Lời tựa

Preface Lời Tựa
‘What cases are you engaged in at present?’ “Hiện tại anh đang thụ lý những vụ án nào vậy?”
‘Are you stopping many teeth just now?’ “Dạo này anh có đang trám nhiều răng không?”
‘What people have you converted lately?’ “Gần đây anh cảm hóa được ai không?”
Do ladies put these questions to the men—lawyers, dentists, clergymen, and so forth—who happen to sit next them at dinner parties? Liệu các quý cô có đặt những câu hỏi này cho cánh đàn ông—như luật sư, nha sĩ, giáo sĩ, và những người khác—vốn ngẫu nhiên ngồi cạnh họ trong các bữa tiệc tối không nhỉ?
I do not know whether ladies thus indicate their interest in the occupations of their casual neighbours at the hospitable board. Tôi không rõ liệu các quý cô làm vậy để tỏ vẻ quan tâm đến nghề nghiệp của người bạn ăn tình cờ ngồi cạnh hay không.
But if they do not know me, or do not know me well, they generally ask ‘Are you writing anything now?’ (as if they should ask a painter ‘Are you painting anything now?’ or a lawyer ‘Have you any cases at present?’). Nhưng nếu họ không biết tôi, hoặc biết không rõ, họ thường hỏi: “Anh đang viết cuốn nào không?” (y như thể họ hỏi một họa sĩ “Anh đang vẽ bức nào không?” hay hỏi luật sư “Anh đang có vụ kiện nào không vậy?”).
Sometimes they are more definite and inquire ‘What are you writing now?’ as if I must be writing something—which, indeed, is the case, though I dislike being reminded of it. Đôi khi họ hỏi cụ thể hơn: “Anh đang viết cái gì vậy?” cứ như thể tôi bắt buộc phải đang viết một cái gì đó—mà thú thực đúng là thế, dù tôi chẳng thích bị nhắc tới chuyện đó chút nào.
It is an awkward question, because the fair being does not care a bawbee what I am writing; nor would she be much enlightened if I replied ‘Madam, I am engaged on a treatise intended to prove that Normal is prior to Conceptional Totemism‘—though that answer would be as true in fact as obscure in significance. Đó là một câu hỏi khó xử, vì người đẹp kia thực ra chẳng quan tâm một xu xem tôi viết cái gì; và cô ấy cũng chẳng sáng ra thêm chút nào nếu tôi đáp: “Thưa phu nhân, tôi đang thực hiện một luận án nhằm chứng minh rằng Trạng thái Bình thường có trước Thuyết Vật tổ Khái niệm”—dù câu trả lời ấy xét về thực tế thì đúng, nhưng về ý nghĩa thì lại tối nghĩa vô cùng.
The best plan seems to be to answer that I have entirely abandoned mere literature, and am contemplating a book on ‘The Causes of Early Blight in the Potato,’ a melancholy circumstance which threatens to deprive us of our chief esculent root. Cách tốt nhất dường như là trả lời rằng tôi đã hoàn toàn từ bỏ văn chương thuần túy, và đang suy ngẫm về một cuốn sách có tựa đề “Nguyên nhân gây Bệnh sương mai sớm ở Khoai tây,” một tai ương sầu thảm đang đe dọa tước đi nguồn lương thực rễ củ chính yếu của chúng ta.
The inquirer would never be undeceived. Người hỏi sẽ chẳng bao giờ biết sự thật (nguyên văn: được làm cho hết lầm).
One nymph who, like the rest, could not keep off the horrid topic of my occupation, said ‘You never write anything but fairy books, do you?’ Có một nàng thơ nọ, cũng như bao người khác, chẳng thể nào tránh khỏi chủ đề nghề nghiệp đáng sợ của tôi, đã nói: “Anh chẳng bao giờ viết gì ngoài truyện cổ tích, phải không?”
A French gentleman, too, an educationist and expert in portraits of Queen Mary, once sent me a newspaper article in which he had written that I was exclusively devoted to the composition of fairy books, and nothing else. Một quý ông người Pháp, cũng là một nhà giáo dục và chuyên gia về các bức chân dung Nữ hoàng Mary, đã từng gửi cho tôi một bài báo, trong đó ông viết rằng tôi chỉ chuyên tâm sáng tác truyện cổ tích chứ không làm gì khác.
He then came to England, visited me, and found that I knew rather more about portraits of Queen Mary than he did. Sau đó ông ấy đến Anh, ghé thăm tôi, và nhận ra rằng tôi biết về các bức chân dung Nữ hoàng Mary còn nhiều hơn cả ông ấy.
In truth I never did write any fairy books in my life, except ‘Prince Prigio,’ ‘Prince Ricardo,’ and ‘Tales from a Fairy Court‘—that of the aforesaid Prigio. Thực tình mà nói, cả đời tôi chưa từng viết cuốn truyện cổ tích nào, ngoại trừ cuốn “Hoàng tử Prigio“, “Hoàng tử Ricardo“, và “Những câu chuyện từ Triều đình Thần tiên“—chính là triều đình của hoàng tử Prigio kể trên.
I take this opportunity of recommending these fairy books—poor things, but my own—to parents and guardians who may never have heard of them. Tôi xin nhân cơ hội này để giới thiệu những cuốn truyện cổ tích ấy—tuy vụng về nhưng là con đẻ của tôi—đến các bậc phụ huynh và người giám hộ chưa từng nghe đến chúng.
They are rich in romantic adventure, and the Princes always marry the right Princesses and live happy ever afterwards; while the wicked witches, stepmothers, tutors and governesses are never cruelly punished, but retire to the country on ample pensions. Chúng tràn ngập những cuộc phiêu lưu lãng mạn, và các Hoàng tử luôn cưới đúng Công chúa rồi sống hạnh phúc mãi về sau; trong khi những mụ phù thủy độc ác, mẹ ghẻ, gia sư nam và nữ chẳng bao giờ bị trừng phạt tàn khốc, mà được lui về vùng quê an hưởng lương hưu hậu hĩnh.
I hate cruelty: I never put a wicked stepmother in a barrel and send her tobogganing down a hill. Tôi ghét sự tàn nhẫn: Tôi không bao giờ nhét một bà mẹ ghẻ độc ác vào thùng rồi lăn bà ta trượt xuống đồi.
It is true that Prince Ricardo did kill the Yellow Dwarf; but that was in fair fight, sword in hand, and the dwarf, peace to his ashes! died in harness. Đúng là Hoàng tử Ricardo đã giết Chú lùn Vàng; nhưng đó là trong một trận đấu công bằng, gươm giáo hẳn hoi, và chú lùn ấy—cầu cho tro cốt hắn được yên nghỉ!—đã chết trong tư thế chiến đấu.
The object of these confessions is not only that of advertising my own fairy books (which are not ‘out of print’; if your bookseller says so, the truth is not in him), but of giving credit where credit is due. Mục đích của những lời thú nhận này không chỉ là để quảng cáo cho sách truyện cổ tích của riêng tôi (vốn chưa hề “hết hàng” đâu nhé; nếu người bán sách bảo vậy thì anh ta đang nói dối đấy), mà là để ghi nhận công lao cho đúng người.
The fairy books have been almost wholly the work of Mrs. Lang, who has translated and adapted them from the French, German, Portuguese, Italian, Spanish, Catalan, and other languages. Những cuốn sách về thế giới thần tiên này hầu như hoàn toàn là công sức của bà Lang, người đã dịchchuyển thể chúng từ tiếng Pháp, tiếng Đức, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Catalan và nhiều ngôn ngữ khác.
My part has been that of Adam, according to Mark Twain, in the Garden of Eden. Vai trò của tôi giống như Adam trong Vườn Địa Đàng, theo lời Mark Twain.
Eve worked, Adam superintended. Eve làm việc, còn Adam giám sát.
I also superintend. Tôi cũng giám sát.
I find out where the stories are, and advise, and, in short, superintend. Tôi tìm xem các câu chuyện ở đâu, đưa ra lời khuyên, và tóm lại là giám sát.
I do not write the stories out of my own head. Tôi không tự tưởng tượng ra các câu chuyện để viết.
The reputation of having written all the fairy books (an European reputation in nurseries and the United States of America) is ‘the burden of an honour unto which I was not born.’ Cái danh tiếng là người đã viết nên tất cả những cuốn truyện cổ tích ấy (một danh tiếng lừng lẫy khắp các nhà trẻ ở Châu Âu và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ) chính là “gánh nặng của một vinh dự mà tôi không được sinh ra để nhận lãnh.”
It weighs upon and is killing me, as the general fash of being the wife of the Lord of Burleigh, Burleigh House by Stamford Town, was too much for the village maiden espoused by that peer. Nó đè nặng và đang giết dần tôi, cũng như sự phiền toái chung của việc làm phu nhân Lãnh chúa Burleigh, chủ nhân tòa Lâu đài Burleigh ở thị trấn Stamford, là quá sức chịu đựng đối với cô thôn nữ được vị quý tộc ấy cưới về.
Nobody really wrote most of the stories. Thực ra hầu hết các câu chuyện không phải do ai viết cả.
People told them in all parts of the world long before Egyptian hieroglyphics or Cretan signs or Cyprian syllabaries, or alphabets were invented. Người ta đã kể chúng ở khắp nơi trên thế giới từ rất lâu trước khi chữ tượng hình Ai Cập, hay các ký hiệu Crete, hay bảng âm tiết Cyprian, hay bảng chữ cái được phát minh.
They are older than reading and writing, and arose like wild flowers before men had any education to quarrel over. Chúng cổ xưa hơn cả việc đọc và viết, và nảy sinh như những đóa hoa dại trước khi con người có bất kỳ nền giáo dục nào để mà tranh cãi.
The grannies told them to the grandchildren, and when the grandchildren became grannies they repeated the same old tales to the new generation. Các đã kể cho các cháu, và khi lũ cháu trở thành , họ lại lặp lại những câu chuyện cũ kỹ ấy cho thế hệ mới.
Homer knew the stories and made up the ‘Odyssey’ out of half a dozen of them. Homer biết những câu chuyện này và soạn nên sử thi “Odyssey” từ nửa tá truyện trong số đó.
All the history of Greece till about 800 B.C. is a string of the fairy tales, all about Theseus and Heracles and Oedipus and Minos and Perseus is a Cabinet des Fées, a collection of fairy tales. Toàn bộ lịch sử Hy Lạp cho đến khoảng năm 800 TCN là một chuỗi các truyện cổ tích; tất cả những chuyện về Theseus, Heracles, Oedipus, Minos và Perseus chính là một “Cabinet des Fées”, một tuyển tập truyện thần tiên.
Shakespeare took them and put bits of them into ‘King Lear’ and other plays; he could not have made them up himself, great as he was. Shakespeare đã lấy chúng và đưa những mảnh ghép vào vở “Vua Lear” và các vở kịch khác; ông ấy không thể tự bịa ra chúng, dù ông có vĩ đại đến đâu.
Let ladies and gentlemen think of this when they sit down to write fairy tales, and have them nicely typed, and send them to Messrs. Longman & Co. to be published. Các quý bà và quý ông hãy suy ngẫm điều này khi họ ngồi xuống viết truyện cổ tích, cho đánh máy đẹp đẽ, rồi gửi đến nhà Messrs. Longman & Co. để xuất bản.
They think that to write a new fairy tale is easy work. Họ tưởng viết một truyện cổ tích mới là việc dễ dàng.
They are mistaken: the thing is impossible. Họ lầm rồi: đó là điều bất khả thi.
Nobody can write a new fairy tale; you can only mix up and dress up the old, old stories, and put the characters into new dresses, as Miss Thackeray did so well in ‘Five Old Friends.’ Không ai có thể viết ra một truyện cổ tích mới; bạn chỉ có thể trộn lẫn và khoác áo mới cho những câu chuyện xưa thật là xưa, rồi đặt các nhân vật vào những bộ trang phục mới, như cô Thackeray đã làm rất tốt trong cuốn “Năm người bạn cũ.”
If any big girl of fourteen reads this preface, let her insist on being presented with ‘Five Old Friends.’ Nếu có cô bé lớn nào mười bốn tuổi đang đọc lời tựa này, hãy nằng nặc đòi được tặng cuốn “Năm người bạn cũ” nhé.
But the three hundred and sixty-five authors who try to write new fairy tales are very tiresome. Nhưng ba trăm sáu mươi lăm tác giả cố gắng viết truyện cổ tích mới thật sự rất phiền toái.
They always begin with a little boy or girl who goes out and meets the fairies of polyanthuses and gardenias and apple blossoms: ‘Flowers and fruits, and other winged things.’ Họ luôn bắt đầu bằng một cậu bé hoặc cô bé đi ra ngoài và gặp gỡ các nàng tiên của hoa báo xuân, hoa dành dành và hoa táo: “Hoa và trái, cùng những loài có cánh khác.”
These fairies try to be funny, and fail; or they try to preach, and succeed. Những nàng tiên này cố tỏ ra hài hước và thất bại; hoặc họ cố thuyết giảng đạo lý và lại thành công.
Real fairies never preach or talk slang. Tiên thật không bao giờ giảng đạo hay nói tiếng lóng.
At the end, the little boy or girl wakes up and finds that he has been dreaming. Kết thúc truyện, cậu bé hoặc cô bé thức dậy và nhận ra mình vừa nằm mơ.
Such are the new fairy stories. Đó chính là kiểu truyện cổ tích mới.
May we be preserved from all the sort of them! Cầu cho chúng ta tránh xa được tất cả những loại truyện như thế!
Our stories are almost all old, some from Ireland, before that island was as celebrated for her wrongs as for her verdure; some from Asia, made, I dare say, before the Aryan invasion; some from Moydart, Knoydart, Morar and Ardnamurchan, where the sea streams run like great clear rivers and the saw-edged hills are blue, and men remember Prince Charlie. Truyện của chúng tôi hầu hết đều là truyện cổ, một số từ Ireland, thời hòn đảo này chưa nổi tiếng vì những bất công cũng như vì sắc xanh tươi tốt của nó; một số từ châu Á, tôi dám nói là đã có từ trước cuộc xâm lăng của người Aryan; một số từ Moydart, Knoydart, Morar và Ardnamurchan, nơi các dòng hải lưu chảy như những con sông lớn trong vắt và những ngọn núi lởm chởm như lưỡi cưa mang màu xanh thẫm, và con người vẫn còn nhớ đến Hoàng tử Charlie.
Some are from Portugal, where the golden fruits grow in the Garden of the Hesperides; and some are from wild Wales, and were told at Arthur’s Court; and others come from the firesides of the kinsmen of the Welsh, the Bretons. Một số truyện từ Bồ Đào Nha, nơi những trái cây vàng mọc trong Vườn của các tiên nữ Hesperides; và một số từ xứ Wales hoang dã, từng được kể tại Triều đình vua Arthur; còn những truyện khác đến từ bếp lửa của những người bà con với dân xứ Wales, người Breton.
There are also modern tales by a learned Scandinavian named Topelius. Cũng có những câu chuyện hiện đại của một học giả người Scandinavia tên là Topelius.
All the stories were translated or adapted by Mrs. Lang, except ‘The Jogi’s Punishment‘ and ‘Moti,’ done by Major Campbell out of the Pushtoo language; ‘How Brave Walter hunted Wolves,’ which, with ‘Little Lasse‘ and ‘The Raspberry Worm,’ was done from Topelius by Miss Harding; and ‘The Sea King’s Gift,’ by Miss Christie, from the same author. Tất cả các câu chuyện đều được dịch hoặc chuyển thể bởi bà Lang, ngoại trừ “Sự trừng phạt của Jogi” và “Moti,” do Thiếu tá Campbell dịch từ tiếng Pashto; truyện “Brave Walter săn sói như thế nào,” cùng với “Little Lasse” và “Sâu Mâm xôi,” được cô Harding dịch từ tác giả Topelius; và “Món quà của Vua Biển,” do cô Christie dịch từ cùng tác giả ấy.
It has been suggested to the Editor that children and parents and guardians would like ‘The Grey True Ghost-Story Book.’ Có người gợi ý cho Biên tập viên rằng trẻ em, phụ huynh và người giám hộ sẽ thích một cuốn “Sách Truyện Ma Có Thật Màu Xám“.
He knows that the children would like it well, and he would gladly give it to them; but about the taste of fond anxious mothers and kind aunts he is not quite so certain. Ông biết bọn trẻ sẽ thích lắm, và ông cũng sẵn lòng mang đến cho chúng; nhưng về thị hiếu của những bà mẹ hay lo lắng và những bà dì tốt bụng thì ông không chắc lắm.
Before he was twelve the Editor knew true ghost stories enough to fill a volume. Trước khi lên mười hai, Biên tập viên đã biết đủ số truyện ma có thật để viết đầy một tập sách.
They were a pure joy till bedtime, but then, and later, were not wholly a source of unmixed pleasure. Chúng là niềm vui thuần khiết cho đến giờ đi ngủ, nhưng sau đó, và cả về sau này, chúng không hoàn toàn là nguồn khoái cảm trọn vẹn nữa.
At that time the Editor was not afraid of the dark, for he thought, ‘If a ghost is here, we can’t see him.’ Vào thời điểm đó, Biên tập viên không sợ bóng tối, vì ông nghĩ: “Nếu có ma ở đây, ta cũng đâu thể thấy hắn.”
But when older and better informed persons said that ghosts brought their own light with them (which is too true), then one’s emotions were such as parents do not desire the young to endure. Nhưng khi những người lớn hơn và hiểu biết hơn bảo rằng ma tự mang theo ánh sáng của riêng chúng (điều này quá đúng), thì cảm xúc của người ta trở nên kinh hãi đến mức các bậc cha mẹ sẽ không muốn con trẻ phải chịu đựng.
For this reason ‘The Grey True Ghost-Story Book‘ is never likely to be illustrated by Mr. Ford. Vì lẽ đó, cuốn “Sách Truyện Ma Có Thật Màu Xám” có lẽ sẽ chẳng bao giờ được ông Ford minh họa.
Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa.