa cũng có một cái. |
| This seemed to the girls more and more wonderful, but tired and sleepy as they were, they thought no more about it, but crept into the little beds, drew the coverlets over their heads and were soon asleep. | Điều này đối với hai cô bé ngày càng trở nên kỳ diệu, nhưng vì quá mệt và buồn ngủ, họ chẳng nghĩ ngợi gì thêm, liền chui vào những chiếc giường nhỏ, kéo chăn trùm kín đầu và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ. |
| When they awoke the sun was high in the heavens, the wood was beautiful in the summer morning, and the birds were flying about in the branches and the tree tops. | Khi họ thức giấc, mặt trời đã lên cao trên bầu trời, khu rừng trở nên tuyệt đẹp trong buổi sáng mùa hè, và chim chóc đang bay lượn giữa những cành cây và ngọn cây. |
| At first the girls were filled with wonder when they saw that they had slept in the wood among the raspberry bushes. | Lúc đầu, hai cô bé vô cùng ngạc nhiên khi thấy mình đã ngủ trong rừng giữa những bụi mâm xôi. |
| They looked at each other, they looked at their beds, which were of the finest flax covered over with leaves and moss. | Họ nhìn nhau, rồi nhìn những chiếc giường được làm từ vải lanh hảo hạng phủ đầy lá và rêu. |
| At last Lisa said: ‘Are you awake, Aina?’ | Cuối cùng Lisa hỏi: “Chị dậy chưa, Aina?” |
| ‘Yes,’ said Aina. | “Rồi,” Aina đáp. |
| ‘But I am still dreaming,’ said Lisa. | “Nhưng em vẫn đang mơ,” Lisa nói. |
| ‘No,’ said Aina, ‘but there is certainly some good fairy living among these raspberry bushes. | “Không đâu,” Aina bảo, “nhưng chắc chắn là có một bà tiên tốt bụng nào đó sống giữa những bụi mâm xôi này. |
| Ah, if we had only a hot cup of coffee now, and a nice piece of white bread to dip into it!’ | Ôi, ước gì bây giờ có một tách cà phê nóng và một miếng bánh mì trắng ngon lành để chấm vào nhỉ!” |
| Scarcely had she finished speaking when she saw beside her a little silver tray with a gilt coffee-pot, two cups of rare porcelain, a sugar basin of fine crystal, silver sugar tongs, and some good fresh white bread. | Cô bé vừa dứt lời thì thấy ngay bên cạnh là một cái khay bạc nhỏ với bình cà phê mạ vàng, hai chiếc tách bằng sứ quý hiếm, một hũ đường bằng pha lê tinh xảo, kẹp đường bằng bạc và vài lát bánh mì trắng tươi ngon. |
| The girls poured out the beautiful coffee, put in the cream and sugar, and tasted it; never in their lives had they drunk such beautiful coffee. | Hai cô gái rót thứ cà phê tuyệt hảo ấy ra, thêm kem và đường rồi nếm thử; cả đời họ chưa bao giờ được uống thứ cà phê nào ngon như thế. |
| ‘Now I should like to know very much who has given us all this,’ said Lisa gratefully. | “Bây giờ em rất muốn biết ai đã ban cho chúng ta tất cả những thứ này,” Lisa nói với vẻ biết ơn. |
| ‘I have, my little girls,’ said a voice just then from the bushes. | “Là ta đấy, các cô bé của ta,” một giọng nói vang lên từ trong bụi rậm ngay lúc đó. |
| The children looked round wonderingly, and saw a little kind-looking old man, in a white coat and a red cap, limping out from among the bushes, for he was lame in his left foot; neither Lisa nor Aina could utter a word, they were so filled with surprise. | Lũ trẻ ngạc nhiên nhìn quanh, và thấy một ông già nhỏ bé có vẻ mặt hiền từ, mặc áo khoác trắng và đội mũ đỏ, đang tập tễnh bước ra từ bụi cây, vì chân trái ông bị tật; cả Lisa và Aina đều chẳng thốt nên lời vì quá kinh ngạc. |
| ‘Don’t be afraid, little girls,’ he said smiling kindly at them; he could not laugh properly because his mouth was crooked. | “Đừng sợ, các cô bé,” ông mỉm cười nhân hậu với họ; ông không thể cười bình thường được vì miệng ông bị méo. |
| ‘Welcome to my kingdom! Have you slept well and eaten well and drunk well?’ he asked. | “Chào mừng đến với vương quốc của ta! Các cháu ngủ có ngon, ăn có no và uống có đã không?” ông hỏi. |
| ‘Yes, indeed we have,’ said both the girls, ‘but tell us…’ and they wanted to ask who the old man was, but were afraid to. | “Dạ có ạ, rất ngon ạ,” cả hai cô bé cùng đáp, “nhưng hãy cho chúng cháu biết…” và họ muốn hỏi ông lão là ai, nhưng lại sợ. |
| ‘I will tell you who I am,’ said the old man; ‘I am the raspberry king, who reigns over all this kingdom of raspberry bushes, and I have lived here for more than a thousand years. | “Ta sẽ cho các cháu biết ta là ai,” ông lão nói; “Ta là Vua Mâm Xôi, cai quản toàn bộ vương quốc bụi mâm xôi này, và ta đã sống ở đây hơn một nghìn năm rồi.” |
| But the great spirit who rules over the woods, and the sea, and the sky, did not want me to become proud of my royal power and my long life. | “Nhưng vị thần vĩ đại cai quản rừng, biển và bầu trời không muốn ta trở nên kiêu ngạo vì quyền lực hoàng gia và tuổi thọ ngàn năm của mình.” |
| Therefore he decreed that one day in every hundred years I should change into a little raspberry worm, and live in that weak and helpless form from sunrise to sunset. | “Vì thế, ngài đã ra lệnh rằng cứ một trăm năm thì có một ngày, ta phải biến thành một con sâu mâm xôi nhỏ bé, và sống trong hình hài yếu ớt, bất lực đó từ khi mặt trời mọc cho đến khi mặt trời lặn.” |
| During that time my life is dependent on the little worm’s life, so that a bird can eat me, a child can pick me with the berries and trample under foot my thousand years of life. | “Trong thời gian đó, mạng sống của ta phụ thuộc vào sinh mạng của con sâu nhỏ, nên một con chim có thể ăn thịt ta, một đứa trẻ có thể hái ta cùng với quả và dẫm nát ngàn năm tuổi thọ của ta dưới chân.” |
| Now yesterday was just my transformation day, and I was taken with the raspberry and would have been trampled to death if you had not saved my life. | “Và ngày hôm qua chính là ngày biến hình của ta, ta đã bị hái cùng với quả mâm xôi và lẽ ra đã bị dẫm chết nếu các cháu không cứu mạng ta.” |
| Until sunset I lay helpless in the grass, and when I was swept away from your table I twisted one of my feet, and my mouth became crooked with terror; but when evening came and I could take my own form again, I looked for you to thank you and reward you. | “Ta nằm bất lực trên cỏ cho đến khi mặt trời lặn, và khi bị quét khỏi bàn ăn, ta đã bị trẹo một chân, miệng thì méo đi vì sợ hãi; nhưng khi màn đêm buông xuống và ta có thể trở lại hình hài cũ, ta đã đi tìm các cháu để cảm ơn và đền đáp.” |
| Then I found you both here in my kingdom, and tried to meet you both as well as I could without frightening you. | “Sau đó, ta tìm thấy cả hai cháu ở đây trong vương quốc của ta, và cố gắng tiếp đón các cháu chu đáo nhất có thể mà không làm các cháu sợ hãi.” |
| Now I will send a bird from my wood to show you the way home. | “Bây giờ ta sẽ cử một chú chim từ rừng của ta để dẫn đường cho các cháu về nhà. |
| Good-bye, little children, thank you for your kind hearts; the raspberry king can show that he is not ungrateful.’ | Tạm biệt, những đứa trẻ bé bỏng, cảm ơn vì tấm lòng nhân hậu của các cháu; Vua Mâm Xôi sẽ chứng tỏ rằng ông không phải là kẻ vô ơn.” |
| The children shook hands with the old man and thanked him, feeling very glad that they had saved the little raspberry worm. | Lũ trẻ bắt tay ông lão và cảm ơn ông, trong lòng cảm thấy rất vui vì mình đã cứu con sâu mâm xôi nhỏ bé. |
| They were just going when the old man turned round, smiled mischievously with his crooked mouth, and said: ‘Greetings to Otto from me, and tell him when I meet him again I shall do him the honour of eating him up.’ | Họ vừa định đi thì ông lão quay lại, mỉm cười tinh quái với cái miệng méo xệch và nói: “Cho ta gửi lời chào đến Otto, và nhắn với nó rằng lần sau gặp lại, ta sẽ ban cho nó vinh dự được ta ăn thịt.” |
| ‘Oh, please don’t do that,’ cried both the girls, very frightened. | “Ôi, xin đừng làm thế,” cả hai cô bé hoảng sợ kêu lên. |
| ‘Well, for your sake I will forgive him,’ said the old man, ‘I am not revengeful. | “Thôi được, vì nể mặt các cháu, ta sẽ tha cho nó,” ông lão nói, “Ta không phải là người hay thù dai. |
| Greetings to Otto and tell him that he may expect a gift from me, too. Good-bye.’ | Gửi lời chào Otto và bảo rằng nó cũng sẽ nhận được một món quà từ ta đấy. Tạm biệt.” |
| The two girls, light of heart, now took their berries and ran off through the wood after the bird; and soon it began to get lighter in the wood and they wondered how they could have lost their way yesterday, it seemed so easy and plain now. | Hai cô gái nhẹ nhõm trong lòng, xách giỏ quả mọng chạy băng qua rừng đuổi theo chú chim; chẳng mấy chốc khu rừng bắt đầu sáng sủa hơn và họ tự hỏi sao hôm qua mình lại lạc đường được nhỉ, giờ thì đường đi trông thật dễ dàng và rõ ràng. |
| One can imagine what joy there was when the two reached home. | Có thể tưởng tượng được niềm vui vỡ òa khi hai cô bé về đến nhà. |
| Everyone had been looking for them, and the big sister had not been able to sleep, for she thought the wolves had eaten them up. | Mọi người đã đi tìm họ khắp nơi, và chị cả đã không thể chợp mắt vì nghĩ rằng sói đã ăn thịt các em rồi. |
| Otto met them; he had a basket in his hand and said: ‘Look, here is something that an old man has just left for you.’ | Otto ra đón họ; cậu bé cầm một cái giỏ trên tay và nói: “Nhìn này, đây là thứ một ông già vừa để lại cho các em đấy.” |
| When the girls looked into the basket they saw a pair of most beautiful bracelets of precious stones, dark red, and made in the shape of a ripe raspberry and with an inscription: ‘To Lisa and Aina’; beside them there was a diamond breast pin in the shape of a raspberry worm: on it was inscribed ‘Otto, never destroy the helpless!’ | Khi các cô gái nhìn vào giỏ, họ thấy một cặp vòng tay tuyệt đẹp đính đá quý, màu đỏ thẫm, được làm theo hình dáng của quả mâm xôi chín mọng với dòng chữ khắc: “Tặng Lisa và Aina”; bên cạnh đó là một chiếc ghim cài áo bằng kim cương hình con sâu mâm xôi, trên đó khắc dòng chữ: “Otto, đừng bao giờ tiêu diệt những kẻ yếu thế!” |
| Otto felt rather ashamed: he quite understood what it meant, but he thought that the old man’s revenge was a noble one. | Otto cảm thấy khá xấu hổ: cậu hoàn toàn hiểu ý nghĩa của nó, nhưng cậu nghĩ rằng sự trả thù của ông lão thật cao thượng. |
| The raspberry king had also remembered the big sister, for when she went in to set the table for dinner, she found eleven big baskets of most beautiful raspberries, and no one knew how they had come there, but everyone guessed. | Vua Mâm Xôi cũng nhớ đến người chị cả, vì khi cô vào dọn bàn ăn tối, cô tìm thấy mười một giỏ mâm xôi to tướng đẹp nhất trần đời, và không ai biết chúng từ đâu đến, nhưng ai cũng đoán ra được. |
| And so there was such a jam-making as had never been seen before, and if you like to go and help in it, you might perhaps get a little, for they must surely be making jam still to this very day. | Và thế là một cuộc làm mứt chưa từng thấy đã diễn ra, và nếu bạn muốn đến giúp một tay, có lẽ bạn sẽ được chia một ít đấy, vì chắc chắn là họ vẫn đang làm mứt cho đến tận ngày hôm nay. |
| From Z. Topelius. | Theo Z. Topelius. |
Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa.