CHƯƠNG 1. Bí mật ngôi nhà hoang



ONE: THE WRONG DOORCHƯƠNG 1. Bí mật ngôi nhà hoang
THIS IS A STORY ABOUT SOMETHING that happened long ago when your grandfather was a child.Đây là câu chuyện kể về một sự kiện đã xảy ra lâu lắm rồi. Ngày ấy, ông nội bạn vẫn còn là một đứa trẻ.
It is a very important story because it shows how all the comings and goings between our own world and the land of Narnia first began. Đây cũng là một câu chuyện hết sức quan trọng bởi vì nó cho biết chuyện gì đã xảy ra giữa thế giới của chúng ta với mảnh đất Narnia từ buổi khai thiên lập địa.
In those days Mr. Sherlock Holmes was still living in Baker Street and the Bastables were looking for treasure in the Lewisham Road.Vào thời điểm ấy, thám tử tài ba Sherlock Holme vẫn sống ở đường Baker còn Bastables thì đang tìm kho báu ở đường Lewisham.
In those days, if you were a boy you had to wear a stiff Eton collar every day, and schools were usually nastier than now. Thời ấy, nếu bạn là một cậu bé, bạn sẽ phải mặc áo cổ cồn kiểu Eton thít chặt lấy cổ còn bọn học sinh ấy mà, đúng là được xếp thứ ba trong việc quậy – chỉ sau ai thì bạn biết rồi đấy.
But meals were nicer; and as for sweets, I won’t tell you how cheap and good they were, because it would only make your mouth water in vain. Nhưng các món ăn thì ngon hết biết, còn kẹo bánh thì… Thôi, tôi chả nói nó rẻ và ngon đến mức nào đâu, e sẽ làm bạn chảy nước miếng vì thèm mất thôi.
And in those days there lived in London a girl called Polly Plummer.Phải vào thời ấy, có cô bé tên là Polly Plummer.
She lived in one of a long row of houses which were all joined together.Cô bé sống trong một căn hộ nằm trong một dãy nhà liên kế dài.
One morning she was out in the back garden when a boy scrambled up from the garden next door and put his face over the wall. Một sáng nọ trong lúc ra vườn sau chơi cô thấy một thằng nhóc đang trèo lên bức tường nhà bên cạnh.
Polly was very surprised because up till now there had never been any children in that house, but only Mr. Ketterley and Miss Ketterley, a brother and sister, old bachelor and old maid, living together. Polly lấy làm thắc mắc bởi vì cho đến lúc ấy nó chưa hề trông thấy một nhóc nào ở nhà bên ngoài ông già Ketterley và cô Ketterley, vốn là hai anh em ruột – một ông già độc thân và một bà cô không chồng.
So she looked up, full of curiosity. Vì thế khi ngóng cổ nhìn sang, trên mặt con bé mang một dấu hỏi to đùng.
The face of the strange boy was very grubby. Mặt cậu bé kia thì nhem nhuốc như hề.
It could hardly have been grubbier if he had first rubbed his hands in the earth, and then had a good cry, and then dried his face with his hands. Khó có thể làm cho mặt nó bẩn hơn, kể cả khi nó nghịch đất nghịch cát rồi vì một lí do gì đó khóc nức nở và đưa hai tay lên lau mặt.
As a matter of fact, this was very nearly what he had been doing. Nhưng thật ra thì đó gần như là điều mà nó vừa làm.
“Hullo,” said Polly.- Xin chào. – Polly lên tiếng.
“Hullo,” said the boy. “What’s your name?”- Chào bạn. – Thằng bé nói. – Tên cậu là gì?
“Polly,” said Polly. “What’s yours?”- Polly. Còn cậu?
“Digory,” said the boy.- Digory.
“I say, what a funny name!” said Polly.- Tôi có thể nói, đó là một cái tên thật buồn cười. – Polly nói.
“It isn’t half so funny as Polly,” said Digory.- Cũng không tức cười bằng nửa cái tên Polly.
“Yes it is,” said Polly.- Tên cậu mới ngốc nghếch làm sao.
“No, it isn’t,” said Digory.- Không phải như vậy. – Digory cãi lại.
“At any rate I do wash my face,” said Polly, “which is what you need to do; especially after—” and then she stopped.- Dù sao thì Tôi Cũng sẽ đi rửa mặt. – Polly bực bội nói. – Đó là điều mà bạn cần làm, nhất là sau khi… - Nói đến đây, cô bé dừng lại.
She had been going to say “After you’ve been blubbing,” but she thought that wouldn’t be polite. Nó định nói sau khi đằng ấy vừa vãi nước mắt ra, - nhưng đã kịp dừng lại vì nghĩ nói như thế không được lịch sự cho lắm.
“All right, I have then,” said Digory in a much louder voice, like a boy who was so miserable that he didn’t care who knew he had been crying.- Được thôi, tôi cũng đang định…  – Digory nói, giọng vùng lên, đúng cái kiểu một thằng con trai đau khổ đến mức không thèm quan tâm đến việc có người biết nó vừa mới khóc nhè.
“And so would you,” he went on, “if you’d lived all your life in the country and had a pony, and a river at the bottom of the garden, and then been brought to live in a beastly Hole like this.” – Cậu… cậu cũng thế thôi, - nó tiếp tục, - nếu cậu đã sống từ hồi nào đến giờ ở nông thôn… làm bạn với một con ngựa non và một dòng sông chảy  qua vườn nhà rồi lại bị bốc đến sống trong một cái hốc bẩn thỉu như thế này…
“London isn’t a Hole,” said Polly indignantly.- London không phải là một cái hốc. – Polly nói giọng phẫn nộ.
But the boy was too wound up to take any notice of her, and he went on—Nhưng Digory, đau khổ đến mức đâu còn quan tâm đến người đối diện, đã nói tiếp:
“And if your father was away in India—and you had to come and live with an Aunt and an Uncle who’s mad (who would like that?)—and if the reason was that they were looking after your Mother—and if your Mother was ill and was going to—going to—die.”- Nếu cha cậu phải đi sang tận Ấn Độ… cậu phải đến sống với một bà dì và một ông bác khùng (ai mà thích như thế?)… với một lí do họ phải chăm sóc mẹ cậu  – và nếu mẹ cậu bị ốm nặng và sắp… sắp… chết.
Then his face went the wrong sort of shape as it does if you’re trying to keep back your tears. – Nói đến đây mặt nó méo xẹo đi như cái kiểu người ta cố kìm lại những giọt nước mắt.
“I didn’t know.- Tôi không biết.
I’m sorry,” said Polly humbly. Tôi xin lỗi. – Polly nhún nhường.
And then, because she hardly knew what to say, and also to turn Digory’s mind to cheerful subjects, she asked: Rồi vì không biết phải nói gì và cũng vì muốn Digory chú ý đến một đề tài khác vui vẻ hơn, nó hỏi:
“Is Mr. Ketterley really mad?”- Thế ông Ketterley khùng thật sao?
“Well either he’s mad,” said Digory, “or there’s some other mystery.- À… có thể là bác ấy khùng, - Digory nói, - cũng có thế bác ấy đang có một bí mật nào đó.
He has a study on the top floor and Aunt Letty says I must never go up there. Bác ấy có một phòng nghiên cứu ở gác xép và dì Letty cấm tôi không bao giờ được bước chân lên đấy.
Well, that looks fishy to begin with. Phải… những việc này ngay từ đầu đã có một cái gì rất ám muội.
And then there’s another thing. À, mà có một chuyện này nữa.
Whenever he tries to say anything to me at meal times—he never even tries to talk to her—she always shuts him up. Mỗi khi bác ấy cố nói một điều gì đó với tôi trong bữa ăn – trong khi bác ấy thậm trí chưa bao giờ nói chuyện với em gái thì dì Letty bao giờ cũng cố chặn bác ấy lại.
She says, ‘Don’t worry the boy, Andrew’ or ‘I’m sure Digory doesn’t want to hear about that’ or else ‘Now, Digory, wouldn’t you like to go out and play in the garden?’” Dì nói “Không phải lo cho thằng bé đâu, Andrew” hoặc “Em chắc là Digory không muốn nghe chuyện đó” hoặc là “Nào, Digory, cháu có muốn ra ngoài vườn chơi không?”
“What sort of things does he try to say?”- Thế bác ấy cố nói chuyện gì vậy?
“I don’t know. He never gets far enough. But there’s more than that. One night—it was last night in fact—as I was going past the foot of the attic-stairs on my way to bed (and I don’t much care for going past them either) I’m sure I heard a yell.”- Tôi không biết, bác ấy không bao giờ đi quá xa. Nhưng còn có chuyện gì nữa… Một đêm – thực ra là đêm hôm qua – trong lúc tôi đi ngang qua chân cầu thang dẫn lên phòng áp mái để về phòng ngủ (tôi cũng chẳng thích thú gì cái chuyện đi ngang qua đấy đâu) tôi nghĩ mình nghe một tiếng kêu hốt hoảng.
“Perhaps he keeps a mad wife shut up there.”- Có lẽ ông ấy nhốt một người vợ điên ở trên ấy.
“Yes, I’ve thought of that.”- Phải, tôi cũng cho là thế.
“Or perhaps he’s a coiner.”- Hoặc giả ông ta đang làm tiền giả.
“Or he might have been a pirate, like the man at the beginning of Treasure Island, and be always hiding from his old shipmates.”- Hoặc cũng có thế bác ấy là một tên cướp biển. Giống như người đàn ông ở đoạn đầu câu chuyện Đảo giấu vàng nên phải trốn chui trốn lủi tránh những tên đồng bọn cũ.
“How exciting!” said Polly. “I never knew your house was so interesting.”- Ái chà, tất cả những chuyện này có cái gì thật kích động đây! – Polly reo lên. – Thế mà tớ chưa bao giờ nghĩ là nhà bên ấy lại có gì hấp dẫn đâu.
“You may think it interesting,” said Digory.- Cậu có thể nghĩ là nó thú vị. – Digory buồn bã nói.
“But you wouldn’t like it if you had to sleep there. – Nhưng cậu sẽ không thích thế đâu, nếu buộc phải sống ở đó.
How would you like to lie awake listening for Uncle Andrew’s step to come creeping along the passage to your room? And he has such awful eyes.” Làm sao cậu thích được khi nằm nín thở lắng nghe tiếng bước chân của bác Andrew rón rén đi dọc hành lang vào buồng ngủ của cậu? Mà bác ấy có đôi mắt trông đến sợ.
That was how Polly and Digory got to know one another: and as it was just the beginning of the summer holidays and neither of them was going to the sea that year, they met nearly every day.Chuyện xảy ra vào những ngày đầu mùa hè. Năm ấy, cả hai đứa trẻ đều không đi nghỉ mát ngoài biển nên hầu như ngày nào chúng cũng gặp nhau.
Their adventures began chiefly because it was one of the wettest and coldest summers there had been for years.Đó là một trong những mùa hè ẩm ướt và lạnh lẽo nhất trong bao năm qua.
That drove them to do indoor things: you might say, indoor exploration. Thời tiết buộc chúng phải chơi những trò chơi trong nhà: bạn có thể gọi đó là những khám phá trong bốn bức tường.
It is wonderful how much exploring you can do with a stump of candle in a big house, or in a row of houses. Tuyệt vời biết bao khi bạn có thể đi thám hiểm trong một ngôi nhà rộng hoặc trong cả một dãy nhà với một mẩu nến.
Polly had discovered long ago that if you opened a certain little door in the box-room attic of her house you would find the cistern and a dark place behind it which you could get into by a little careful climbing.Từ lâu, Polly đã phát hiện ra rằng nếu nó mở một cánh cửa nhỏ trong gian phòng áp mái đựng đồ linh tinh, nó sẽ tìm thấy một cái bồn chứa nước và một góc tối sau bồn chứa, một nơi mà nó có thể vào được bằng cách bò cẩn thận từng chút một.
The dark place was like a long tunnel with brick wall on one side and sloping roof on the other. Cái chỗ tối tăm ấy rất giống một địa đạo sâu hun hút, bức tường gạch ở một bên và mái nhà dốc thoai thoải ở bên kia.
In the roof there were little chunks of light between the slates. Có vài khe hở nhỏ trên mái nhà, giữa những viên đá đen, cho phép một vài tia sáng lọt vào.
There was no floor in this tunnel: you had to step from rafter to rafter, and between them there was only plaster. Không có sàn nhà ở lối đi này. Bạn phải đặt từng bước chân lên các rui nhà mà giữa các rui chỉ có vữa.
If you stepped on this you would find yourself falling through the ceiling of the room below. Nếu đặt chân lên đấy bạn sẽ thấy mình rơi tọt xuống trần nhà phía dưới.
Polly had used the bit of the tunnel just beside the cistern as a smugglers’ cave. Polly đã dùng một phần lối đi ngay bên cạnh bồn chứa như một cái hang của những kẻ buôn lậu.
She had brought up bits of old packing cases and the seats of broken kitchen chairs, and things of that sort, and spread them across from rafter to rafter so as to make a bit of floor. Nó tha đến đấy nào mấy hộp đựng đồ đã cũ mèm, mấy cái ghế bị gãy trong nhà bếp và những vật dụng tương tự. Nó gác những vật đó từ thanh rui này sang thanh rui khác làm thành một lối đi mới.
Here she kept a cash-box containing various treasures, and a story she was writing and usually a few apples. Trong hang, nó cất giữ một cái hộp đựng tiền, có chứa nhiều vật lặt vặt khác, có cả một câu chuyện mà nó đang viết và thường là một vài trái táo.
She had often drunk a quiet bottle of ginger-beer in there: the old bottles made it look more like a smugglers’ cave. Nó cũng thường lặng lẽ uống một chút bia gừng ở đây: những cái chai cũ làm cho nơi này giống một cái hang của bọn buôn lậu thật sự.
Digory quite liked the cave (she wouldn’t let him see the story) but he was more interested in exploring.Digory thích cái hang này (Polly không để cho bạn đọc câu chuyện nó đang viết) nhưng nó còn thích thám hiểm hơn.
“Look here,” he said. “How long does this tunnel go on for? I mean, does it stop where your house ends?”- Coi này, - một hôm nó nói – cái lối đi này kéo dài đến đâu? Tớ muốn nói không biết có phải nó chỉ nằm trong khu vực nhà cậu không?
“No,” said Polly. “The walls don’t go out to the roof. It goes on. I don’t know how far.”- Không, - Polly nói, - tường không xây cao đến tận mái nhà. Lối đi thông qua hai nhà, nhưng tớ không biết nó dài bao nhiêu.
“Then we could get the length of the whole row of houses.”- Nếu vậy chúng ta có thể đi suốt chiều dài của cả dãy nhà này.
“So we could,” said Polly. “And oh, I say!”- Có thể. – Polly nói. - Ồ, tớ muốn nói…
“What?”- Nói cái gì?
“We could get into the other houses.” “Yes, and get taken up for burglars! No thanks.”- Chúng ta có thể đi vào những căn nhà khác. - Phải, và để bị tóm như những kẻ đào tường khoét ngạch. Không, xin cảm ơn.
“Don’t be so jolly clever. I was thinking of the house beyond yours.” “What about it?”- Đừng có suy diễn như thế. Tớ đang nghĩ đến căn hộ cạnh nhà cậu.
“Why, it’s the empty one. Daddy says it’s always been empty ever since we came here.” Có chuyện gì vậy? - Chuyện gì à? Thì nó là nhà hoang. Bố tớ bảo, nó bị bỏ hoang kể từ ngày nhà tớ dọn đến đây.
“I suppose we ought to have a look at it then,” said Digory. Nếu vậy, tớ cho rằng chúng mình cũng nên thử nhìn qua một cái xem sao. – Digory nói.
He was a good deal more excited than you’d have thought from the way he spoke. Nó còn dễ bị kích động hơn là bạn tưởng nếu căn cứ vào cái cách nó nói.
For of course he was thinking, just as you would have been, of all the reasons why the house might have been empty so long. Bởi vì nó đang hình dung ra tất cả những lí do – cũng như vào lúc này chắc bạn cũng đang nghĩ – là tại sao căn nhà lại bị bỏ hoang lâu đến thế.
So was Polly. Neither of them said the word “haunted.” Cả Polly cũng vậy, tuy không đứa nào nói ra cái câu là nhà – có – ma.
And both felt that once the thing had been suggested, it would be feeble not to do it. Cả hai đều cảm thấy một khi đã nói ra thành lời thì chúng đích thị là những đứa hèn nhát nếu sau đó không dám thám hiểm ngôi nhà này.
“Shall we go and try it now?” said Digory.- Vậy chúng ta sẽ tìm hiểu ngay bây giờ chứ? - Digory hỏi.
“All right,” said Polly.- Ừm… được…
“Don’t if you’d rather not,” said Digory.- Thôi nếu bạn chưa sẵn sàng, thì thôi vậy. – Digory gợi ý.
“I’m game if you are,” said she.- Tớ dám liều nếu cậu cũng có gan. – Polly rắn rỏi đáp.
“How are we to know when we’re in the next house but one?”- Nhưng làm sao chúng ta biết được khi nào chúng ta bước sang ngôi nhà kế tiếp?
They decided they would have to go out into the box-room and walk across it taking steps as long as the steps from one rafter to the next. – Hai đứa quyết định chúng sẽ đi ra khỏi phòng chứa đồ và cứ tiếp tục đếm từng bước khi đi qua các rui nhà.
That would give them an idea of how many rafters went to a room. Bằng cách ấy chúng sẽ biết có bao nhiêu rui nhà trong một gian phòng.
Then they would allow about four more for the passage between the two attics in Polly’s house, and then the same number for the maid’s bedroom as for the box-room. Sau đó chúng sẽ tính thêm bốn cái rui nữa, lối đi giữa hai gian phòng áp mái trong nhà Polly và cũng một con số tương tự như thế cho phòng cô hầu gái và phòng chứa đồ.
That would give them the length of the house. Như vậy, chúng sẽ ước lượng được chiều ngang ngôi nhà.
When they had done that distance twice they would be at the end of Digory’s house; any door they came to after that would let them into an attic of the empty house. Khi đi gấp đôi khoảng cách đó, chúng sẽ đi hết nhà Digory và bất cứ cánh cửa nào mở ra sau đó sẽ dẫn chúng đến ngôi nhà áp mái của ngôi nhà không có người ở.
“But I don’t expect it’s really empty at all,” said Digory.- Nhưng tớ không mong là nó bỏ hoang chút nào. – Digory nói.
“What do you expect?”- Thế cậu mong cái gì nào?
“I expect someone lives there in secret, only coming in and out at night, with a dark lantern.- Tớ muốn có một ai sống lén lút trong đó, chỉ đến và đi vào ban đêm, với một cái đèn lồng che kín.
We shall probably discover a gang of desperate criminals and get a reward. Có thể chúng ta sẽ khám phá ra một băng tội phạm nghiêm trọng và nhận được một phần thưởng.
It’s all rot to say a house would be empty all those years unless there was some mystery.” Tất cả tình trạng mục nát này đều nói lên rằng ngôi nhà bị bỏ hoang bao năm qua, trừ phi có một bí mật nào đó.
“Daddy thought it must be the drains,” said Polly.- Bố tớ nói có thể đó là do các ống nước. – Polly nói.
“Pooh! Grown-ups are always thinking of uninteresting explanations,” said Digory. Chà! Người lớn bao giờ cũng nghĩ ra những lời giải thích chán chết. – Digory nói.
Now that they were talking by daylight in the attic instead of by candlelight in the Smugglers’ Cave it seemed much less likely that the empty house would be haunted.Lúc này chúng đang đứng nói chuyện ở phòng áp mái, dưới ánh sáng ban ngày chứ không phải dưới ánh nến trong hang buôn lậu nên mọi chuyện dường như đơn giản hơn và cái ý nghĩ ngôi nhà bị ma ám xem ra không có sức thuyết phục.
When they had measured the attic they had to get a pencil and do a sum.Khi hai đứa đo đạc phòng áp mái, chúng dùng đến bút chì và làm nhiều việc khác.
They both got different answers to it at first, and even when they agreed I am not sure they got it right. Đầu tiên, hai đứa đặt ra những câu trả lời khác nhau cho vấn đề này và kể cả khi chúng nhất trí với nhau thì tôi cũng không chắc là những vấn đề chúng đặt ra có đúng không nữa.
They were in a hurry to start on the exploration. Hai đứa nóng lòng muốn bắt đầu cuộc khám phá bí mật ngôi nhà hoang.
“We mustn’t make a sound,” said Polly as they climbed in again behind the cistern.Chúng ta không được gây ra tiếng động. – Polly nói trong khi hai đứa trèo ra sau bồn nước.
Because it was such an important occasion they took a candle each (Polly had a good store of these in her cave). Đây là một trường hợp quan trọng, mỗi đứa cầm một ngọn nến (Polly có cả một kho nến dự trữ trong hang).
It was very dark and dusty and drafty and they stepped from rafter to rafter without a word except when they whispered to one another, “We’re opposite your attic now” or “this must be halfway through our house.”Lối đi vừa tối tăm, bụi bặm, vừa khó đi và chúng bước từ cái rui này qua cái rui khác mà không nói một lời, trừ một vài lần thì thào những câu như: Chúng ta đang đối diện với phòng gác mái nhà cậu – hoặc – chắc đã đi được nửa đoạn đường.
And neither of them stumbled and the candles didn’t go out, and at last they came where they could see a little door in the brick wall on their right.Không một đứa nào bị trượt chân và nến cũng không tắt. Cuối cùng hai đứa cũng đến đích và chúng thấy một cánh cửa nhỏ trổ ra từ bức tường gạch bên tay phải.
There was no bolt or handle on this side of it, of course, for the door had been made for getting in, not for getting out; but there was a catch (as there often is on the inside of a cupboard door) which they felt sure they would be able to turn. Không có then cửa hoặc tay cầm ở phía bên này vì tất nhiên cái cửa được làm ra chỉ để đi vào chứ không phải để đi ra, nhưng có một cái móc (như bạn thường thấy ở bên trong một cái cửa tủ) và bọn trẻ cảm thấy yên tâm, thế là chúng có hai đường thoát lui.
“Shall I?” said Digory.- Để tớ vào nhé.
“I’m game if you are,” said Polly, just as she had said before.Digory nói giọng ngập ngừng.- Tớ cũng sẽ liều nếu cậu dám. – Polly lặp lại câu nó đã nói lần trước.
Both felt that it was becoming very serious, but neither would draw back. Cả hai đều cảm thấy chúng đang tiến gần đến một cái gì khá nguy hiểm, nhưng không đứa nào muốn rút lui trước.
Digory pushed round the catch with some difficulty. Digory mở cái móc một cách khó khăn.
The door swung open and the sudden daylight made them blink. Cánh cửa bật mở và bất thình lình ánh sáng ban ngày làm cho chúng lóa mắt.
Then, with a great shock, they saw that they were looking, not into a deserted attic, but into a furnished room. But it seemed empty enough. It was dead silent. Rồi với một sự kinh ngạc cao độ, chúng thấy trước mắt không phải là một cái phòng áp mái bỏ hoang mà là một căn phòng được bày trí đồ đạc, mặc dù khá trống trải và căn phòng chìm trong một sự im lặng đầy chết chóc.
Polly’s curiosity got the better of her. She blew out her candle and stepped out into the strange room, making no more noise than a mouse. Sự tò mò của Polly đã thắng, nó thổi tắt ngọn nến và bước vào căn phòng kì lạ, không gây nên một tiếng động to hơn của một con chuột nhắt.
It was shaped, of course, like an attic, but furnished as a sitting-room.Tất nhiên căn phòng này chính là phòng áp mái nhưng lại được bày biện như phòng khách.
Every bit of the walls was lined with shelves and every bit of the shelves was full of books. Nhiều khoảng tường được kê kín bởi các kệ sách và nhiều kệ sách chất đầy sách vở.
A fire was burning in the grate (you remember that it was a very cold wet summer that year) and in front of the fireplace with its back toward them was a high-backed armchair. Một ngọn lửa bập bùng cháy sáng trong vỉ lò (xin bạn nhớ cho, đó là một mùa hè ẩm ướt và lạnh lẽo). Trước lò sưởi và quay lưng về phía hai đứa là một cái ghế bành lưng cao.
Between the chair and Polly, and filling most of the middle of the room, was a big table piled with all sorts of things—printed books, and books of the sort you write in, and ink bottles and pens and sealing-wax and a microscope. Giữa cái ghế và Polly, và gần như nằm giữa phòng là một cái bàn lớn bày la liệt đủ loại sách in, tập vở, lọ mực, sáp dán thư và một cái kính hiển vi.
But what she noticed first was a bright red wooden tray with a number of rings on it. Nhưng vật đập ngay vào mắt Polly là một cái khay gỗ màu đỏ tươi đựng mấy cái nhẫn.
They were in pairs—a yellow one and a green one together, then a little space, and then another yellow one and another green one. Nhẫn được sắp thành từng cặp, màu xanh đi đôi với màu vàng, chừa một khoảng trống rồi lại đến một cặp nhẫn tiếp theo.
They were no bigger than ordinary rings, and no one could help noticing them because they were so bright. Những chiếc nhẫn này không lớn hơn những chiếc nhẫn bình thường và không ai không nhận ra bởi vì những chiếc nhẫn này phát sáng.
They were the most beautifully shiny little things you can imagine. Có thể nói đó là những vật nhỏ lấp lánh và đẹp nhất mà bạn có thể hình dung ra được.
If Polly had been a very little younger she would have wanted to put one in her mouth. Nếu Polly nhỏ hơn một chút, hẳn nó sẽ muốn ngậm một cái trong miệng.
The room was so quiet that you noticed the ticking of the clock at once.Căn phòng yên ắng đến mức bạn sẽ nhận ra ngay tiếng tích tắc đều đặn của một chiếc đồng hồ.
And yet, as she now found, it was not absolutely quiet either. Tuy vậy, bây giờ Polly nhận ra là căn phòng không hoàn toàn yên lặng.
There was a faint—a very, very faint—humming sound. Có một tiếng rù rì rất mảnh, rất mơ hồ, rất khẽ khàng, khiến nó khó lòng nhận ra được.
 If vacuum cleaners had been invented in those days Polly would have thought it was the sound of a Hoover being worked a long way off—several rooms away and several floors below. Nếu máy hút bụi được sáng chế ra vào thời ấy hẳn Polly sẽ nghĩ đó là tiếng động của một cái máy hút bụi hiệu Hoover đang hoạt động ở xa – cách đây mấy căn phòng và ở dưới mấy tầng lầu.
But it was a nicer sound than that, a more musical tone: only so faint that you could hardly hear it. Nhưng đây là một âm thanh dễ chịu hơn nhiều, giàu nhạc điệu  hơn, chỉ có điều nó quá nhỏ để bạn có thể nhận ra ngay.
“It’s all right; there’s no one here,” said Polly over her shoulder to Digory.Ổn rồi, không có ai ở đây hết. – Polly ngoái đầu lại nói với Digory.
She was speaking above a whisper now. Giọng nó chỉ to hơn tiếng thì thào một chút.
And Digory came out, blinking and looking extremely dirty—as indeed Polly was too. Digory bước vào phòng, hai mắt hấp háy, cả người nhem nhuốc như vừa trong lỗ chui ra – thực ra thì cả Polly cũng vậy.
“This is no good,” he said.- Thế này thì không ổn rồi.
“It’s not an empty house at all. – Digory nói. – Hoàn toàn không phải là nhà hoang.
We’d better leave before anyone comes.” Tốt nhất hãy ra khỏi đây trước khi có người tới.
“What do you think those are?” said Polly, pointing at the colored rings.- Cậu nghĩ kia là cái gì? – Polly hỏi, chỉ vào những cái nhẫn lấp lánh.
“Oh come on,” said Digory. “The sooner—”Ồ, thôi đi, càng sớm…
He never finished what he was going to say for at that moment something happened. nó còn chưa kịp nói hết câu thì đã có một chuyện xảy ra.
The high-backed chair in front of the fire moved suddenly and there rose up out of it—like a pantomime demon coming up out of a trapdoor—the alarming form of Uncle Andrew.Cái ghế bành lưng cao trước lò sưởi bất thần chuyển động và từ đó đứng lên – giống như một con quỷ lao ra từ một cái cửa sập trong kịch thần thoại – chính là cái bóng dáng u ám đầy đe dọa của bác Andrew.
They were not in the empty house at all; they were in Digory’s house and in the forbidden study! Both children said “O-o-oh” and realized their terrible mistake. Thế là không phải chúng vào ngôi nhà hoang mà là đang đứng trong nhà Digory và ở trong căn phòng cấm. Cả hai đều ồ lên một tiếng, khi nhận ra sai lầm của mình.
They felt they ought to have known all along that they hadn’t gone nearly far enough. Chúng cảm thấy lẽ ra chúng phải biết trước là không nên đi quá xa như thế.
Uncle Andrew was tall and very thin. He had a long clean-shaven face with a sharply-pointed nose and extremely bright eyes and a great tousled mop of gray hair.Bác Andrew cao lòng khòng, gầy trơ xương, khuôn mặt dài thòng, nhẵn nhụi không râu, với cái mũi nhọn hoắt, đôi mắt sáng long lanh và mái tóc bạc rối bù.
Digory was quite speechless, for Uncle Andrew looked a thousand times more alarming than he had ever looked before.Digory ớ người ra không thốt lên được tiếng nào bởi vì trông bác Andrew một ngàn lần dữ tợn hơn bất cứ lúc nào trước đó.
Polly was not so frightened yet; but she soon was. Tuy lúc đầu Polly không sợ hãi bằng bạn, nhưng chẳng bao lâu cô bé cũng hoảng thật sự.
For the very first thing Uncle Andrew did was to walk across to the door of the room, shut it, and turn the key in the lock. Bởi việc đầu tiên bác Andrew làm là đi đến cửa phòng, đóng sập cửa lại, quay chìa khóa trong ổ.
Then he turned round, fixed the children with his bright eyes, and smiled, showing all his teeth. Đoạn ông quay lại nhìn hai đứa chằm chặp: đôi mắt sáng quắc, những thớ thịt trên mặt nhúc nhích, ông nhe ra tất cả 36 cái răng.
“There!” he said. “Now my fool of a sister can’t get at you!”- Bây giờ thì cô em gái ngu ngốc của ta sẽ không làm gì được các cháu.
It was dreadfully unlike anything a grown-up would be expected to do.Mọi việc thật dễ sợ và không hề giống bất cứ cái gì mà người ta chờ đợi ở một người lớn.
Polly’s heart came into her mouth, and she and Digory started backing toward the little door they had come in by. Trái tim Polly thót lên đến tận cổ, nó và Digory quay lại nhìn chằm chằm vào cái cánh cửa mà chúng vừa chui qua.
Uncle Andrew was too quick for them. Bác Andrew hành động rất nhanh.
He got behind them and shut that door too and stood in front of it. Ông đi vòng ra sau lưng hai đứa, đóng sập cánh cửa lại và đứng chắn ngang.
Then he rubbed his hands and made his knuckles crack. He had very long, beautifully white, fingers. Đoạn ông xoa hai tay vào nhau, bẻ đốt ngón tay răng rắc – ông có những ngón tay dài, trắng xanh, thanh nhã.
“I am delighted to see you,” he said.- Bác rất vui khi được gặp các cháu.
“Two children are just what I wanted.” Hai đứa đúng là người mà bác cần.
“Please, Mr. Ketterley,” said Polly.- Làm ơn, thưa ông Ketterley, - Polly năn nỉ.
“It’s nearly my dinner time and I’ve got to go home. – Sắp đến giờ ăn trưa rồi và cháu phải về nhà.
Will you let us out, please?” Xin ông làm ơn cho chúng cháu ra ngoài.
“Not just yet,” said Uncle Andrew. “This is too good an opportunity to miss.- Chưa phải lúc này, một cơ hội tốt như vậy làm sao ta có thể bỏ qua được.
I wanted two children. Bác muốn cả hai đứa.
You see, I’m in the middle of a great experiment. Các cháu thấy đấy, bác đang tiến hành một thí nghiệm hết sức vĩ đại.
I’ve tried it on a guinea-pig and it seemed to work. Bác đang thử với một chú chuột bạch và nó dường như có tác dụng.
But then a guinea-pig can’t tell you anything. Nhưng một con chuột bạch thì không thể nói với các cháu bất cứ điều gì.
And you can’t explain to it how to come back.” Và các cháu cũng không thể giải thích với nó khi nó quay lại.
“Look here, Uncle Andrew,” said Digory, “it really is dinner time and they’ll be looking for us in a moment.- Coi này, bác Andrew, - Digory nói, - đã đến giờ ăn rồi và mọi người sẽ đi tìm chúng cháu.
You must let us out.” Bác phải để cho chúng cháu ra khỏi đây.
“Must?” said Uncle Andrew.- Phải ư? – Bác Andrew hỏi lại.
Digory and Polly glanced at one another.Digory và Polly liếc nhìn nhau.
They dared not say anything, but the glances meant “Isn’t this dreadful?” and “We must humor him.” Chúng không dám nói thêm điều gì nhưng những cái liếc mắt có nghĩa là: - Thôi lần này thì tiêu rồi – và – Chúng ta cố chịu đựng một lúc xem sao.
“If you let us go for our dinner now,” said Polly, “we could come back after dinner.”- Nếu bác để cho chúng cháu về nhà ăn trưa ngay bây giờ, - Polly nói, - chúng cháu sẽ trở lại đây sau bữa ăn.
“Ah, but how do I know that you would?” said Uncle Andrew with a cunning smile. Then he seemed to change his mind.- Ờ, mà làm sao ta biết chắc là các cháu sẽ làm như thế hả? – Bác Andrew nói với một nụ cười rất láu, nhưng sau đó ông có vẻ nghĩ lại.
“Well, well,” he said, “if you really must go, I suppose you must.- Thôi được, thôi được, nếu các cháu nhất định phải về thì bác cũng cho là các cháu nên đi đi.
I can’t expect two youngsters like you to find it much fun talking to an old buffer like me.” Bác cũng không dám hi vọng là hai bạn nhỏ như các cháu lại thấy có gì vui vẻ trong việc nói chuyện với một lão già vô dụng như ta.
He sighed and went on. – Ông thở dài và nói tiếp.
“You’ve no idea how lonely I sometimes am. – Các cháu không biết đôi khi ta cảm thấy cô đơn như thế nào đâu.
But no matter. Go to your dinner. Nhưng không hề gì, cứ về ăn cơm đi.
But I must give you a present before you go. It’s not every day that I see a little girl in my dingy old study; especially, if I may say so, such a very attractive young lady as yourself.” Nhưng mà này, ta phải cho cháu một món quà trước khi cháu ra về chứ? Không phải ngày nào ta cũng gặp một cô bé trong căn phòng làm việc cũ kĩ bẩn thỉu này đâu… nhất là, ta có thể nói… một cô bé đáng yêu như cháu.
Polly began to think he might not really be mad after all.Polly bắt đầu nghĩ rằng ông già này không hề điên chút nào.
“Wouldn’t you like a ring, my dear?” said Uncle Andrew to Polly.- Cháu có muốn một cái nhẫn không cháu gái? – Bác Andrew nói với Polly.
“Do you mean one of those yellow or green ones?” said Polly.Có phải bác muốn nói một trong những chiếc nhẫn vàng hoặc xanh lá cây kia?
“How lovely!”Trông chúng thật đẹp ạ.
“Not a green one,” said Uncle Andrew. không phải nhẫn xanh lá cây. – bác Andrew nói.
“I’m afraid I can’t give the green ones away. – Bác e rằng, bác chưa thể cho cháu một cái nhẫn màu xanh.
But I’d be delighted to give you any of the yellow ones: with my love. Nhưng bác rất vui được tặng cháu bất cứ chiếc nhẫn màu vàng nào… với tất cả tấm lòng quý mến của bác.
Come and try one on.” Lại đây đi, thử một cái xem nào.
Polly had now quite got over her fright and felt sure that the old gentleman was not mad; and there was certainly something strangely attractive about those bright rings.Lúc này Polly đã vượt qua được nỗi sợ hãi, nó biết rõ là ông già này không điên, và chắc chắn là những chiếc nhẫn kia có một sức hút không thể cưỡng lại được.
She moved over to the tray. Cô bé bước đến gần khay gỗ.
“Why! I declare,” she said. “That humming noise gets louder here.- Sao thế nhỉ? Cháu dám nói là những tiếng rù rì này nghe to hơn.
It’s almost as if the rings were making it.”Polly nói. – Hình như chính những chiếc nhẫn phát ra cái tiếng rù rì này.
“What a funny fancy, my dear,” said Uncle Andrew with a laugh.- Chỉ là một trò chơi vui vui của trí tưởng tượng, cháu yêu ạ.
It sounded a very natural laugh, but Digory had seen an eager, almost a greedy, look on his face. – Bác Andrew nói với một tiếng cười cụt lủn. Một tiếng cười bình thường không có gì đáng nói nhưng Digory đã nhìn thấy một vẻ háo hức gần như là tham lam trên gương mặt ông.
“Polly! Don’t be a fool!” he shouted.- Polly! Đừng ngốc như thế! – Nó thét lên.
“Don’t touch them.” – Đừng chạm tay vào!
It was too late.Quá trễ rồi.
Exactly as he spoke, Polly’s hand went out to touch one of the rings. Đúng lúc nó bật ra thì Polly đã đưa tay ra chạm vào một trong những cái nhẫn.
And immediately, without a flash or a noise or a warning of any sort, there was no Polly. Và lập tức Polly biến mất không phát ra một tia chớp, một tiếng động hay một lời cảnh báo nào.
Digory and his Uncle were alone in the room. Chỉ còn lại Digory và bác nó trong phòng.

Bộ tiểu thuyết: Biên niên sử Narnia
Tập 1: Cháu trai pháp sư
Tác giả: Clive Staples Lewis
Dịch giả: Hồng Vân
Nhà xuất bản: Kim Đồng
Nguồn text Tiếng Việt: tve-4u.org
Audio book: Kenneth Branagh

  • 2
    Shares