6 – Thiên Đường Đã Mất

A Lost Paradise Thiên Đường Đã Mất
In the middle of a great forest there lived a long time ago a charcoal-burner and his wife. Ngày xửa ngày xưa, giữa một khu rừng già nọ, có hai vợ chồng người thợ đốt than sinh sống.
They were both young and handsome and strong, and when they got married, they thought work would never fail them. Cả hai đều trẻ trung, ưa nhìn và khỏe mạnh, khi mới lấy nhau, họ cứ ngỡ mình sẽ chẳng bao giờ lo thiếu việc làm.
But bad times came, and they grew poorer and poorer, and the nights in which they went hungry to bed became more and more frequent. Nhưng rồi vận đen ập đến, họ ngày càng trở nên nghèo túng, và những đêm phải đi ngủ với cái bụng đói meo diễn ra ngày một thường xuyên hơn.
Now one evening the king of that country was hunting near the charcoal-burner’s hut. Vào một buổi tối nọ, nhà vua nước ấy đang đi săn gần túp lều của người thợ đốt than.
As he passed the door, he heard a sound of sobbing, and being a good-natured man he stopped to listen, thinking that perhaps he might be able to give some help. Khi ngang qua cửa, ngài nghe thấy tiếng khóc thút thít, và vốn là người có tấm lòng nhân hậu, ngài dừng lại lắng nghe, nghĩ bụng rằng biết đâu mình có thể giúp đỡ được chút gì.
‘Were there ever two people so unhappy!’ said a woman’s voice. “Có bao giờ lại có hai kẻ bất hạnh đến nhường này không cơ chứ!” một giọng phụ nữ cất lên.
‘Here we are, ready to work like slaves the whole day long, and no work can we get. “Vợ chồng ta sẵn sàng làm lụng quần quật như nô lệ cả ngày, thế mà chẳng kiếm đâu ra việc.”
And it is all because of the curiosity of old mother Eve! “Và tất cả cũng chỉ tại cái tính tò mò của bà tổ Eve mà ra!”
If she had only been like me, who never want to know anything, we should all have been as happy as kings to-day, with plenty to eat, and warm clothes to wear. “Giá như bà ấy được giống như tôi, người chẳng bao giờ muốn tọc mạch điều gì, thì ngày nay chúng ta đã sướng như vua, ăn no mặc ấm rồi.”
Why—’ but at this point a loud knock interrupted her lamentations. “Tại sao…” – nhưng đúng lúc này, một tiếng gõ cửa mạnh ngắt ngang lời than vãn của chị.
‘Who is there?’ asked she. “Ai đấy?” chị vợ hỏi.
‘I!’ replied somebody. “Ta!” một người đáp lại.
‘And who is “I”?’ “Thế ‘Ta’ là ai?”
‘The king. Let me in.’ “Là nhà vua. Hãy mở cửa cho ta.”
Full of surprise the woman jumped up and pulled the bar away from the door. Vô cùng sửng sốt, người vợ bật dậy rút then cài cửa.
As the king entered, he noticed that there was no furniture in the room at all, not even a chair, so he pretended to be in too great a hurry to see anything around him, and only said ‘You must not let me disturb you. Khi nhà vua bước vào, ngài nhận thấy trong phòng trống trơn không có lấy một món đồ đạc, thậm chí chẳng có nổi một chiếc ghế, thế nên ngài bèn giả vờ như đang rất vội vã để không phải nhìn ngắm xung quanh, ngài chỉ nói: “Đừng để ta làm phiền hai ngươi.
I have no time to stay, but you seemed to be in trouble. Tell me; are you very unhappy?’ Ta không có thời gian ở lâu, nhưng các ngươi có vẻ đang gặp chuyện buồn phiền. Hãy nói ta nghe, các ngươi đang khổ sở lắm sao?”
‘Oh, my lord, we can find no work and have eaten nothing for two days!’ answered she. “Tâu bệ hạ, chúng thần không tìm được việc làm và đã hai ngày nay chưa có gì bỏ bụng!” chị vợ đáp.
‘Nothing remains for us but to die of hunger.’ “Chẳng còn nước nào khác ngoài chết đói cả.”
‘No, no, you shan’t do that,’ cried the king, ‘or if you do, it will be your own fault. “Không, không, các ngươi không phải chết đâu,” nhà vua kêu lên, “hoặc giả nếu có chết, thì đó là lỗi của chính các ngươi.”
You shall come with me into my palace, and you will feel as if you were in Paradise, I promise you. “Các ngươi hãy theo ta về hoàng cung, ta hứa rằng các ngươi sẽ cảm thấy như đang sống nơi Thiên Đường vậy.
In return, I only ask one thing of you, that you shall obey my orders exactly.’ Đổi lại, ta chỉ yêu cầu một điều duy nhất, đó là các ngươi phải tuân lệnh ta một cách tuyệt đối.”
The charcoal-burner and his wife both stared at him for a moment, as if they could hardly believe their ears; and, indeed, it was not to be wondered at! Người thợ đốt thanvợ sững sờ nhìn nhà vua một lúc, ngỡ như không tin nổi vào tai mình; mà quả thật, điều đó cũng chẳng có gì lạ!
Then they found their tongues, and exclaimed together: Rồi khi hoàn hồn và cất lời được, họ đồng thanh thốt lên:
‘Oh, yes, yes, my lord! we will do everything you tell us. “Ôi, vâng, vâng, muôn tâu bệ hạ! Chúng thần xin làm mọi điều người sai bảo.
How could we be so ungrateful as to disobey you, when you are so kind?’ Người đã tốt bụng nhường ấy, sao chúng thần lại có thể vô ơn mà làm trái lệnh người được ạ?”
The king smiled, and his eyes twinkled. Nhà vua mỉm cười, đôi mắt ánh lên vẻ tinh nghịch.
‘Well, let us start at once,’ said he. “Được, vậy ta đi ngay thôi,” ngài nói.
‘Lock your door, and put the key in your pocket.’ “Hãy khóa cửa lại và cất chìa vào túi.”
The woman looked as if she thought this was needless, seeing it was quite, quite certain they would never come back. Người vợ có vẻ nghĩ việc ấy thật thừa thãi, bởi thấy chắc như đinh đóng cột là họ sẽ chẳng đời nào quay lại đây nữa.
But she dared not say so, and did as the king told her. Nhưng chị không dám nói ra, và cứ làm theo lời vua dặn.
After walking through the forest for a couple of miles, they all three reached the palace, and by the king’s orders servants led the charcoal-burner and his wife into rooms filled with beautiful things such as they had never even dreamed of. Sau khi cuốc bộ vài dặm đường rừng, cả ba về đến hoàng cung, và theo lệnh vua, lính hầu đưa vợ chồng người thợ đốt than vào những căn phòng lộng lẫy xa hoa mà họ chưa từng thấy ngay cả trong mơ.
First they bathed in green marble baths where the water looked like the sea, and then they put on silken clothes that felt soft and pleasant. Đầu tiên, họ được tắm trong những bồn đá cẩm thạch xanh ngọc với làn nước trong veo tựa nước biển, rồi họ khoác lên mình những bộ xiêm y bằng lụa mềm mại và dễ chịu.
When they were ready, one of the king’s special servants entered, and took them into a small hall, where dinner was laid, and this pleased them better than anything else. Khi họ đã sẵn sàng, một người hầu cận thân tín của nhà vua bước vào, dẫn họ tới một sảnh nhỏ nơi bữa tối đã được bày biện, và điều này làm họ hài lòng hơn bất cứ thứ gì khác.
They were just about to sit down to the table when the king walked in. Họ vừa định ngồi vào bàn thì nhà vua bước vào.
‘I hope you have been attended to properly,’ said he, ‘and that you will enjoy your dinner. “Ta hy vọng các ngươi đã được phục vụ chu đáo,” ngài nói, “và chúc các ngươi có một bữa tối ngon miệng.
My steward will take care you have all you want, and I wish you to do exactly as you please. Quản gia của ta sẽ lo liệu mọi thứ các ngươi cần, và ta muốn các ngươi cứ tự nhiên làm những gì mình thích.
Oh, by the bye, there is one thing! À, nhân tiện, có một chuyện này!
You notice that soup-tureen in the middle of the table? Các ngươi có thấy âu súp đặt giữa bàn kia không?
Well, be careful on no account to lift the lid. Hãy nhớ kỹ, tuyệt đối không được mở nắp ra.
If once you take off the cover, there is an end of your good fortune.’ Một khi các ngươi mở nắp ra, vận may của các ngươi cũng sẽ chấm dứt.”
Then, bowing to his guests, he left the room. Dứt lời, ngài cúi chào hai vị khách rồi rời khỏi phòng.
‘Did you hear what he said?’ inquired the charcoal-burner in an awe-stricken voice. “Mình có nghe thấy ngài nói gì không?” người thợ đốt than hỏi với giọng đầy vẻ kính sợ.
‘We are to have what we want, and do what we please. “Chúng ta được có những gì mình muốn và làm những gì mình thích.
Only we must not touch the soup-tureen.’ Chỉ trừ mỗi việc là không được đụng vào cái âu súp.”
‘No, of course we won’t,’ answered the wife. “Tất nhiên là không rồi,” người vợ đáp.
‘Why should we wish to? “Việc gì mà mình phải làm thế chứ?
But all the same it is rather odd, and one can’t help wondering what is inside.’ Nhưng kể cũng lạ, khiến người ta cứ thắc mắc không biết bên trong có cái gì.”
For many days life went on like a beautiful dream to the charcoal-burner and his wife. Nhiều ngày trôi qua, cuộc sống của vợ chồng người thợ đốt than diễn ra tựa như một giấc mộng đẹp.
Their beds were so comfortable, they could hardly make up their minds to get up, their clothes were so lovely they could scarcely bring themselves to take them off; their dinners were so good that they found it very difficult to leave off eating. Giường nệm êm ái đến mức họ mãi mới quyết tâm chui ra khỏi chăn, quần áo đẹp đến nỗi họ chẳng nỡ cởi ra, còn những bữa tối thì ngon đến độ họ thấy thật khó mà dừng ăn cho được.
Then outside the palace were gardens filled with rare flowers and fruits and singing birds, or if they desired to go further, a golden coach, painted with wreaths of forget-me-nots and lined with blue satin, awaited their orders. Bên ngoài cung điện là những khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ, cây trái sum suê và chim hót líu lo, hoặc nếu họ muốn đi chơi xa hơn, một cỗ xe vàng được vẽ những vòng hoa lưu ly và lót vải sa-tanh xanh biếc luôn sẵn sàng chờ lệnh.
Sometimes it happened that the king came to see them, and he smiled as he glanced at the man, who was getting rosier and plumper each day. Thỉnh thoảng nhà vua có ghé thăm, ngài mỉm cười khi nhìn người chồng đang ngày càng hồng hào, béo tốt ra.
But when his eyes rested on the woman, they took on a look which seemed to say ‘I knew it,’ though this neither the charcoal-burner nor his wife ever noticed. Nhưng khi ánh mắt ngài dừng lại ở người vợ, nó toát lên một vẻ như muốn nói “Ta biết ngay mà”, tuy nhiên cả hai vợ chồng người thợ đều không để ý thấy điều này.
‘Why are you so silent?’ asked the man one morning when dinner had passed before his wife had uttered one word. “Sao mình im lặng thế?” người chồng hỏi vào một buổi sáng nọ, khi cả bữa ăn trôi qua mà vợ anh chẳng nói nửa lời.
‘A little while ago you used to be chattering all the day long, and now I have almost forgotten the sound of your voice.’ “Dạo trước mình thường huyên thuyên cả ngày, vậy mà giờ tôi quên mất cả tiếng mình nói rồi đấy.”
‘Oh, nothing; I did not feel inclined to talk, that was all!’ “Ồ, không có gì đâu; em không muốn nói chuyện thôi, chỉ có thế!”
She stopped, and added carelessly after a pause, ‘Don’t you ever wonder what is in that soup-tureen?’ Chị ngưng lại, rồi sau một thoáng ngập ngừng, chị làm vẻ vô tình nói thêm: “Mình chẳng bao giờ thắc mắc bên trong cái âu súp kia có gì sao?”
‘No, never,’ replied the man. “Không, chẳng bao giờ,” người chồng đáp.
‘It is no affair of ours,’ and the conversation dropped once more, but as time went on, the woman spoke less and less, and seemed so wretched that her husband grew quite frightened about her. “Đó đâu phải việc của chúng ta,” và cuộc trò chuyện lại rơi vào ngõ cụt, nhưng thời gian càng trôi đi, người vợ càng ít nói hơn và trông sầu não đến mức người chồng bắt đầu thấy lo sợ cho vợ.
As to her food, she refused one thing after another. Còn chuyện ăn uống, chị cứ chê hết món này đến món khác.
‘My dear wife,’ said the man at last, ‘you really must eat something. “Mình à,” cuối cùng người chồng lên tiếng, “mình thực sự phải ăn chút gì đi chứ.
What in the world is the matter with you? Rốt cuộc thì mình bị làm sao thế?
If you go on like this you will die.’ Cứ đà này mình sẽ chết mất thôi.”
‘I would rather die than not know what is in that tureen,’ she burst forth so violently that the husband was quite startled. “Thà em chết còn hơn là không biết cái gì ở trong âu súp đó,” chị vợ hét lên dữ dội khiến anh chồng giật bắn mình.
‘Is that it?’ cried he; ‘are you making yourself miserable because of that? “Ra là thế à?” anh chồng thốt lên; “mình đang tự làm khổ bản thân chỉ vì chuyện đó sao?
Why, you know we should be turned out of the palace, and sent away to starve.’ Trời ơi, mình biết thừa là chúng ta sẽ bị đuổi khỏi hoàng cung và bị tống đi cho đến chết đói mà.”
‘Oh no, we shouldn’t. The king is too good-natured. “Ồ không đâu, sẽ không bị thế đâu. Nhà vua tốt bụng lắm.
Of course he didn’t mean a little thing like this! Chắc chắn ngài chẳng để bụng một chuyện cỏn con thế này!
Besides, there is no need to lift the lid off altogether. Với lại, cũng chẳng cần phải mở toang nắp ra làm gì.
Just raise one corner so that I may peep. Chỉ cần nhấc nhẹ một góc để em hé mắt nhìn vào thôi.
We are quite alone: nobody will ever know.’ Ở đây chỉ có hai ta: sẽ chẳng ai biết đâu mà sợ.”
The man hesitated: it did seem a ‘little thing,’ and if it was to make his wife contented and happy it was well worth the risk. Người chồng đắn đo: chuyện quả có vẻ “cỏn con” thật, mà nếu việc đó làm vợ anh vui vẻ hạnh phúc trở lại thì cũng đáng để liều một phen.
So he took hold of the handle of the cover and raised it very slowly and carefully, while the woman stooped down to peep. Vậy là anh nắm lấy quai nắp, nhấc lên thật chậm và cẩn thận, trong khi người vợ cúi thấp xuống để ghé mắt nhìn.
Suddenly she startled back with a scream, for a small mouse had sprung from the inside of the tureen, and had nearly hit her in the eye. Đột nhiên, chị giật mình hét lên thất thanh và lùi lại, bởi một chú chuột nhắt đã phóng vọt ra từ trong âu súp, suýt nữa thì đâm thẳng vào mắt chị.
Round and round the room it ran, round and round they both ran after it, knocking down chairs and vases in their efforts to catch the mouse and put it back in the tureen. Con chuột chạy vòng quanh căn phòng, cả hai vợ chồng cũng chạy vòng quanh đuổi theo nó, xô đổ cả ghế và bình hoa trong nỗ lực tóm lấy con chuột để nhét lại vào âu súp.
In the middle of all the noise the door opened, and the mouse ran out between the feet of the king. Giữa lúc huyên náo ầm ĩ ấy thì cánh cửa bật mở, con chuột chạy tót ra ngoài qua kẽ chân nhà vua.
In one instant both the man and his wife were hiding under the table, and to all appearance the room was empty. Trong tích tắc, cả hai vợ chồng chui tọt xuống gầm bàn trốn, căn phòng trông có vẻ như chẳng có bóng người.
‘You may as well come out,’ said the king, ‘and hear what I have to say.’ “Các ngươi tốt hơn là nên chui ra đi,” nhà vua nói, “và nghe những lời ta nói đây.”
‘I know what it is,’ answered the charcoal-burner, hanging his head. “Thần biết ngài sẽ nói gì rồi,” người thợ đốt than cúi gầm mặt đáp.
‘The mouse has escaped.’ Con chuột đã trốn thoát.”
‘A guard of soldiers will take you back to your hut,’ said the king. “Một toán lính cận vệ sẽ đưa các ngươi về lại túp lều xưa,” nhà vua phán.
‘Your wife has the key.’ Vợ ngươi đang giữ chìa khóa đấy.”
‘Weren’t they silly?’ cried the grandchildren of the charcoal-burners when they heard the story. “Ông bà ngốc nghếch quá nhỉ?” những đứa cháu của người thợ đốt than thốt lên khi nghe kể lại câu chuyện.
‘How we wish that we had had the chance! “Giá mà chúng cháu có được cơ hội ấy!
WE should never have wanted to know what was in the soup-tureen!’ Chúng cháu sẽ chẳng ĐỜI NÀO thèm muốn biết bên trong cái âu súp có gì!”
From ‘Litterature Orale de l’Auvergne,’ par Paul Sebillot. Theo ‘Văn học truyền miệng vùng Auvergne,’ của Paul Sebillot.
Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa.