Giải thích những bài thơ Tiếng Hán trong THI VĂN DẠY ÐẠO

Hữu văn, hữu võ, hữu phong ba,
Nhựt Nguyệt Âm Dương tứ quí hòa.
Thiên Ðịa Càn Khôn kiêm vạn loại,
Nhơn quần thảo mộc cập chư hoa.
Ly kỳ cảnh vật cao nhơn thưởng,
Ðáo để san hà thượng khách ca.
Ngã vấn chư nhu hà thủ tạo?
Kỉnh Ngô vi chủ, Ðạo như hà?

Dưới đây là phần giải thích chi tiết từng câu:

Câu 1: Hữu văn, hữu võ, hữu phong ba

  • Giải nghĩa từ:
    • Hữu: Có.
    • Văn: Văn chương, sự mềm mại, trí tuệ.
    • Võ: Võ thuật, sức mạnh, sự cứng rắn.
    • Phong ba: Gió sóng, chỉ những biến cố, thử thách hoặc sự vận động mạnh mẽ của thiên nhiên.
  • Ý nghĩa: Vũ trụ và cuộc đời được tạo ra với đầy đủ các mặt đối lập nhưng bổ sung cho nhau: có nhu (văn) và có cương (võ), có sự bình yên và có cả những sóng gió, thử thách. Đây là quy luật cân bằng của tạo hóa.

Câu 2: Nhựt Nguyệt Âm Dương tứ quí hòa

  • Giải nghĩa từ:
    • Nhựt Nguyệt: Mặt trời và Mặt trăng (đại diện cho ngày và đêm).
    • Âm Dương: Hai khí tạo nên vũ trụ (Âm và Dương).
    • Tứ quí: Bốn mùa (Xuân, Hạ, Thu, Đông).
    • Hòa: Hòa hợp, thuận theo lẽ tự nhiên.
  • Ý nghĩa: Sự vận hành của vũ trụ rất trật tự và hài hòa. Mặt trời, mặt trăng, khí âm dương và bốn mùa đều luân chuyển nhịp nhàng, tạo nên sự ổn định cho sự sống.

Câu 3: Thiên Ðịa Càn Khôn kiêm vạn loại

  • Giải nghĩa từ:
    • Thiên Địa: Trời và Đất.
    • Càn Khôn: Cũng có nghĩa là Trời Đất (trong Bát Quái: Càn là Trời, Khôn là Đất), chỉ vũ trụ bao la.
    • Kiêm: Bao gồm, chứa đựng.
    • Vạn loại: Muôn loài.
  • Ý nghĩa: Trời đất vũ trụ bao la rộng lớn che chở và chứa đựng tất cả muôn loài vạn vật bên trong, không bỏ sót thứ gì.

Câu 4: Nhơn quần thảo mộc cập chư hoa

  • Giải nghĩa từ:
    • Nhơn quần: Loài người, xã hội loài người.
    • Thảo mộc: Cây cỏ.
    • Cập: Và, cùng với.
    • Chư hoa: Các loài hoa.
  • Ý nghĩa: Câu này liệt kê cụ thể những gì nằm trong "vạn loại" ở câu trên. Từ con người (linh hồn cao nhất) đến cây cỏ, hoa lá (thực vật) đều là một phần của sự sáng tạo trong vũ trụ này.

Câu 5: Ly kỳ cảnh vật cao nhơn thưởng

  • Giải nghĩa từ:
    • Ly kỳ: Lạ lùng, huyền diệu, đẹp đẽ một cách phi thường.
    • Cảnh vật: Phong cảnh, thiên nhiên.
    • Cao nhơn: Người cao kiến, bậc hiền triết, người có tâm hồn thanh cao.
    • Thưởng: Thưởng thức, ngắm nhìn.
  • Ý nghĩa: Cảnh trí của trời đất tạo ra vô cùng huyền diệu và kỳ thú. Tuy nhiên, chỉ những bậc cao nhân, những người có tâm hồn thanh tịnh và trí tuệ mới có thể thấu hiểu và thưởng thức trọn vẹn vẻ đẹp đó.

Câu 6: Ðáo để san hà thượng khách ca

  • Giải nghĩa từ:
    • Đáo để: Tận cùng, rốt cuộc, đến mức (ý chỉ sự sâu sắc).
    • San hà: Sơn hà (Núi sông).
    • Thượng khách: Khách quý.
    • Ca: Ca ngợi, ngâm thơ.
  • Ý nghĩa: Vẻ đẹp của non sông gấm vóc khiến cho những vị khách quý (những tâm hồn lớn) phải cất tiếng ca ngợi. Câu này tiếp nối ý của câu trên, ca ngợi vẻ đẹp tuyệt mỹ của công trình tạo hóa.

Câu 7: Ngã vấn chư nhu hà thủ tạo?

  • Giải nghĩa từ:
    • Ngã: Ta (lời xưng hô của Bề Trên/Đấng Tạo Hóa).
    • Vấn: Hỏi.
    • Chư nhu: Các nhà nho, các người có học, ý chỉ chung nhân loại/trí thức.
    • Hà thủ tạo: Tay ai làm ra? (Hà: Ai/Cái gì; Thủ: Tay; Tạo: Làm nên).
  • Ý nghĩa: Đây là một câu hỏi mang tính triết lý và thức tỉnh: "Ta hỏi các người (những người có học thức), nhìn thấy sự sắp đặt huyền diệu của vũ trụ như thế, các người có biết bàn tay ai đã tạo ra không?"

Câu 8: Kỉnh Ngô vi chủ, Ðạo như hà?

  • Giải nghĩa từ:
    • Kỉnh: Kính trọng, tôn thờ.
    • Ngô: Ta (Đức Chí Tôn).
    • Vi chủ: Là chủ nhân, là Đấng làm chủ.
    • Đạo như hà: Đạo là như thế nào (hoặc: Có phải là Đạo hay không?).
  • Ý nghĩa: Câu trả lời cho câu hỏi trên. Nếu biết kính trọng và tôn thờ Ta (Đấng Tạo Hóa/Thượng Đế) là Chủ tể của vũ trụ này, thì đó chính là biết Đạo, hiểu Đạo.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ vẽ nên bức tranh toàn cảnh về một vũ trụ bao la, trật tự, hài hòa và xinh đẹp (từ mặt trời, mặt trăng, con người đến cỏ cây). Qua đó, tác giả (Đấng Tạo Hóa) đặt câu hỏi để con người suy ngẫm về nguồn gốc của vũ trụ và khẳng định rằng: Việc nhận biết và tôn kính Đấng Tạo Hóa chính là gốc rễ của Đạo.

Thanh thanh nhựt nguyệt Cửu Trùng Thiên,
Hiện xuất cao nhơn tại nhãn tiền.
Bất quản hổ tranh thâu Bắc Cực,
Chỉ nguy long đấu đoạt Nam Uyên.
Sanh tồn cụ pháp vô công trác,
Tử hậu cùng đồ uổng lộ diên.
Hữu đạo, hữu công du tự khả,
Vô công, vô đạo tổng đồ nhiên.

Dưới đây là phần giải thích chi tiết từng câu:

Câu 1: Thanh thanh nhựt nguyệt Cửu Trùng Thiên

  • Giải nghĩa từ:
    • Thanh thanh: Xanh biếc, trong trẻo.
    • Nhựt nguyệt: Mặt trời và Mặt trăng (chỉ sự sáng tỏ, hoặc thời gian).
    • Cửu Trùng Thiên: Chín tầng trời (cõi trời cao xanh, nơi ngự của các Đấng thiêng liêng).
  • Ý nghĩa: Bầu trời chín tầng cao xanh lồng lộng, trăng sao vằng vặc sáng soi. Ý chỉ "Lưới trời lồng lộng", mọi sự vận hành của vũ trụ và các Đấng thiêng liêng vẫn luôn sáng suốt, dõi theo trần thế.

Câu 2: Hiện xuất cao nhơn tại nhãn tiền

  • Giải nghĩa từ:
    • Hiện xuất: Hiện ra, xuất hiện.
    • Cao nhơn: Người tài cao, bậc cứu thế, hoặc chỉ Đạo pháp cao siêu.
    • Tại nhãn tiền: Ngay trước mắt.
  • Ý nghĩa: Giữa thời cuộc này, bậc cao nhân (hoặc con đường giải thoát, chân Đạo) đã xuất hiện ngay trước mắt mọi người rồi. Câu này có ý nhắc nhở người tu: Đạo đã mở, cơ cứu độ đã đến ngay trước mắt, đừng tìm kiếm đâu xa.

Câu 3: Bất quản hổ tranh thâu Bắc Cực

  • Giải nghĩa từ:
    • Bất quản: Không màng, không lo, mặc kệ.
    • Hổ tranh: Cọp tranh giành (ẩn dụ cho các thế lực cường quyền, chiến tranh tàn khốc).
    • Thâu: Thu tóm, chiếm lấy.
    • Bắc Cực: Phương Bắc (hoặc vùng cực Bắc).
  • Ý nghĩa: Không cần bận tâm (hoặc không thể kiểm soát) việc các thế lực hung hãn như hổ đang tranh giành quyền lực, sâu xé lẫn nhau để chiếm đoạt phương Bắc (ám chỉ tình hình chiến sự, chính trị thế giới hỗn loạn ở các nước lớn).

Câu 4: Chỉ nguy long đấu đoạt Nam Uyên

  • Giải nghĩa từ:
    • Chỉ nguy: Chỉ e ngại, chỉ lo sợ sự nguy hiểm.
    • Long đấu: Rồng đánh nhau (cuộc chiến của các thế lực lớn hoặc sự chuyển biến dữ dội của thiên cơ).
    • Đoạt: Cướp lấy.
    • Nam Uyên: Vực thẳm phía Nam hoặc vùng đất phương Nam (nơi được xem là đất thánh, nơi Đạo khai mở).
  • Ý nghĩa: Điều đáng lo ngại nhất là cuộc chiến ác liệt (rồng đấu) để tranh giành, ảnh hưởng đến vùng trời phương Nam (nước Nam). Câu này mang hàm ý tiên tri về những biến cố, tai ách sẽ xảy ra tại phương Nam, nơi cần sự tỉnh thức tu hành.

Câu 5: Sanh tồn cụ pháp vô công trác

  • Giải nghĩa từ:
    • Sanh tồn: Khi còn sống, cuộc sống hiện tại.
    • Cụ pháp: Có đầy đủ phương tiện, có xác phàm, hoặc nắm giữ các pháp thế gian.
    • Vô: Không.
    • Công trác: Công đức, công lao đóng góp cho đời và Đạo.
  • Ý nghĩa: Khi còn sống ở thế gian, có thân xác, có cơ hội mà không chịu lập công bồi đức, không làm được việc gì có ích (công quả).

Câu 6: Tử hậu cùng đồ uổng lộ diên

  • Giải nghĩa từ:
    • Tử hậu: Sau khi chết.
    • Cùng đồ: Đường cùng, bế tắc, không lối thoát.
    • Uổng: Uổng phí.
    • Lộ diên: Đường dài (chặng đường đời đã qua).
  • Ý nghĩa: Thì sau khi chết, linh hồn sẽ lâm vào cảnh đường cùng, bế tắc (không được siêu thoát). Khi đó mới thấy cả một quãng đường đời dài dằng dặc vừa qua là uổng phí vô ích.

Câu 7: Hữu đạo, hữu công du tự khả

  • Giải nghĩa từ:
    • Hữu đạo: Có Đạo đức, biết tu hành.
    • Hữu công: Có công quả, công đức.
    • Du: Rong chơi, tiêu dao (chỉ sự giải thoát, tự tại).
    • Tự khả: Tự nhiên làm được, có thể được.
  • Ý nghĩa: Nếu người nào có tu Đạo và có lập công đức thì linh hồn sẽ được tự tại, tiêu dao, muốn đi đâu về đâu nơi cõi thiêng liêng cũng được (được giải thoát).

Câu 8: Vô công, vô đạo tổng đồ nhiên

  • Giải nghĩa từ:
    • Vô công, vô đạo: Không có công đức, không có đạo đức.
    • Tổng: Tất cả, tóm lại.
    • Đồ nhiên: Hư không, vô ích, trở về con số không.
  • Ý nghĩa: Nếu sống mà không có công đức, cũng chẳng biết tu Đạo thì chung quy cuộc đời đó là vô nghĩa, chết đi là hết (hoặc bị đọa lạc), mọi danh lợi thế gian đều trở thành hư không.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ là lời cảnh tỉnh của Đấng Thiêng Liêng: Bầu trời vẫn soi xét, Đạo đã mở ngay trước mắt. Đừng quá bận tâm chuyện tranh giành thế lực bên ngoài mà hãy lo cho mối nguy ngay tại nơi mình sống. Quan trọng nhất là khi còn sống (sanh tồn) phải biết tu Đạo và lập Công. Có Đạo có Công thì linh hồn siêu thoát, tự tại; còn sống buông thả, không công không đạo thì chết đi là đường cùng, cuộc đời coi như bỏ đi.


Ngọc ẩn thạch kỳ ngọc tự cao,
Hoàng thiên bất phụ chí anh hào.
Giáng ban phúc hạnh nhơn đồng lạc,
Thế tạo lương phương thế cộng giao.
Giáo hóa nhơn sanh cầu triết lý,
Ðạo truyền thiên hạ ái đồng bào.
Nam nhơn tỉnh cảm sanh cao khí,
Phương tiện tu tâm kế diệt lao.

Đây là một bài thi Khoán thủ (lấy chữ đầu của mỗi câu ghép lại thành một câu có nghĩa).

Nếu ghép 8 chữ đầu của 8 câu thơ lại, ta sẽ có câu: "NGỌC HOÀNG GIÁNG THẾ GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG".
(Ý nghĩa: Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế giáng trần để dạy Đạo tại nước Nam).

Sau đây là phần giải thích chi tiết ý nghĩa từng câu:

Câu 1: Ngọc ẩn thạch kỳ ngọc tự cao

  • Giải nghĩa từ:
    • Ngọc: Viên ngọc quý (chân lý, cái đẹp, cái thiện).
    • Ẩn thạch: Giấu trong đá (đá thường xù xì, thô kệch).
    • Kỳ: Kỳ diệu, lạ lùng.
    • Tự cao: Tự nó đã cao quý.
  • Ý nghĩa: Ngọc dù có ẩn mình trong lớp đá thô kệch thì bản chất của nó vẫn là ngọc quý, giá trị của nó vẫn cao sang không hề thay đổi. Câu này ẩn dụ rằng: Chân lý (Đạo) hay Đức Chí Tôn dù có giáng trần dưới hình thức nào, hay ẩn tàng nơi đâu thì bản thể vẫn luôn thiêng liêng và cao trọng.

Câu 2: Hoàng thiên bất phụ chí anh hào

  • Giải nghĩa từ:
    • Hoàng thiên: Trời cao, Ông Trời.
    • Bất phụ: Không phụ lòng, không bỏ rơi.
    • Chí: Ý chí, quyết tâm.
    • Anh hào: Người tài giỏi, có chí khí lớn (người tu hành chân chính).
  • Ý nghĩa: Trời cao không bao giờ phụ lòng những người có ý chí sắt đá, có tâm hồn anh hùng hào kiệt hướng về lẽ phải. Ai quyết tâm tu hành và hành đạo thì Trời sẽ độ.

Câu 3: Giáng ban phúc hạnh nhơn đồng lạc

  • Giải nghĩa từ:
    • Giáng ban: Đi xuống để ban cho.
    • Phúc hạnh: Hạnh phúc, phước lành.
    • Nhơn: Người, nhân loại.
    • Đồng lạc: Cùng vui.
  • Ý nghĩa: Ban phát phước lành, giúp cho toàn thể nhân loại cùng được hưởng niềm vui và hạnh phúc chung, không phân biệt ai.

Câu 4: Thế tạo lương phương thế cộng giao

  • Giải nghĩa từ:
    • Thế tạo: Tạo ra cho đời.
    • Lương phương: Phương thuốc hay, phương kế tốt (chỉ giáo lý của Đạo).
    • Thế cộng giao: Người đời cùng giao hảo, kết nối với nhau.
  • Ý nghĩa: Đạo tạo ra những phương cách tốt đẹp (lương phương) để người đời dựa vào đó mà đối đãi, giao thiệp với nhau một cách hòa ái, tốt đẹp.

Câu 5: Giáo hóa nhơn sanh cầu triết lý

  • Giải nghĩa từ:
    • Giáo hóa: Dạy dỗ và cảm hóa.
    • Nhơn sanh: Chúng sanh, con người.
    • Cầu: Mong cầu, tìm kiếm.
    • Triết lý: Chân lý, lẽ phải, sự hiểu biết sâu sắc về vũ trụ và nhân sinh.
  • Ý nghĩa: Mục đích của nền Đạo là giáo dục, cảm hóa con người, hướng con người biết tìm tòi, mong cầu những chân lý cao siêu để giải thoát, chứ không phải mê tín dị đoan.

Câu 6: Ðạo truyền thiên hạ ái đồng bào

  • Giải nghĩa từ:
    • Đạo truyền: Đạo được truyền bá rộng rãi.
    • Thiên hạ: Mọi người dưới gầm trời.
    • Ái: Yêu thương.
    • Đồng bào: Anh em cùng một bọc (người cùng một nước hoặc rộng hơn là cùng là con cái Đức Chí Tôn).
  • Ý nghĩa: Khi Đạo được truyền ra thiên hạ, cốt lõi là dạy cho con người biết yêu thương lẫn nhau như anh em một nhà (Tình huynh đệ đại đồng).

Câu 7: Nam nhơn tỉnh cảm sanh cao khí

  • Giải nghĩa từ:
    • Nam nhơn: Người nước Nam (Việt Nam).
    • Tỉnh cảm: Tỉnh ngộ và cảm nhận được (huyền diệu của Trời Đất).
    • Sanh: Sinh ra.
    • Cao khí: Khí phách cao thượng, tinh thần mạnh mẽ.
  • Ý nghĩa: Kêu gọi người nước Nam hãy mau tỉnh ngộ, cảm nhận được ân điển của Trời Phật để từ đó nuôi dưỡng một khí phách cao thượng, xứng đáng với sứ mạng thiêng liêng.

Câu 8: Phương tiện tu tâm kế diệt lao

  • Giải nghĩa từ:
    • Phương tiện: Cách thức, con đường (Đạo pháp).
    • Tu tâm: Sửa cái tâm cho trong sáng.
    • Kế: Kế sách, cách giải quyết.
    • Diệt lao: Tiêu diệt sự khổ ải, nhọc nhằn (của vòng luân hồi).
  • Ý nghĩa: Đạo chính là phương tiện tốt nhất để con người tu sửa tâm tính. Đó là kế sách duy nhất để diệt trừ mọi khổ đau, phiền não và thoát khỏi sự nhọc nhằn của kiếp sống trần gian.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ là lời tuyên ngôn của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế khi khai mở nền Đạo tại phương Nam (Việt Nam). Nội dung khẳng định: Dù chân lý ẩn tàng nhưng luôn cao quý, Trời không phụ người có chí. Đạo mở ra là phương thuốc hay giúp đời hòa bình, dạy người yêu thương nhau, khuyên người nước Nam tỉnh thức tu tâm dưỡng tánh để thoát khổ.


Tường quang nhứt khí chiếu minh đông,
Tam giáo qui nguyên giữ cộng đồng.
Phật pháp khuyến nhơn qui mỹ tục,
Nho Tông phục thế hưởng thuần phong.
Diệu huyền chơn đạo tu tông hướng,
Mê hoặc tà mưu khả tự phòng.
Thế thượng dục tri Thiên sứ đáo,
Tam Kỳ Phổ Ðộ lập kỳ công.

Dưới đây là phần giải thích chi tiết từng câu:

Câu 1: Tường quang nhứt khí chiếu minh đông

  • Giải nghĩa từ:
    • Tường quang: Ánh sáng lành, điềm lành (Tường: cát tường, tốt lành).
    • Nhứt khí: Một luồng khí thiêng (chỉ sự thống nhất, nguồn gốc chung của vũ trụ/Đạo).
    • Chiếu: Soi sáng.
    • Minh đông: Làm sáng rực phương Đông.
  • Ý nghĩa: Một luồng ánh sáng thiêng liêng, mang điềm lành từ cõi trên đang chiếu rọi rực rỡ xuống phương Đông (ám chỉ nước Việt Nam, nơi Đạo Cao Đài được khai sáng).

Câu 2: Tam giáo qui nguyên giữ cộng đồng

  • Giải nghĩa từ:
    • Tam giáo: Ba nền tôn giáo lớn (Phật giáo, Lão giáo, Nho giáo).
    • Qui nguyên: Quay về nguồn cội ban đầu (Nguyên: gốc).
    • Giữ cộng đồng: Gìn giữ sự hòa hợp chung, tạo nên thế giới đại đồng.
  • Ý nghĩa: Mục đích của thời kỳ này là đưa cả ba nền tôn giáo lớn quay về cùng một gốc (nhìn nhận cùng một chân lý/một Đấng Cha chung) để nhân loại không còn chia rẽ, cùng nhau gìn giữ hòa bình và hiệp đồng.

Câu 3: Phật pháp khuyến nhơn qui mỹ tục

  • Giải nghĩa từ:
    • Phật pháp: Giáo lý của nhà Phật.
    • Khuyến nhơn: Khuyên răn con người.
    • Qui: Quay về, nương theo.
    • Mỹ tục: Phong tục đẹp, thói quen tốt lành.
  • Ý nghĩa: Giáo lý của Phật giúp khuyên dạy con người bỏ ác làm lành, quay về với những phong tục tốt đẹp, sống từ bi bác ái.

Câu 4: Nho Tông phục thế hưởng thuần phong

  • Giải nghĩa từ:
    • Nho Tông: Tông đường nhà Nho (Nho giáo/Khổng giáo).
    • Phục thế: Giúp đời, khôi phục trật tự xã hội.
    • Hưởng: Thụ hưởng, đón nhận.
    • Thuần phong: Phong hóa thuần hậu, nếp sống giản dị, chân chất.
  • Ý nghĩa: Giáo lý của Nho giáo (dạy về Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín) giúp phục hồi trật tự xã hội, để người đời được hưởng một nếp sống thuần hậu, trật tự, văn minh.

Câu 5: Diệu huyền chơn đạo tu tông hướng

  • Giải nghĩa từ:
    • Diệu huyền: Huyền diệu, sâu kín, mầu nhiệm.
    • Chơn đạo: Đạo thật, chân lý đúng đắn.
    • Tu: Tu hành, sửa mình.
    • Tông hướng: Theo đúng tông chỉ, đúng phương hướng (không đi sai đường).
  • Ý nghĩa: Sự huyền diệu của Chân Đạo (Đạo Cao Đài) nằm ở chỗ người tu phải biết tuân thủ đúng tôn chỉ, mục đích đã vạch ra (là cứu độ chúng sanh và quy nguyên tam giáo).

Câu 6: Mê hoặc tà mưu khả tự phòng

  • Giải nghĩa từ:
    • Mê hoặc: Sự lừa dối, làm cho u mê, lầm lạc.
    • Tà mưu: Mưu kế đen tối, tà quái.
    • Khả: Có khả năng.
    • Tự phòng: Tự mình phòng vệ, ngăn ngừa.
  • Ý nghĩa: Nếu tu đúng Chân Đạo thì con người sẽ có trí huệ sáng suốt, có khả năng tự phòng vệ bản thân trước những cám dỗ, mê hoặc và mưu kế của tà quyền, không bị sa ngã.

Câu 7: Thế thượng dục tri Thiên sứ đáo

  • Giải nghĩa từ:
    • Thế thượng: Người đời, thế gian.
    • Dục tri: Muốn biết.
    • Thiên sứ đáo: Sứ giả của Trời đã đến.
  • Ý nghĩa: Nếu người đời muốn biết khi nào các Thiên sứ (các Đấng thiêng liêng/Nguyên nhân) đã đến thế gian để thực hiện sứ mạng…

Câu 8: Tam Kỳ Phổ Ðộ lập kỳ công

  • Giải nghĩa từ:
    • Tam Kỳ Phổ Độ: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Tên đầy đủ của Đạo Cao Đài – Cuộc cứu độ lần thứ 3).
    • Lập kỳ công: Lập nên công trạng kỳ diệu, to lớn.
  • Ý nghĩa: …Thì hãy nhìn vào nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đang được thành lập và tạo nên những công đức phi thường (cứu độ nhân loại, thống nhất tôn giáo). Đó chính là bằng chứng cho thấy Thiên sứ đã đến.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ khẳng định Đạo Cao Đài xuất hiện tại Việt Nam (phương Đông) mang theo ánh sáng lành. Tôn chỉ của Đạo là hợp nhất tinh hoa của Nho – Thích – Đạo để giáo hóa con người: Phật dạy từ bi, Nho dạy lễ nghĩa. Người tu chân chính sẽ tránh được tà mị. Sự ra đời và phát triển (lập kỳ công) của nền Đại Đạo chính là minh chứng cho ý Trời và sự hiện diện của các Đấng thiêng liêng.

20 bài thi Tứ tuyệt Hán văn từ số 107 đến 126, Ngài Hiến Pháp Trương Hữu Ðức, Trưởng Ban Kiểm Duyệt Kinh Sách Ðạo, bỏ ra từ bản in năm 1964, nay xin chép bổ sung:

107. Bình sanh tâm địa náo trung can,
Nhược thể nan tri thế đạo tàn.
Thích hạt công danh tâm mộ hám,
Hữu nhơn hữu đức đắc giang san.

Dưới đây là phần giải thích chi tiết từng câu:

Câu 1: Bình sanh tâm địa náo trung can

  • Giải nghĩa từ:
    • Bình sanh: Cả đời, lúc còn sống.
    • Tâm địa: Tấm lòng, cõi lòng.
    • Náo: Sôi sục, náo động, mãnh liệt.
    • Trung can: Gan trung, lòng trung nghĩa (người xưa quan niệm lòng trung chứa ở gan).
  • Ý nghĩa: Cả cuộc đời ta, trong lòng lúc nào cũng sôi sục một bầu máu nóng của sự trung nghĩa. Câu này khẳng định khí tiết không thay đổi của bậc trượng phu: luôn vì nghĩa lớn, vì vua, vì nước.

Câu 2: Nhược thể nan tri thế đạo tàn

  • Giải nghĩa từ:
    • Nhược thể: Thân thể yếu ớt (chỉ xác phàm trần giới hạn hoặc thân xác khi đã mất).
    • Nan tri: Khó biết, khó lường hết được.
    • Thế đạo: Đường đời, tình đời.
    • Tàn: Suy tàn, tàn bạo, suy đồi.
  • Ý nghĩa: Mang thân xác phàm tục (hoặc khi nhìn lại cõi trần), thật khó mà hiểu thấu hết được sự suy đồi, tàn bạo và hiểm ác của thế thái nhân tình. Câu này mang ý than thở về sự xuống cấp của đạo đức người đời.

Câu 3: Thích hạt công danh tâm mộ hám

  • Giải nghĩa từ:
    • Thích hạt: Có nghĩa là coi rẻ, vứt bỏ như hạt cát, hoặc xem là nhỏ nhoi (Thích: vứt bỏ/chán ghét; Hạt: nhỏ bé).
    • Công danh: Danh lợi, địa vị.
    • Tâm mộ hám: Lòng ham muốn, thèm khát (Mộ: mến; Hám: tham).
  • Ý nghĩa: Câu này có thể hiểu theo hai ý (thường là ý phê phán người đời hoặc răn dạy):
    1. Người đời thường vì chút công danh nhỏ nhoi như hạt cát mà nảy sinh lòng tham lam, tranh đoạt.
    2. (Lời khuyên): Hãy xem công danh như hạt bụi mà vứt bỏ đi, đừng để cái tâm ham muốn, tham lam chi phối.

Câu 4: Hữu nhơn hữu đức đắc giang san

  • Giải nghĩa từ:
    • Hữu nhơn: Có lòng nhân ái (thương người).
    • Hữu đức: Có đạo đức, phẩm hạnh.
    • Đắc: Được, chiếm được, thu phục được.
    • Giang san: Non sông, đất nước (nghĩa rộng là thiên hạ, sự nghiệp lớn).
  • Ý nghĩa: Chỉ có người có lòng nhân từ và có đức độ mới có thể thu phục được lòng người và làm chủ được non sông xã tắc. Đây là chân lý "Lấy đức thu phục người" (Đức trị) thay vì dùng mưu mô hay sức mạnh để tranh đoạt công danh ở câu trên.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ là lời tự bạch của bậc anh hùng trọng nghĩa khí: Cả đời giữ lòng trung sôi sục, nhưng ngán ngẩm trước thế đạo suy tàn. Ngài khuyên răn rằng đừng chạy theo bả công danh phù du bằng lòng tham, vì chỉ có Nhân và Đức mới là gốc rễ bền vững để giữ gìn sự nghiệp lớn (giang san).


108. Tứ quân bạch trực nhứt tâm ưu,
Mãn hạn tu hành Ðạo thị mưu.
Cư thế đắc thành nan vị thế,
Thánh tâm vô đức nạn năng cừu.

Dưới đây là phần giải thích chi tiết từng câu:

Câu 1: Tứ quân bạch trực nhứt tâm ưu

  • Giải nghĩa từ:
    • Tứ quân: Từ dùng để gọi người nghe một cách trang trọng (Các ông, các người, chư vị).
    • Bạch trực: Trong sạch và ngay thẳng (Bạch: trắng/trong; Trực: thẳng).
    • Nhứt tâm: Một lòng.
    • Ưu: Lo lắng.
  • Ý nghĩa: Bề trên nhìn thấy các môn đệ (hoặc người nghe) tuy có tấm lòng trong sạch, ngay thẳng, nhưng Bề trên vẫn một lòng lo lắng cho các người. (Lo lắng vì đường tu còn dài và nhiều chông gai).

Câu 2: Mãn hạn tu hành Ðạo thị mưu

  • Giải nghĩa từ:
    • Mãn hạn: Hết thời hạn (chỉ trọn kiếp người, hoặc đi hết con đường tu).
    • Tu hành: Việc sửa mình, rèn luyện tâm tính.
    • Đạo thị mưu: Đạo là mưu lược, là phương chước (Thị: là; Mưu: kế hoạch, giải pháp).
  • Ý nghĩa: Để tu hành cho đến ngày viên mãn (trọn kiếp/đắc đạo), thì Đạo chính là phương chước, là con đường, là giải pháp duy nhất và mầu nhiệm nhất để con người nương theo mà thoát khổ. (Câu này cũng có ý nhắc nhở: Phải lấy Đạo làm kim chỉ nam, làm kế sách cho cuộc đời mình).

Câu 3: Cư thế đắc thành nan vị thế

  • Giải nghĩa từ:
    • Cư thế: Sống ở đời, cư ngụ nơi trần thế.
    • Đắc thành: Đạt được thành tựu, đắc đạo.
    • Nan: Khó.
    • Vị thế: Vì cái thế cuộc, vì hoàn cảnh, địa vị xã hội.
  • Ý nghĩa: Sống ở cõi trần này, muốn tu hành đắc đạo là điều rất khó khăn. Khó là vì bị hoàn cảnh xã hội, danh lợi, địa vị (cái "thế" của đời) lôi kéo, ràng buộc, làm cho con người dễ sa ngã.

Câu 4: Thánh tâm vô đức nạn năng cừu

  • Giải nghĩa từ:
    • Thánh tâm: Tâm của bậc Thánh, ý chí muốn làm Thánh (nghĩ điều cao cả).
    • Vô đức: Không có đức hạnh, không có công đức thực tế (chỉ nói suông mà không làm).
    • Nạn: Khó, tai nạn.
    • Năng cừu: Có thể cứu vãn được (Cừu: ở đây mang nghĩa là Cứu giúp, phù trợ).
  • Ý nghĩa: Dù trong lòng có nghĩ đến chuyện Thánh hiền, có ý chí tu hành (Thánh tâm), nhưng nếu không thực hành, thiếu đức hạnh và công quả (Vô đức) thì cũng khó mà được cứu rỗi, khó mà thành tựu được quả vị.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ là lời nhắc nhở ân cần nhưng nghiêm khắc: Bề trên ghi nhận sự ngay thẳng của người tu nhưng vẫn rất lo lắng. Bởi lẽ, muốn tu trọn đời thì phải xem Đạo là phương châm sống cốt lõi. Sống ở đời rất khó thành đạo vì sự cám dỗ của thế tục; do đó, chỉ có "Tâm Thánh" thôi chưa đủ, phải bồi đắp "Đức hạnh" thực tế thì mới mong được giải thoát.


109. Ðạo căn nhứt lượng tẩm sài hồ,
Chuyên trị nhứt thời hạnh khả đô.
Khánh nhựt đắc kỳ y hữu lộ,
Bắc phương đắc ngộ tấn sinh đồ.

Dưới đây là phần giải thích chi tiết từng câu:

Câu 1: Ðạo căn nhứt lượng tẩm sài hồ

  • Giải nghĩa từ:
    • Đạo căn: Căn bản của Đạo, gốc rễ của sự tu hành (tâm đức).
    • Nhứt lượng: Một lượng (đơn vị đo lường thuốc Đông y), ý chỉ một liều lượng nhất định, chuẩn mực.
    • Tẩm: Ngâm, thấm vào.
    • Sài hồ: Một vị thuốc Bắc nổi tiếng, có tính mát, vị đắng, thường dùng để giải nhiệt, sơ can giải uất (làm thư thái tinh thần, giải tỏa bực dọc), thăng dương khí.
  • Ý nghĩa: Muốn chữa bệnh cho tâm hồn hay giải quyết việc đời, trước hết phải lấy cái gốc của Đạo (Đạo căn) làm chủ. Hãy dùng "Đạo" như một vị thuốc (Sài hồ) để làm mát dịu tinh thần, giải tỏa những uất kết, phiền não trong lòng.

Câu 2: Chuyên trị nhứt thời hạnh khả đô

  • Giải nghĩa từ:
    • Chuyên trị: Chuyên dùng để chữa trị.
    • Nhứt thời: Một lúc, thời điểm hiện tại, hoặc bệnh tình cấp bách của thời cuộc.
    • Hạnh: Đức hạnh, nết na, hành động.
    • Khả đô: Có thể định được, có thể thành tựu (Đô: to lớn, đẹp đẽ, hoặc nơi đô hội). Ý nói đức hạnh có thể trở nên tốt đẹp, vững vàng.
  • Ý nghĩa: Bài thuốc "Đạo căn" ở câu trên chuyên trị những căn bệnh của thời đại này (sự rối ren, dục vọng). Nếu dùng nó thì đức hạnh và hành vi của con người sẽ trở nên chuẩn mực, tốt đẹp và thành công.

Câu 3: Khánh nhựt đắc kỳ y hữu lộ

  • Giải nghĩa từ:
    • Khánh nhựt: Ngày vui, ngày tốt lành, lễ kỷ niệm.
    • Đắc kỳ: Gặp được đúng thời cơ, đúng lúc.
    • Y: Thầy thuốc, thuốc, hoặc sự chữa trị (ẩn dụ cho giải pháp).
    • Hữu lộ: Có đường đi, có lối thoát.
  • Ý nghĩa: Vào một ngày vui vẻ tốt lành, nếu biết nắm bắt đúng thời cơ và tìm được đúng phương thuốc (hoặc đúng Thầy/đúng Đạo) thì mọi bế tắc sẽ được khai thông, con đường phía trước sẽ mở ra (có lối đi).

Câu 4: Bắc phương đắc ngộ tấn sinh đồ

  • Giải nghĩa từ:
    • Bắc phương: Phương Bắc.
    • Đắc ngộ: Gặp gỡ được, thấu hiểu được (giác ngộ).
    • Tấn: Tiến tới, thăng tiến.
    • Sinh đồ: Đường đời, con đường sự nghiệp hoặc con đường tu học (đệ tử).
  • Ý nghĩa: Hướng về phương Bắc (hoặc đi về phía Bắc) sẽ có cơ duyên gặp gỡ (người hiền/cơ hội tốt). Khi đó, con đường sự nghiệp và cuộc đời sẽ thăng tiến, phát triển mạnh mẽ.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ là một lời khuyên kín đáo: Hãy lấy cái gốc của Đạo đức để làm phương thuốc chữa trị tâm bệnh và giải quyết việc đời. Khi tâm đã tịnh (như dùng Sài hồ giải nhiệt), đức hạnh đã vững, lại gặp đúng thời cơ tốt lành, thì nên hướng về phương Bắc hoặc tìm kiếm cơ hội từ phương Bắc. Tại đó, sự nghiệp và đường đời sẽ gặp nhiều may mắn, thăng tiến.

110. Tiên đàng nhứt thế biến Lôi Âm,
Tận độ nhơn sanh thoát tục phàm.
Thánh giáo phát khai thiên thế mỹ,
Thâu hồi nhập nhứt Đạo Kỳ Tam.

Câu 1: Tiên đàng nhứt thế biến Lôi Âm

  • Giải nghĩa từ:
    • Tiên đàng: Đường Tiên, cõi Tiên, nơi thanh tịnh.
    • Nhứt thế: Một đời, hoặc cả thế gian này (trong khoảng thời gian này).
    • Biến: Biến đổi, hóa thành.
    • Lôi Âm: Chùa Lôi Âm (Lôi Âm Tự) – theo điển tích Phật giáo và Tây Du Ký, đây là nơi Đức Phật Tổ ngự, tượng trưng cho cõi Cực Lạc, nơi giác ngộ hoàn toàn.
  • Ý nghĩa: Trong thời kỳ này, cõi đời (hoặc con đường tu hành) sẽ được chuyển hóa mầu nhiệm, biến chốn trần gian thành nơi thanh tịnh, linh thiêng như cõi Phật (Lôi Âm). Câu này nói lên tham vọng xây dựng thiên đường tại thế của nền Đạo.

Câu 2: Tận độ nhơn sanh thoát tục phàm

  • Giải nghĩa từ:
    • Tận độ: Cứu độ đến cùng, cứu vớt hết thảy không bỏ sót ai (Đại ân xá).
    • Nhơn sanh: Con người, chúng sanh.
    • Thoát: Thoát khỏi.
    • Tục phàm: Cõi trần tục lụy, sự tầm thường, vòng luân hồi đau khổ.
  • Ý nghĩa: Mục đích tối thượng là cứu giúp tất cả chúng sanh thoát khỏi những đau khổ, ràng buộc của kiếp sống phàm tục để tìm về sự giải thoát, an lạc.

Câu 3: Thánh giáo phát khai thiên thế mỹ

  • Giải nghĩa từ:
    • Thánh giáo: Lời dạy của Thánh, giáo lý của Đạo.
    • Phát khai: Mở ra, truyền bá rộng rãi.
    • Thiên thế: Ngàn đời (chỉ thời gian dài lâu) hoặc thế giới của Trời.
    • Mỹ: Đẹp đẽ, tốt lành.
  • Ý nghĩa: Nền Thánh giáo được mở ra để xây dựng một kỷ nguyên tươi đẹp, một nền văn minh đạo đức tốt lành lưu truyền cho ngàn đời sau (hoặc mở ra một thế giới đẹp như cõi Trời).

Câu 4: Thâu hồi nhập nhứt Đạo Kỳ Tam

  • Giải nghĩa từ:
    • Thâu hồi: Thu lại, gom về.
    • Nhập nhứt: Hợp lại làm một (Quy nguyên).
    • Đạo Kỳ Tam: Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (Đạo Cao Đài – Thời kỳ cứu độ lần thứ 3).
  • Ý nghĩa: Sứ mạng cốt lõi của Đạo Kỳ Tam là thu gom tất cả các tôn giáo, các chi phái và nhân sanh về một mối (Vạn giáo nhất lý), cùng thờ chung một Đấng Cha Trời, không còn chia rẽ.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ là lời khẳng định mạnh mẽ: Đạo Cao Đài (Đạo Kỳ Tam) ra đời để biến thế gian đau khổ thành cõi Cực Lạc (Lôi Âm), cứu vớt toàn bộ chúng sanh thoát khổ. Nền Thánh giáo này sẽ mở ra một kỷ nguyên tươi đẹp vĩnh cửu bằng cách quy tụ vạn giáo về một nguồn cội duy nhất.


111. Tường quang nhứt khí chiếu minh Thiên,
Đạo thử khả tri ý diệu huyền.
Nhơn phẩm bất phân Tiên Phật vị,
Đào trang thỉnh nhập cửu quyền nhiên.

Câu 1: Tường quang nhứt khí chiếu minh Thiên

  • Giải nghĩa từ:
    • Tường quang: Ánh sáng tốt lành (Tường: Cát tường; Quang: Ánh sáng).
    • Nhứt khí: Một luồng khí thiêng liêng duy nhất (Nguyên khí của vũ trụ/Đạo).
    • Chiếu: Soi rọi.
    • Minh Thiên: Làm sáng rực cả bầu trời (Thiên).
  • Ý nghĩa: Một luồng ánh sáng thiêng liêng tốt lành, kết tụ từ nguyên khí của vũ trụ đang chiếu sáng rực rỡ khắp bầu trời.

Câu 2: Đạo thử khả tri ý diệu huyền

  • Giải nghĩa từ:
    • Đạo thử: Đạo này (Chỉ nền Đạo đang hiện hữu).
    • Khả tri: Có thể biết, có thể thấu hiểu.
    • Ý diệu huyền: Ý nghĩa mầu nhiệm, sâu kín, huyền bí (của Trời đất).
  • Ý nghĩa: Nhờ có nền Đạo này mà con người mới có thể thấu hiểu được những ý nghĩa huyền diệu, sâu xa của Trời đất mà trước kia vốn khó lường.

Câu 3: Nhơn phẩm bất phân Tiên Phật vị

  • Giải nghĩa từ:
    • Nhơn phẩm: Phẩm giá con người, địa vị làm người.
    • Bất phân: Không phân chia, không tách biệt quá xa, không có ranh giới ngăn cách tuyệt đối.
    • Tiên Phật vị: Ngôi vị của Tiên và Phật.
  • Ý nghĩa: Đây là một tư tưởng lớn của Đạo: Phẩm giá con người và ngôi vị Tiên Phật không hề có sự tách biệt diệu vợi. Con người vốn có Phật tánh, Tiên cốt. Nếu biết tu hành, từ "Nhơn phẩm" có thể đoạt được "Tiên Phật vị". Con người là Phật chưa thành.

Câu 4: Đào trang thỉnh nhập cửu quyền nhiên

  • Giải nghĩa từ:
    • Đào trang: Trang trại trồng đào, vườn đào (Điển tích chốn Đào Nguyên, nơi Tiên ở). Ý chỉ cõi Tiên, nơi tu hành an lạc.
    • Thỉnh nhập: Mời bước vào.
    • Cửu quyền nhiên: "Cửu" là chín (số cực dương) hoặc vĩnh cửu; "Quyền nhiên" là quyền năng tự nhiên của Tạo hóa. Cụm này có thể hiểu là quyền phép thiêng liêng của Cửu Trùng Thiên hoặc trật tự vĩnh hằng của vũ trụ.
  • Ý nghĩa: Cửa Đạo (như chốn Đào Nguyên tiên cảnh) đang mở rộng để mời gọi nhân sanh bước vào, để được hòa mình vào quyền năng vĩnh cửu và tự nhiên của Trời đất, hưởng sự an lạc đời đời.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ mô tả sự xuất hiện của Đạo như một luồng ánh sáng lành chiếu rọi trời đất, giúp con người hiểu thấu lẽ huyền vi. Quan trọng nhất, bài thơ khẳng định con người có tiềm năng thành Tiên Phật (không phân biệt ngôi vị), và cửa Đạo luôn rộng mở mời gọi mọi người bước vào để hưởng quyền năng an lạc vĩnh hằng.


112. Bửu kinh đệ chiếu triệu qui hồi,
Khả tác từ viên bất cử bôi.
Thiên Địa vô công nan nhập hội,
Thành công tùy lực khích nhơn hồi.

Câu 1: Bửu kinh đệ chiếu triệu qui hồi

  • Giải nghĩa từ:
    • Bửu kinh: Kinh sách quý báu (Lời vàng ngọc của Tiên Phật).
    • Đệ chiếu: Đệ là trình lên hoặc đưa đến; Chiếu là chiếu chỉ, mệnh lệnh của Vua/Trời.
    • Triệu: Gọi về, triệu tập.
    • Qui hồi: Quay trở về (về với Đạo, về với nguồn cội).
  • Ý nghĩa: Những lời dạy quý báu (Kinh sách) đã được ban xuống như một tờ chiếu chỉ thiêng liêng để kêu gọi các chơn linh, các môn đệ mau chóng quay trở về nẻo chánh, quay về với Thầy.

Câu 2: Khả tác từ viên bất cử bôi

  • Giải nghĩa từ:
    • Khả tác: Có thể làm nên, gây dựng được.
    • Từ viên: Vườn từ bi, vườn đạo đức (nơi thanh tịnh của người tu).
    • Bất: Không.
    • Cử bôi: Nâng chén (ám chỉ việc uống rượu, tiệc tùng, vui thú thế gian).
  • Ý nghĩa: Người tu có thể tạo dựng nên một "vườn đạo" thanh tịnh, kết mối giao hảo thiêng liêng mà không cần phải dùng đến rượu trà, tiệc tùng hay những thú vui trần tục như người đời thường làm để kết giao. Câu này khuyên giữ giới, sống thanh tịnh.

Câu 3: Thiên Địa vô công nan nhập hội

  • Giải nghĩa từ:
    • Thiên Địa: Trời Đất (Đấng cầm cân nảy mực).
    • Vô công: Không có công quả, không có công đức đóng góp cho đời và Đạo.
    • Nan: Khó.
    • Nhập hội: Vào dự hội (ám chỉ Hội Long Hoa – cuộc tuyển chọn người hiền đức cuối thời kỳ).
  • Ý nghĩa: Luật Trời Đất rất công bình: Nếu người tu hành mà không có công đức, không làm lợi ích cho chúng sanh ("vô công") thì rất khó ("nan") mà được tuyển chọn vào Hội Thánh hoặc được cứu độ trong kỳ thi cuối cùng.

Câu 4: Thành công tùy lực khích nhơn hồi

  • Giải nghĩa từ:
    • Thành công: Đạt được kết quả viên mãn, đắc đạo.
    • Tùy lực: Tùy theo sức lực, khả năng của mình.
    • Khích: Khuyến khích, động viên, thúc đẩy.
    • Nhơn hồi: Người người quay trở về (với Đạo).
  • Ý nghĩa: Sự thành công của người tu không chỉ là tu cho riêng mình, mà còn phụ thuộc vào việc tùy theo sức mình mà khuyến khích, độ dẫn người khác cùng quay về đường ngay nẻo chánh. (Ý nhấn mạnh hạnh "Độ tha" – giúp người khác cùng tu).

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ là lời triệu tập khẩn thiết: Lời vàng đã ban xuống gọi về. Người tu hãy sống thanh tịnh, xa rời tiệc tùng thế tục. Điều quan trọng nhất là phải ghi nhớ: Muốn được Trời Đất chứng quả, muốn được dự Hội Long Hoa thì bắt buộc phải có Công Đức. Công đức đó đến từ việc nỗ lực khuyến khích và dẫn dắt người khác cùng tu hành quay về với Đạo.


113. Chí cao tự hữu chí cao sanh,
Sanh lạc cảnh thiền khí tự sanh.
Sanh trị nhơn bàng tâm tức lự,
Lự thanh lự trược tất hương sanh.

Câu 1: Chí cao tự hữu chí cao sanh

  • Giải nghĩa từ:
    • Chí cao: Ý chí cao thượng, hoài bão lớn (hướng về Đạo, về Trời).
    • Tự hữu: Tự nhiên có, vốn dĩ đã có.
    • Sanh: Sinh ra, nảy nở, tạo thành.
  • Ý nghĩa: Người có ý chí cao thượng, quyết tâm tu hành thì tự nhiên từ cái ý chí đó sẽ sinh ra những quả vị cao quý, những thành tựu lớn lao tương xứng. (Hoặc hiểu theo nghĩa: Có cái "Chí" hướng về đấng "Chí Cao" – Thượng Đế, thì sự sống cao cấp mới được sinh dưỡng).

Câu 2: Sanh lạc cảnh thiền khí tự sanh

  • Giải nghĩa từ:
    • Sanh lạc: Sống vui vẻ, an lạc.
    • Cảnh thiền: Cảnh giới thanh tịnh, tĩnh lặng (như đang thiền định).
    • Khí: Chơn khí, năng lượng sự sống, tinh thần.
    • Tự sanh: Tự nhiên sinh sôi, nảy nở.
  • Ý nghĩa: Nếu con người biết sống an lạc, giữ tâm hồn thanh tịnh như đang ở trong cảnh thiền (dù đang ở đời), thì chơn khí trong cơ thể và tinh thần sẽ tự động sinh sôi, sức khỏe và trí huệ sẽ dồi dào. (Đây là nguyên lý dưỡng sinh và tu thiền).

Câu 3: Sanh trị nhơn bàng tâm tức lự

  • Giải nghĩa từ:
    • Sanh trị: Sống và cư xử, đối đãi.
    • Nhơn bàng: "Nhơn" là người; "Bàng" là bên cạnh/xung quanh. Ý chỉ việc sống chung đụng với người đời, với xã hội.
    • Tâm tức lự: Lòng lập tức lo âu, suy nghĩ (Tức: ngay; Lự: lo nghĩ).
  • Ý nghĩa: Khi sống ở đời, phải đối nhân xử thế, va chạm với mọi người xung quanh thì cái Tâm thường dễ nảy sinh sự lo âu, toan tính, phiền não.

Câu 4: Lự thanh lự trược tất hương sanh

  • Giải nghĩa từ:
    • Lự: Ở câu này "Lự" đóng vai trò là động từ: Suy xét, lọc lựa, phân định.
    • Thanh – Trược: Trong sạch – Dơ bẩn (Chánh – Tà; Tốt – Xấu).
    • Tất: Chắc chắn.
    • Hương sanh: Hương thơm (của đức hạnh/Đạo vị) sinh ra.
  • Ý nghĩa: Dù tâm có lo nghĩ (như câu 3), nhưng nếu biết suy xét, biết lọc lựa đâu là điều Thanh (trong sạch, đúng đắn) để theo, đâu là điều Trược (xấu xa) để bỏ, thì chắc chắn đức hạnh sẽ tỏa hương thơm ngát, Đạo quả sẽ thành.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ dạy người tu:

  1. Phải nuôi dưỡng ý chí cao thượng.
  2. Giữ tâm an lạc, thanh tịnh thì khí lực sung mãn.
  3. Tuy sống giữa đời đầy rẫy lo âu va chạm.
  4. Nhưng nếu biết phân biệt rõ ràng Thanh – Trược (Đúng – Sai) để hành động thì sẽ đắc Đạo (tỏa hương).

114. Lưu danh tự thế, thế năng tồn,
Tồn tính tồn tâm vật tự tôn.
Tôn bái bổn thần thành quái sự,
Sự đương nhiên hại bổn kiền khôn.

Câu 1: Lưu danh tự thế, thế năng tồn

  • Giải nghĩa từ:
    • Lưu danh: Để lại tiếng tăm, danh thơm.
    • Tự thế: Tại đời, ở đời (hoặc: từ đời này sang đời khác).
    • Thế: Đời, thế cuộc.
    • Năng tồn: Có khả năng tồn tại, còn mãi.
  • Ý nghĩa: Muốn để lại tiếng thơm ở đời, muốn danh tiếng và sự nghiệp ấy có thể tồn tại bền vững cùng thế cuộc, thì cần phải có bí quyết (được giải thích ở câu sau). Câu này đặt vấn đề về sự tồn tại và danh dự của con người.

Câu 2: Tồn tính tồn tâm vật tự tôn

  • Giải nghĩa từ:
    • Tồn tính: Bảo tồn tính khí (bản tánh tốt lành).
    • Tồn tâm: Giữ gìn cái tâm (lương tâm, đạo đức).
    • Vật: Chớ, đừng, không được.
    • Tự tôn: Tự tôn trọng mình thái quá, kiêu ngạo, coi mình là nhất.
  • Ý nghĩa: Muốn "tồn" (sống còn, lưu danh) như câu trên nói, thì cốt lõi là phải biết giữ gìn bản tánh và lương tâm cho trong sáng. Điều tối kỵ là không được kiêu ngạo, không được tự cao tự đại.

Câu 3: Tôn bái bổn thần thành quái sự

  • Giải nghĩa từ:
    • Tôn bái: Thờ phượng, sùng bái, cung kính quá mức.
    • Bổn thần: Thần xác của bản thân, cái "Tôi" (cái ngã) của mình.
    • Thành: Trở thành.
    • Quái sự: Chuyện quái đản, chuyện lạ lùng, điều nghịch lý trái đạo.
  • Ý nghĩa: Nếu sự "tự tôn" (ở câu 2) đi quá xa đến mức trở thành sự sùng bái chính bản thân mình (coi mình là thần thánh, là trung tâm vũ trụ, chỉ biết yêu quý thân xác mình) thì đó là một chuyện vô cùng quái đản, trái ngược với lẽ Đạo.

Câu 4: Sự đương nhiên hại bổn kiền khôn

  • Giải nghĩa từ:
    • Sự đương nhiên: Việc tất nhiên sẽ xảy ra, quy luật nhân quả.
    • Hại: Làm hại, phá hủy.
    • Bổn kiền khôn: "Kiền Khôn" là Trời Đất, trong Đạo học con người được xem là một "Tiểu kiền khôn" (Vũ trụ thu nhỏ). "Bổn kiền khôn" ý chỉ bổn mạng, linh hồn và thể xác của chính người đó.
  • Ý nghĩa: Cái việc sùng bái bản thân (quái sự) đó tất yếu sẽ dẫn đến hậu quả là tự hủy hoại chính cơ đồ, hủy hoại chính "tiểu vũ trụ" (thân tâm và vận mệnh) của người đó. Kẻ kiêu ngạo chắc chắn sẽ tự chuốc lấy thất bại và diệt vong.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ dạy rằng:

  1. Muốn lưu danh và tồn tại ở đời.
  2. Phải lo tu tâm dưỡng tính, tuyệt đối tránh thói kiêu ngạo (tự tôn).
  3. Vì nếu quá yêu bản thân, sùng bái cái "Tôi" thì đó là điều quái gở.
  4. Điều đó chắc chắn sẽ phá nát sự nghiệp và làm hại chính bản thân (bổn kiền khôn) của mình.

115. Thành tâm tu niệm đắc Thiên ân,
Ân tứ hiền nhân dữ thiện nhân.
Phân thị phân phi, phi thị thị,
Thị phi hậu thức giả phân phân.

Câu 1: Thành tâm tu niệm đắc Thiên ân

  • Giải nghĩa từ:
    • Thành tâm: Lòng thành thật, không gian dối.
    • Tu niệm: Tu sửa bản thân và tưởng nhớ đến Trời Phật (niệm kinh, niệm danh hiệu).
    • Đắc: Được, nhận được.
    • Thiên ân: Ơn Trời, ân điển thiêng liêng.
  • Ý nghĩa: Điều kiện tiên quyết để nhận được ân điển của Trời là phải có lòng thành. Chỉ cần "thành tâm" tu sửa và cầu nguyện thì chắc chắn sẽ đắc được Thiên ân.

Câu 2: Ân tứ hiền nhân dữ thiện nhân

  • Giải nghĩa từ:
    • Ân tứ: Ân huệ ban cho.
    • Hiền nhân: Người hiền đức, có trí tuệ và đạo đức.
    • Dữ: Và, cùng với (hoặc ban cho).
    • Thiện nhân: Người làm việc lành, người tốt.
  • Ý nghĩa: Ơn trên ban xuống không phải ngẫu nhiên, mà có quy luật: Chỉ ban cho những người hiền lương và những người thiện lương. Đây là lời khẳng định luật nhân quả và khuyến khích làm lành lánh dữ.

Câu 3: Phân thị phân phi, phi thị thị

  • Giải nghĩa từ:
    • Phân: Phân biệt, chia tách.
    • Thị – Phi: Đúng – Sai (hoặc Phải – Trái).
    • Phi thị thị: Cái sai (Phi) lại hóa ra là cái đúng (thị thị), hoặc cái sai bị coi là cái đúng.
  • Ý nghĩa: Ở đời, người ta cứ mải mê tranh luận, phân biệt đâu là đúng (Thị), đâu là sai (Phi). Nhưng thói đời điên đảo, trắng đen lẫn lộn, đôi khi cái "Sai" lại được ngụy biện hoặc nhìn nhận như là cái "Đúng" (Phi thị thị).

Câu 4: Thị phi hậu thức giả phân phân

  • Giải nghĩa từ:
    • Thị phi: Chuyện đúng sai, lời đồn đại, tranh chấp.
    • Hậu thức: Hiểu biết sau này, nhận thức về sau (Hậu: sau; Thức: biết).
    • Giả: Kẻ/Người (hoặc là giả dối). Ở đây hiểu là "Hậu thức giả" = Người có hiểu biết sau này.
    • Phân phân: Rối rắm, lộn xộn, hoặc là phân định rạch ròi.
  • Ý nghĩa:
    • Cách hiểu 1: Chuyện thị phi đúng sai đảo điên đó, hãy để cho người có trí tuệ sau này (hoặc thời gian sau này) phân định rõ ràng.
    • Cách hiểu 2: Những tranh luận thị phi chỉ khiến cho người trí thức phải bối rối, phân vân (vì sự đảo điên của nó).
    • Lời khuyên: Đừng quá bận tâm vào thị phi điên đảo trước mắt.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ là lời khuyên tu hành thực tế:

  1. Hãy tu với lòng thành để được Trời ban ơn.
  2. Trời chỉ độ người hiền lành, lương thiện.
  3. Đừng mất thời gian tranh cãi đúng sai (thị phi) với đời, vì đời thường đảo điên, sai biến thành đúng.
  4. Việc đúng sai đó cứ để thời gian hoặc sự sáng suốt sau này phân định, người tu chỉ cần giữ lòng thành thiện là đủ.

116. Thánh vô trí giả tự nhiên nghinh,
Thế bất Đạo tùng, thế tất khuynh.
Mạc hám hồng trần khiêm tạo mộng,
Thức tâm dị chưởng đáo hồ đình.

Đây là bài Thánh ngôn số 116. Bài thi này mang đậm màu sắc của Lão giáo (Đạo giáo), khuyên con người nên sống đơn thuần, thuận theo tự nhiên và cảnh báo về sự suy đồi của thế gian nếu xa rời Đạo.

Dưới đây là phần giải thích chi tiết từng câu:

Câu 1: Thánh vô trí giả tự nhiên nghinh

  • Giải nghĩa từ:
    • Thánh: Bậc Thánh, Đạo lý thiêng liêng.
    • Vô trí giả: Người không dùng trí xảo, người không mưu mô tính toán (trong Đạo giáo, "vô trí" đôi khi được hiểu là bỏ đi cái khôn vặt, cái xảo quyệt của đời để trở về sự ngây thơ, chân chất).
    • Tự nhiên: Một cách tự nhiên, không gượng ép.
    • Nghinh: Đón rước, gặp gỡ.
  • Ý nghĩa: Đạo Thánh hay các Đấng thiêng liêng sẽ tự nhiên đón nhận những người có tâm hồn chân chất, đơn thuần, không mưu mô xảo quyệt (vô trí giả). Không cần phải là người thông thái hay dùng mưu trí thế gian mới gặp được Đạo, chỉ cần cái tâm thuần khiết là đủ.

Câu 2: Thế bất Đạo tùng, thế tất khuynh

  • Giải nghĩa từ:
    • Thế: Thế gian, người đời, hoặc thời thế.
    • Bất: Không.
    • Đạo tùng: Tùng theo Đạo (Tùng: Thuận theo, đi theo).
    • Tất: Ắt là, chắc chắn.
    • Khuynh: Nghiêng, đổ, sụp đổ (khuynh đảo).
  • Ý nghĩa: Nếu người đời (hoặc thế cuộc) mà không biết thuận tùng theo Đạo lý, đi ngược lại quy luật của Trời đất thì chắc chắn thế cuộc ấy sẽ bị nghiêng ngửa, sụp đổ và loạn lạc.

Câu 3: Mạc hám hồng trần khiêm tạo mộng

  • Giải nghĩa từ:
    • Mạc: Chớ, đừng.
    • Hám: Ham muốn, tham lam.
    • Hồng trần: Bụi hồng (chỉ cõi đời trần tục, danh lợi).
    • Khiêm: Ít, kém, hoặc là khiêm nhường (ở đây hiểu theo nghĩa là hạn chế, đừng làm).
    • Tạo mộng: Tạo ra giấc mộng, dệt mộng ảo huyền.
  • Ý nghĩa: Chớ nên tham lam, ham muốn những vinh hoa phú quý nơi cõi trần này. Hãy bớt (khiêm) việc dệt nên những mộng tưởng hão huyền đó đi, vì cuộc đời trần thế bản chất cũng chỉ là một giấc mộng lớn mà thôi.

Câu 4: Thức tâm dị chưởng đáo hồ đình

  • Giải nghĩa từ:
    • Thức tâm: Tỉnh thức cái tâm, giác ngộ.
    • Dị chưởng: Dễ như trở bàn tay (Dị: Dễ; Chưởng: Lòng bàn tay – ý nói việc rất dễ làm).
    • Đáo: Đến.
    • Hồ đình: Cõi Tiên, nơi cung đình của các vị Thần Tiên (Chữ "Hồ" gợi nhắc tích "Hồ Thiên" – Bầu trời trong bầu rượu của Tiên gia).
  • Ý nghĩa: Nếu con người biết tỉnh ngộ, đánh thức cái Tâm chân thật của mình thì con đường tu hành để trở về cõi Tiên (đáo hồ đình) sẽ trở nên vô cùng dễ dàng, dễ như trở bàn tay vậy.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ khuyên người tu:

  1. Hãy giữ tâm đơn sơ, chân chất thì tự nhiên hợp với Đạo.
  2. Cảnh báo rằng xã hội không theo Đạo đức thì tất sẽ sụp đổ.
  3. Đừng mê mải chạy theo danh lợi ảo mộng trần gian.
  4. Chỉ cần "Thức Tâm" (giác ngộ bản tâm) thì việc thành Tiên, đắc Đạo là điều nắm chắc trong tay.

117. Hán chất vô tri thử dược cầu,
Đình tiền tu tỉnh mộng huyền cầu.
Thành tâm háo Đạo thiên tai tán,
Chánh thị kỳ khoa đắc sở cầu.

Câu 1: Hán chất vô tri thử dược cầu

  • Giải nghĩa từ:
    • Hán chất: "Hán" thường chỉ sự thô kịch, cạn khô (hãn); "Chất" là thể chất. "Hán chất" ở đây ám chỉ cái thân xác phàm tục, nặng nề, hoặc con người trần mắt thịt.
    • Vô tri: Không hiểu biết, u mê, ngu muội.
    • Thử dược cầu: Tìm cầu phương thuốc để chữa trị (Thử: thử nghiệm/tìm kiếm; Dược: thuốc).
  • Ý nghĩa: Con người mang thân xác phàm tục u mê, không biết đâu là chánh đạo, đang loay hoay tìm kiếm một phương thuốc để chữa trị căn bệnh khổ đau của kiếp nhân sinh.

Câu 2: Đình tiền tu tỉnh mộng huyền cầu

  • Giải nghĩa từ:
    • Đình tiền: Trước sân đình, trước điện thờ (nơi tôn nghiêm).
    • Tu tỉnh: Tu sửa và tỉnh ngộ (thức tỉnh).
    • Mộng huyền cầu: Giấc mộng ảo huyền, những ham muốn mơ hồ, đen tối (Huyền: sâu kín/đen; Cầu: mong cầu).
  • Ý nghĩa: Hãy đến trước đền thờ thiêng liêng (nhập môn cầu Đạo) để lo tu sửa bản thân và tỉnh ngộ, thoát khỏi những giấc mộng ảo huyền, những dục vọng đen tối của đời thường.

Câu 3: Thành tâm háo Đạo thiên tai tán

  • Giải nghĩa từ:
    • Thành tâm: Lòng thành thật.
    • Háo Đạo: Ham thích Đạo, mến mộ việc tu hành.
    • Thiên tai: Tai họa do Trời giáng xuống (hoặc nghiệp chướng, tai ách).
    • Tán: Tiêu tan, bay mất.
  • Ý nghĩa: Nếu người nào có lòng thành kính và thực sự ham thích việc tu hành, mến mộ Đạo lý thì mọi tai ương, hoạn nạn sẽ được tiêu trừ (nhờ ân điển và công đức tu hành).

Câu 4: Chánh thị kỳ khoa đắc sở cầu

  • Giải nghĩa từ:
    • Chánh thị: Chính là, đúng là.
    • Kỳ khoa: Khoa thi, kỳ thi cử (Chỉ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là một trường thi công quả để tuyển chọn người hiền).
    • Đắc: Được.
    • Sở cầu: Điều mong cầu, điều ước nguyện (sự giải thoát, an lạc).
  • Ý nghĩa: Đây chính là thời điểm, là khoa thi quan trọng nhất để con người đạt được những gì mình hằng mong ước (đắc đạo, thoát khổ). Câu này nhấn mạnh cơ hội "ngàn năm có một" của thời kỳ này.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ là lời chỉ dẫn cho "người bệnh" (những tâm hồn lạc lối):

  1. Thân xác phàm tục đang tìm thuốc chữa khổ.
  2. Thuốc đó là hãy đến trước Điện thờ mà tỉnh ngộ khỏi giấc mộng trần gian.
  3. Chỉ cần "Thành tâm" và "Mến Đạo" thì tai họa sẽ tiêu tan.
  4. Đây chính là kỳ thi, cơ hội tốt nhất để đạt được sở nguyện giải thoát.

118. Chí Đồng đắc kiến diện Thần Nông,
Bác ái tương tâm khấn bạch hồng.
Đắc dược khả đình tiền khấu phục,
Thiên trung hữu Ngã giáng tinh thông.

Câu 1: Chí Đồng đắc kiến diện Thần Nông

  • Giải nghĩa từ:
    • Chí Đồng: Có thể hiểu là "Người có chí hướng về Đại Đồng" hoặc "Người có tấm lòng trong sáng, chí thành như trẻ thơ" (Đồng tử).
    • Đắc kiến: Được nhìn thấy, được gặp.
    • Diện: Mặt.
    • Thần Nông: Vua Thần Nông, một trong Tam Hoàng, người dạy dân làm ruộng và nếm bách thảo để tìm ra thuốc chữa bệnh. Ở đây ẩn dụ cho vị Thầy thuốc vĩ đại hoặc Đấng ban sự sống, sự chữa lành.
  • Ý nghĩa: Người tu hành có chí hướng cao cả, có lòng thành thì sẽ gặp được "Thần Nông" – tức là tìm được phương thuốc thiêng liêng để chữa trị căn bệnh của kiếp người, tìm ra chân lý của sự sống.

Câu 2: Bác ái tương tâm khấn bạch hồng

  • Giải nghĩa từ:
    • Bác ái: Lòng yêu thương rộng lớn (tôn chỉ của Đạo).
    • Tương tâm: Đem cái tâm ấy, hoặc sự tương thông giữa tâm người và tâm Trời.
    • Khấn: Cầu nguyện.
    • Bạch hồng: Cầu vồng trắng. Điển tích xưa "Bạch hồng quán nhựt" (Cầu vồng trắng xuyên qua mặt trời) thường chỉ sự tinh thành, lòng trung nghĩa hay sự quyết tâm mãnh liệt thấu tận trời xanh.
  • Ý nghĩa: Hãy dùng lòng Bác ái và sự chân thành tuyệt đối để cầu nguyện. Lời cầu nguyện xuất phát từ tình thương yêu đó sẽ mạnh mẽ như "bạch hồng", thấu suốt đến tận Trời cao.

Câu 3: Đắc dược khả đình tiền khấu phục

  • Giải nghĩa từ:
    • Đắc dược: Nhận được thuốc (Chỉ sự nhận được ân điển, giải pháp, hoặc sự giác ngộ).
    • Khả: Nên.
    • Đình tiền: Trước sân đình, trước điện thờ.
    • Khấu phục: Cúi đầu bái lạy, phục xuống (tỏ lòng biết ơn và tuân phục).
  • Ý nghĩa: Khi đã cầu được thuốc, đã nhận được ơn ban của Bề trên (được giác ngộ, được giải thoát) thì phải biết đến trước Điện thờ mà cúi đầu tạ ơn và nguyện một lòng phụng sự.

Câu 4: Thiên trung hữu Ngã giáng tinh thông

  • Giải nghĩa từ:
    • Thiên trung: Ở giữa bầu trời, trên Thiên đình.
    • Hữu Ngã: Có Ta (Thượng Đế/Thầy).
    • Giáng: Giáng xuống, ban xuống.
    • Tinh thông: Sự thông tuệ, sáng suốt, tinh tường mọi lẽ (trí huệ).
  • Ý nghĩa: Khẳng định rằng trên Trời cao luôn có Ta (Thượng Đế) ngự trị. Ta sẽ giáng xuống cho các con sự sáng suốt, trí huệ tinh thông để các con thấu hiểu Đạo lý và tu hành thành công.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ dạy rằng:

  1. Người tu có chí thành sẽ tìm được thuốc Tiên (Chân lý).
  2. Phương pháp cầu nguyện hiệu nghiệm nhất là dùng lòng Bác Ái.
  3. Khi được ơn Trên (đắc dược) thì phải biết cúi đầu tạ ơn.
  4. Thượng Đế luôn ở trên cao để ban sự sáng suốt (tinh thông) cho người tu hành.

119. Huyền vi nhứt trí thức Càn khôn,
Tặng nhữ diệc tri độ thử hồn.
Nghiệt trái khuyến quân tu tuyệt tận,
Thiên đình hữu lộ dĩ khai môn.

Câu 1: Huyền vi nhứt trí thức Càn khôn

  • Giải nghĩa từ:
    • Huyền vi: Sự mầu nhiệm, sâu kín, máy tạo hóa (cơ quan vận hành vũ trụ).
    • Nhứt trí: Dốc hết tâm trí, hoặc là một trí huệ duy nhất.
    • Thức: Biết, nhận thức, thấu hiểu.
    • Càn khôn: Trời Đất (Vũ trụ).
  • Ý nghĩa: Cần phải dốc lòng, dùng trí huệ sáng suốt để tìm hiểu và nhận thức được sự vận hành huyền diệu, mầu nhiệm của bộ máy Trời Đất (Càn khôn). Hiểu được lẽ Trời là bước đầu tiên của người tu.

Câu 2: Tặng nhữ diệc tri độ thử hồn

  • Giải nghĩa từ:
    • Tặng nhữ: Tặng cho ngươi (ban cho các con).
    • Diệc tri: Cũng biết (để cho cũng biết).
    • Độ: Cứu giúp, đưa qua bến giác.
    • Thử hồn: Linh hồn này (linh hồn của chính người tu).
  • Ý nghĩa: Khi các con đã có lòng tìm hiểu Đạo (câu 1), Ta ban tặng cho các con lời dạy (hoặc bí pháp) này để các con cũng biết cách mà tự cứu độ linh hồn của chính mình.

Câu 3: Nghiệt trái khuyến quân tu tuyệt tận

  • Giải nghĩa từ:
    • Nghiệt trái: Những món nợ oan nghiệt, tội lỗi do mình gây ra trong kiếp này hoặc kiếp trước (nghiệp chướng).
    • Khuyến quân: Khuyên các ngươi (người quân tử/người tu).
    • Tu: Tu hành, sửa mình.
    • Tuyệt tận: Dứt sạch hoàn toàn, không còn dây dưa (Tuyệt: dứt; Tận: hết).
  • Ý nghĩa: Ta khuyên các con hãy gắng sức tu hành để trả cho dứt sạch, tiêu trừ hoàn toàn những món nợ oan nghiệt (nghiệp quả). Chỉ khi sạch nợ trần thì mới nhẹ nhàng siêu thoát.

Câu 4: Thiên đình hữu lộ dĩ khai môn

  • Giải nghĩa từ:
    • Thiên đình: Triều đình trên Trời, cõi thiêng liêng.
    • Hữu lộ: Có đường đi, có lối vào.
    • Dĩ: Đã.
    • Khai môn: Mở cửa.
  • Ý nghĩa: Đường về Thiên đình đã có sẵn lối, và cánh cửa Trời đã được mở rộng rồi (ám chỉ thời kỳ Đại Ân Xá của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ). Vấn đề còn lại chỉ là con người có chịu đi (tu) để bước qua cánh cửa đó hay không mà thôi.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ là lời ân cần chỉ dạy:

  1. Hãy tìm hiểu lẽ huyền vi của Trời Đất.
  2. Ta trao cho phương pháp để các con tự cứu linh hồn mình.
  3. Điều kiện quan trọng là phải tu hành để trả dứt nợ nghiệp trần gian.
  4. Hãy yên tâm tu tiến vì Cửa Trời lúc này đã mở rộng chờ đón người thành tâm.

120. Bá lạc hữu duyên hưởng Thánh tình,
Khoan hồng thức tỉnh mộng oai linh.
Thử nhân đắc vấn quân tu thuyết,
Bán thế vô công hữu đắc sinh.

Câu 1: Bá lạc hữu duyên hưởng Thánh tình

  • Giải nghĩa từ:
    • Bá lạc: Có thể hiểu là "trăm niềm vui" (Bá: trăm/nhiều; Lạc: vui), chỉ những người may mắn, an lạc. Hoặc cũng có thể ám chỉ điển tích "Bá Nhạc" (người giỏi xem tướng ngựa), ý nói người được Bề Trên chọn lựa, để mắt tới.
    • Hữu duyên: Có duyên phận (với Đạo).
    • Hưởng Thánh tình: Được hưởng tình cảm, ân huệ của bậc Thánh (Bề Trên).
  • Ý nghĩa: Những người nào may mắn, có duyên phận với Đạo pháp thì sẽ được hưởng ân huệ và tình thương yêu của các Đấng thiêng liêng.

Câu 2: Khoan hồng thức tỉnh mộng oai linh

  • Giải nghĩa từ:
    • Khoan hồng: Sự rộng lượng, tha thứ (đức tính của Thượng Đế).
    • Thức tỉnh: Làm cho tỉnh ngộ.
    • Mộng oai linh: Giấc mộng về quyền lực, uy quyền, danh vọng hão huyền của thế gian.
  • Ý nghĩa: Chính nhờ sự khoan hồng, từ bi của Ơn Trên mà con người mới được đánh thức, giật mình tỉnh ngộ khỏi những giấc mộng đam mê quyền lực, danh vọng ảo ảnh nơi trần thế.

Câu 3: Thử nhân đắc vấn quân tu thuyết

  • Giải nghĩa từ:
    • Thử nhân: Người ấy (người được nhắc ở trên, hoặc người đời).
    • Đắc vấn: Có được câu hỏi, đặt câu hỏi.
    • Quân: Ông/Anh (chỉ người môn đệ, người nghe).
    • Tu thuyết: Nên giải thích, phải nói rõ (Tu: nên/cần; Thuyết: nói).
  • Ý nghĩa: Nếu những người đó (hoặc người đời) đến hỏi các con (người tu hành), thì các con cần phải giải thích rõ ràng cho họ hiểu đạo lý này (đạo lý ở câu 4).

Câu 4: Bán thế vô công hữu đắc sinh

  • Giải nghĩa từ:
    • Bán thế: Nửa đời người (hoặc một quãng đời).
    • Vô công: Không có công đức, không làm việc thiện.
    • Hữu: Có.
    • Đắc sinh: Được sống (sự sống đời đời của linh hồn), được giải thoát/siêu sinh.
  • Ý nghĩa: (Đây là nội dung cần giải thích): Liệu sống nửa đời người mà không lập được chút công đức nào (vô công) thì có mong được siêu sinh thoát hóa (đắc sinh) hay không?
    • Hàm ý: Câu này vừa là câu hỏi tu từ, vừa là lời khẳng định ngầm: Nếu sống mà không có công đức ("vô công") thì rất khó mà đạt được sự sống vĩnh hằng ("đắc sinh"). Qua đó khuyên người đời phải mau mau lập công bồi đức.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ dạy rằng:

  1. Người có duyên mới được hưởng ơn Thánh.
  2. Ơn Thánh giúp người ta tỉnh mộng danh lợi hão huyền.
  3. Người tu hành có nhiệm vụ giải thích cho nhân sanh hiểu rõ.
  4. Chân lý quan trọng là: Nếu sống uổng phí nửa đời mà không có công đức gì ("vô công") thì chớ mong cầu sự siêu thoát ("đắc sinh"). Công đức là điều kiện bắt buộc của người tu.

121. Hy sanh hà xứ đáo Chơn thần,
Tại thế hữu nhơn tất hữu quân.
Độc chiếm nhứt quyền sanh thế giới,
Thiên căn vạn kiếp vĩnh tri thoàn.

Câu 1: Hy sanh hà xứ đáo Chơn thần

  • Giải nghĩa từ:
    • Hy sanh: Sự hy sinh, hoặc chỉ cái chết (bỏ xác phàm).
    • Hà xứ: Chốn nào, nơi nào.
    • Đáo: Đến.
    • Chơn thần: Đệ nhị xác thân (cái thân thiêng liêng bao bọc linh hồn, trung gian giữa xác phàm và linh hồn).
  • Ý nghĩa: Khi con người hy sinh thân xác (chết đi) hoặc cống hiến xả thân, thì cái Chơn thần (thân thiêng liêng) sẽ đi về đâu? Câu hỏi này đặt ra vấn đề về sự tồn tại sau cái chết và đích đến của sự tu hành.

Câu 2: Tại thế hữu nhơn tất hữu quân

  • Giải nghĩa từ:
    • Tại thế: Ở chốn nhân gian, cõi đời.
    • Hữu nhơn: Có người dân.
    • Tất: Ắt là, chắc chắn.
    • Hữu quân: Có Vua (người cai trị).
  • Ý nghĩa: Quy luật ở thế gian là hễ có người dân thì ắt phải có Vua cai trị để giữ gìn trật tự. (Câu này làm tiền đề để so sánh với cõi vô hình ở câu sau: Cõi trần có Vua thì cõi Trời cũng có Chủ tể).

Câu 3: Độc chiếm nhứt quyền sanh thế giới

  • Giải nghĩa từ:
    • Độc chiếm: Nắm giữ duy nhất, riêng biệt.
    • Nhứt quyền: Một quyền hành tối cao.
    • Sanh: Sinh ra, tạo tác.
    • Thế giới: Càn khôn vũ trụ.
  • Ý nghĩa: Cũng giống như vua cai trị dân, trong vũ trụ này chỉ có một Đấng duy nhất (Đức Chí Tôn/Ông Trời) độc quyền nắm giữ quyền năng tạo hóa, sinh ra và vận hành cả thế giới này.

Câu 4: Thiên căn vạn kiếp vĩnh tri thoàn

  • Giải nghĩa từ:
    • Thiên căn: Căn Trời, gốc rễ thiêng liêng, bổn nguyên của con người.
    • Vạn kiếp: Muôn đời, thời gian vô tận.
    • Vĩnh: Mãi mãi.
    • Tri: Biết.
    • Thoàn: Chiếc thuyền (tiếng cổ, thường chỉ Thuyền Bát Nhã – thuyền trí huệ đưa người qua bến giác).
  • Ý nghĩa: Nếu ai nhận biết được cái gốc Trời (Thiên căn) của mình, nhận biết được Đấng Chủ Tể (ở câu 3), thì dù trải qua vạn kiếp luân hồi, linh hồn ấy vẫn mãi mãi biết đường tìm đến chiếc thuyền Bát Nhã để được cứu độ trở về.

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ giải đáp về hành trình của linh hồn:

  1. Khi chết Chơn thần sẽ đi về đâu?
  2. Câu trả lời dựa trên trật tự vũ trụ: Ở đời có Vua, ở Trời có Thượng Đế.
  3. Thượng Đế là Đấng duy nhất nắm quyền tạo hóa.
  4. Người nào biết được gốc rễ thiêng liêng này thì muôn kiếp sẽ luôn tìm thấy "con thuyền" cứu rỗi để trở về với Ngài.

122. Thiên thơ dĩ định nhứt danh qui,
Tam Giáo qui nguyên chỉ thị kỳ.
Đạo thị tối cao vô thế đoán,
Hà nhơn đạm tánh đáo khinh khi.

Câu 1: Thiên thơ dĩ định nhứt danh qui

  • Giải nghĩa từ:
    • Thiên thơ: Sách Trời (Thiên thư), nơi ghi chép định mệnh của vũ trụ.
    • Dĩ định: Đã định sẵn, đã sắp đặt xong.
    • Nhứt danh: Một tên gọi duy nhất (chỉ danh hiệu Cao Đài hoặc sự thống nhất về một mối).
    • Qui: Quay về, quy tụ.
  • Ý nghĩa: Sách Trời đã định sẵn rằng đến thời kỳ này, mọi tín ngưỡng, tôn giáo sẽ được quy tụ về dưới một danh hiệu chung duy nhất (Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ/Cao Đài). Đây là Thiên ý, không thể thay đổi.

Câu 2: Tam Giáo qui nguyên chỉ thị kỳ

  • Giải nghĩa từ:
    • Tam Giáo: Ba nền tôn giáo lớn (Nho – Thích – Đạo).
    • Qui nguyên: Quay về nguồn cội ban đầu (Hiệp nhứt).
    • Chỉ: Chỉ có, chính là.
    • Thị kỳ: Cái kỳ này, thời kỳ này (Kỳ thứ 3).
  • Ý nghĩa: Việc Tam Giáo (Phật, Lão, Nho) quay về hội hiệp lại một gốc (Qui nguyên) chính là diễn ra trong đúng thời kỳ này (Tam Kỳ Phổ Độ).

Câu 3: Đạo thị tối cao vô thế đoán

  • Giải nghĩa từ:
    • Đạo thị: Đạo là (Thị: là).
    • Tối cao: Cao tột đỉnh, không gì hơn.
    • Vô: Không.
    • Thế đoán: Người đời phán đoán, đo lường được.
  • Ý nghĩa: Nền Đạo này là tối cao, thiêng liêng và mầu nhiệm vô cùng. Trí tuệ phàm tục của người đời không thể nào phán đoán, suy lường hay hiểu thấu hết được sự huyền diệu đó.

Câu 4: Hà nhơn đạm tánh đáo khinh khi

  • Giải nghĩa từ:
    • Hà nhơn: Người nào, kẻ nào (Hà: Ai/Cái gì; Nhơn: Người).
    • Đạm tánh: Tánh tình lạt lẽo, hời hợt, bạc bẽo, thiếu sâu sắc (Đạm: nhạt; Tánh: tính cách).
    • Đáo: Đến mức.
    • Khinh khi: Coi thường, xúc phạm.
  • Ý nghĩa: Cớ sao lại có những kẻ hời hợt, nông cạn đến mức dám buông lời khinh khi, coi thường nền Đại Đạo thiêng liêng này? (Đây là câu hỏi mang tính chất quở trách và cảnh tỉnh).

Tóm tắt toàn bài:
Bài thơ là lời khẳng định đanh thép:

  1. Việc khai Đạo và thống nhất về một mối là do Sách Trời đã định.
  2. Thời kỳ này chính là lúc Tam Giáo quy nguyên.
  3. Đạo pháp vô cùng cao siêu, người phàm không thể hiểu hết.
  4. Do đó, chớ nên dùng cái tâm phàm tục, nông cạn mà xúc phạm hay khinh thường Đạo.
Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa.