CHƯƠNG 1. ĐỨA BÉ VẪN SỐNG

Tác giả: J.K. Rowling
Dịch giả: Lý Lan

— CHAPTER ONE — The Boy Who LivedCHƯƠNG 1 - ĐỨA BÉ VẪN SỐNG
Mr and Mrs Dursley, of number four, Privet Drive, were proud to say that they were perfectly normal, thank you very much.Ông bà Dursley, nhà số 4 đường Privet Drive, tự hào mà nói họ hoàn toàn bình thường, cám ơn bà con quan tâm.
They were the last people you’d expect to be involved in anything strange or mysterious, because they just didn’t hold with such nonsense. Bà con đừng trông mong gì họ tin vào những chuyện kỳ lạ hay bí ẩn, đơn giản là vì họ chẳng hơi đâu bận tâm đến mấy trò vớ vẩn đó.
Mr Dursley was the director of a firm called Grunnings, which made drills.Ông Dursley là giám đốc một công ty gọi là Grunnings, chuyên sản xuất máy khoan.
He was a big, beefy man with hardly any neck, although he did have a very large moustache. Ông là một người cao lớn lực lưỡng, cổ gần như không có, nhưng lại có một bộ ria mép vĩ đại.
Mrs Dursley was thin and blonde and had nearly twice the usual amount of neck, which came in very useful as she spent so much of her time craning over garden fences, spying on the neighbours. Bà Dursley thì ốm nhom, tóc vàng, với một cái cổ dài gấp đôi bình thường, rất tiện cho bà nhóng qua hàng rào để dòm ngó nhà hàng xóm.
The Dursleys had a small son called Dudley and in their opinion there was no finer boy anywhere. Hai ông bà Dursley có một cậu quý tử tên là Dudley, mà theo ý họ thì không thể có đứa bé nào trên đời này ngoan hơn được nữa.
The Dursleys had everything they wanted, but they also had a secret, and their greatest fear was that somebody would discover it.Gia đình Dursley có mọi thứ mà họ muốn, nhưng họ cũng có một bí mật, và nỗi sợ hãi lớn nhất của họ là cái bí mật đó bị ai đó bật mí.
They didn’t think they could bear it if anyone found out about the Potters. Họ sợ mình sẽ khó mà chịu đựng nổi nếu câu chuyện về gia đình Potter bị người ta khám phá.
Mrs Potter was Mrs Dursley’s sister, but they hadn’t met for several years; in fact, Mrs Dursley pretended she didn’t have a sister, because her sister and her good-for-nothing husband were as unDursleyish as it was possible to be. Bà Potter là em gái của bà Dursley, nhưng nhiều năm rồi họ chẳng hề gặp gỡ nhau. Bà Dursley lại còn giả đò như mình không có chị em nào hết, bởi vì cô em cùng ông chồng vô-tích-sự của cô ta chẳng thể nào có được phong cách của gia đình Dursley.
The Dursleys shuddered to think what the neighbours would say if the Potters arrived in the street.Ông bà Dursley vẫn rùng mình ớn lạnh mỗi khi nghĩ đến chuyện hàng xóm sẽ nói gì nếu thấy gia đình Potter xuất hiện trước cửa nhà mình.
The Dursleys knew that the Potters had a small son, too, but they had never even seen him. Họ biết gia đình Potter có một đứa con trai nhỏ, nhưng họ cũng chưa từng nhìn thấy nó.
This boy was another good reason for keeping the Potters away; they didn’t want Dudley mixing with a child like that. Đứa bé đó cũng là một lý do khiến họ tránh xa gia đình Potter: Họ không muốn cậu quý tử Dudley chung chạ với một thằng con nít nhà Potter.
When Mr and Mrs Dursley woke up on the dull, grey Tuesday our story starts, there was nothing about the cloudy sky outside to suggest that strange and mysterious things would soon be happening all over the country.Vào một buổi sáng thứ ba xám xịt âm u, ông bà Dursley thức dậy, chẳng hề cảm thấy chút gì rằng bầu trời đầy mây kia đang báo hiệu những điều lạ lùng bí ẩn sắp xảy ra trên cả nước Anh.
Mr Dursley hummed as he picked out his most boring tie for work and Mrs Dursley gossiped away happily as she wrestled a screaming Dudley into his high chair. Ông Dursley ậm ừ khi chọn cái cà vạt chán nhất thế giới đeo vào cổ đi làm. Bà Dursley thì lách chách nói trong lúc vật lộn với cậu quý tử Dudley đang gào khóc vùng vẫy, không chịu ngồi ăn sáng tử tế.
None of them noticed a large tawny owl flutter past the window. Không một ai để ý đến một con cú to và đen thui bay xẹt qua cửa sổ.
At half past eight, Mr Dursley picked up his briefcase, pecked Mrs Dursley on the cheek and tried to kiss Dudley goodbye but missed, because Dudley was now having a tantrum and throwing his cereal at the walls.Tám giờ rưỡi, ông Dursley xách cặp, hửi cổ bà Dursley một cái và cố hôn cậu quý tử trước khi đi làm. Nhưng cậu Dudley đang chơi trò đánh trống thổi kèn, phun phèo phèo thức ăn và vung vãi mọi thứ tứ tung, kể cả cái hôn của cha nó.
‘Little tyke,’ chortled Mr Dursley as he left the house. Ông Dursley vừa cười khoái chí: “Thằng chó con”, vừa đi ra khỏi nhà.
He got into his car and backed out of number four’s drive. Ông lên xe, lái ra khỏi ngôi nhà số 4 của mình.
It was on the corner of the street that he noticed the first sign of something peculiar – a cat reading a map.Chính ở ngay góc đường, ông nhận thấy dấu hiệu đầu tiên của chuyện lạ: Một con mèo xem bản đồ.
For a second, Mr Dursley didn’t realise what he had seen – then he jerked his head around to look again. Thoạt tiên, ông Dursley không nhận ra đó là chuyện kỳ quái. Thế rồi ông giật mình quay lại nhìn lần nữa.
There was a tabby cat standing on the corner of Privet Drive, but there wasn’t a map in sight. Có một con mèo hoang đứng ở góc đường Privet Drive, nhưng bây giờ lại chẳng có tấm bản đồ nào cả!
What could he have been thinking of? It must have been a trick of the light.Chẳng lẽ chuyện đó là do ông tưởng tượng ra ư? Hay ánh sáng đã làm ông lóa mắt?
Mr Dursley blinked and stared at the cat.Ông Dursley chớp chớp mắt rồi chăm chú nhìn con mèo.
It stared back. Nó cũng nhìn lại ông.
As Mr Dursley drove around the corner and up the road, he watched the cat in his mirror.Ông lái xe vòng qua góc đường, đi tiếp, và tiếp tục nhìn con mèo qua kính chiếu hậu.
It was now reading the sign that said Privet Drive – no, looking at the sign; cats couldn’t read maps or signs. Nó lúc ấy đang đọc bảng tên đường Privet Drive - À không, ngó bảng tên đường chứ, mèo đâu có thể đọc bảng tên đường hay xem bản đồ!
Mr Dursley gave himself a little shake and put the cat out of his mind.Ông Dursley lắc lắc đầu, đuổi con mèo ra khỏi óc.
As he drove towards town he thought of nothing except a large order of drills he was hoping to get that day. Khi lái xe vào thành phố, ông không muốn nghĩ đến cái gì khác hơn là những đơn đặt hàng máy khoan mà ông mong có được nhiều thật nhiều trong ngày hôm đó.
But on the edge of town, drills were driven out of his mind by something else. As he sat in the usual morning traffic jam, he couldn’t help noticing that there seemed to be a lot of strangely dressed people about.Nhưng sắp vào tới thành phố, chợt có một việc khiến ông không còn tâm trí nghĩ đến những chiếc máy khoan nữa: lúc ngồi đợi trong xe, giữa dòng xe cộ kẹt cứng, ông không thể không nhận thấy hình như xung quanh có rất nhiều người ăn mặc lạ lùng đang lảng vảng.
People in cloaks. Tất cả bọn họ đều mặc áo trùm kín.
Mr Dursley couldn’t bear people who dressed in funny clothes – the get-ups you saw on young people! He supposed this was some stupid new fashion. Ông Dursley vốn đã không chịu nổi bọn người ăn mặc dị hợm - những thứ lôi thôi mà đám trẻ vẫn mặc! - nên ông cho là lần này chắc lại là một thời trang ngu ngốc nào đó xuất hiện.
He drummed his fingers on the steering wheel and his eyes fell on a huddle of these weirdos standing quite close by.Ông sốt ruột nhịp ngón tay trên tay lái xe hơi và ánh mắt ông đụng nhằm một cặp quái dị đang chụm đầu đứng gần đó.
They were whispering excitedly together. Họ đang thì thầm với nhau coi bộ rất kích động.
Mr Dursley was enraged to see that a couple of them weren’t young at all; why, that man had to be older than he was, and wearing an emerald-green cloak! The nerve of him! But then it struck Mr Dursley that this was probably some silly stunt – these people were obviously collecting for something … yes, that would be it. Ông Dursley giận sôi lên khi nhận thấy cặp này cũng chẳng còn trẻ gì: Coi, gã đàn ông trông còn già hơn cả ông, vậy mà lại khoác áo trùm màu xanh ngọc bích! Chẳng ra thể thống gì cả! Đầu óc gì thế chứ! Nhưng ông Dursley chợt giật mình - hình như những người này đang tụ tập vì một chuyện gì đó… Ừ, hình như vậy!…
The traffic moved on, and a few minutes later, Mr Dursley arrived in the Grunnings car park, his mind back on drills.Dòng xe cộ thông, và chỉ vài phút sau ông Dursley đã lái xe vào bãi đậu của hãng Grunnings, đầu óc ông giờ đã quay trở lại với mấy cái máy khoan.
Mr Dursley always sat with his back to the window in his office on the ninth floor.Trong văn phòng ở lầu chín, ông Dursley thường vẫn hay ngồi quay lưng lại cửa sổ.
If he hadn’t, he might have found it harder to concentrate on drills that morning. Giả sử không ngồi kiểu đó, thì rất có thể sáng hôm ấy ông sẽ khó tập trung được vô mấy cái máy khoan.
 He didn’t see the owls swooping past in broad daylight, though people down in the street did; they pointed and gazed open-mouthed as owl after owl sped overhead. Bởi ngồi như vậy, nên ông đã không thấy, bên ngoài cửa sổ, một đàn cú bay lượn xao xác giữa ban ngày. Mọi người dưới phố đều trông thấy, nhưng ông Dursley thì không. Người ta chỉ trỏ kinh ngạc, thậm chí há hốc mồm khi ngước nhìn đàn cú bay vụt qua ngay trên đầu
Most of them had never seen an owl even at night-time.Nhiều người trong số đám đông ấy thậm chí chưa từng thấy một con cú vào nửa đêm, đừng nói chi giữa ban ngày như thế này.
Mr Dursley, however, had a perfectly normal, owl-free morning.Ai cũng thấy chỉ riêng ông Dursley là không thấy. Ông đã trải qua một buổi sáng hoàn toàn bình thường, không có cú.
He yelled at five different people. Sáng đó, ông quát tháo năm người khác nhau.
He made several important telephone calls and shouted a bit more. Ông gọi nhiều cú điện thoại quan trọng và la hét thêm một hồi.
He was in a very good mood until lunch-time, when he thought he’d stretch his legs and walk across the road to buy himself a bun from the baker’s opposite. Tâm trạng ông sảng khoái cho đến bữa ăn trưa, và tự nhủ mình phải duỗi chân cẳng một chút, băng qua đường, mua cho mình một cái bánh ở tiệm bánh mì.
He’d forgotten all about the people in cloaks until he passed a group of them next to the baker’s.Ông hầu như đã quên béng những người khoác áo trùm kín cho tới khi đi ngang qua một đám người đứng gần tiệm bánh.
(Nguyên văn Tiếng Anh không có câu này) Cả bọn đều mặc áo trùm.
He eyed them angrily as he passed. Ông nhìn họ giận dữ.
He didn’t know why, but they made him uneasy. Ông không biết tại sao, nhưng họ làm ông khó chịu quá.
This lot were whispering excitedly, too, and he couldn’t see a single collecting tin. Bọn này thì thào với nhau có vẻ rất kích động, mà ông thì không nghe được tí tẹo nào.
It was on his way back past them, clutching a large doughnut in a bag, that he caught a few words of what they were saying. Chỉ đến lúc trên đường về từ tiệm bánh mì, đi ngang qua đám người khoác áo trùm, ông Dursley mới nghe lõm bõm được những gì họ nói:
‘The Potters, that’s right, that’s what I heard –’“Gia đình Potter, đúng đấy. Tôi nghe đúng như thế…”
‘– yes, their son, Harry –’“… Ừ, con trai họ, Harry…”
Mr Dursley stopped dead.Ông Dursley đứng sững lại, chết lặng.
Fear flooded him. Ông ngợp trong nỗi sợ hãi.
He looked back at the whisperers as if he wanted to say something to them, but thought better of it. Ông ngoái nhìn đám người đang thì thào như muốn nói gì với họ, nhưng rồi lại thôi.
He dashed back across the road, hurried up to his office, snapped at his secretary not to disturb him, seized his telephone and had almost finished dialling his home number when he changed his mind.Ông băng nhanh qua đường, vội vã về văn phòng, nạt viên thư ký là đừng có quấy rầy ông, rồi cầm điện thoại lên, sắp quay xong số gọi về nhà thì lại đổi ý.
He put the receiver back down and stroked his moustache, thinking … no, he was being stupid. Ông đặt ống nghe xuống, tay rứt rứt hàng ria, suy nghĩ… Không, ông hơi hồ đồ.
Potter wasn’t such an unusual name. Potter đâu phải là một cái họ hiếm hoi gì.
He was sure there were lots of people called Potter who had a son called Harry. Ông dám chắc là có hàng đống người mang họ Potter và đặt tên con mình là Harry.
Come to think of it, he wasn’t even sure his nephew was called Harry. Nghĩ đi nghĩ lại thật kỹ, ông thấy cũng không chắc thằng cháu của ông tên là Harry.
He’d never even seen the boy. Ông chưa từng gặp nó.
It might have been Harvey. Or Harold. Biết đâu nó tên là Harvey hay Harold.
There was no point in worrying Mrs Dursley, she always got so upset at any mention of her sister. Chẳng việc gì ông phải làm phiền đến bà Dursley; bả luôn luôn nổi giận và buồn bực khi nghe nhắc đến cô em gái của mình.
He didn’t blame her – if he’d had a sister like that … but all the same, those people in cloaks … Ông cũng chẳng trách bà, ông cũng sẽ thế thôi nếu ông có một cô em gái như thế… Nhưng mà em của bà hay em của ông thì đằng nào cũng vậy. Nhưng… cái bọn khoác áo trùm!…
He found it a lot harder to concentrate on drills that afternoon, and when he left the building at five o’clock, he was still so worried that he walked straight into someone just outside the door.Buổi trưa đó, ông bỗng thấy khó mà tập trung vô mấy cái máy khoan, và khi rời sở làm lúc năm giờ chiều thì ông trở nên lo âu và căng thẳng đến nỗi đâm sầm vào một người ở ngoài cửa.
‘Sorry,’ he grunted, as the tiny old man stumbled and almost fell.“Xin lỗi!”Ông càu nhàu với người đàn ông nhỏ thó bị ông đâm vào làm cho suýt ngã bổ ra sau.
It was a few seconds before Mr Dursley realised that the man was wearing a violet cloak. Nhưng chỉ vài giây sau, ông Dursley chợt nhận ra là gã đàn ông đó cũng khoác áo trùm màu tím.
He didn’t seem at all upset at being almost knocked to the ground. Gã không tỏ vẻ cáu giận về chuyện gã suýt bị lăn quay ra đất.
On the contrary, his face split into a wide smile and he said in a squeaky voice that made passers-by stare: Ngược lại, mặt gã giãn ra một nụ cười toe toét, và gã nói với một giọng mơ hồ khiến mọi người đi ngang phải ngoái nhìn.
‘Don’t be sorry, my dear sir, for nothing could upset me today! Rejoice, for You-Know-Who has gone at last!“Đừng lo, thưa ngài, hôm nay không có gì có thể làm tôi nổi cáu được đâu. Vui lên đi. Bởi vì Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy cuối cùng đã biến rồi!
Even Muggles like yourself should be celebrating, this happy, happy day!’Ngay cả dân Muggles như ngài cũng nên ăn mừng cái ngày vui vẻ, rất vui vẻ này đi.”
And the old man hugged Mr Dursley around the middle and walked off.Và gã đàn ông ôm ngang người ông Dursley một cách thân tình rồi bỏ đi.
Mr Dursley stood rooted to the spot.Ông Dursley đứng như trời trồng tại chỗ.
He had been hugged by a complete stranger. He also thought he had been called a Muggle, whatever that was. Ông bị một người hoàn toàn xa lạ ôm thân tình một cái! Ông lại bị gọi là dân Muggles, không biết là cái quỷ gì?
He was rattled.Ông ngạc nhiên quá.
He hurried to his car and set off home, hoping he was imagining things, which he had never hoped before, because he didn’t approve of imagination. Vội vã ra xe, ông lái về nhà, hy vọng là những gì xảy ra chẳng qua là do ông tưởng tượng mà thôi. Nhưng mà trước nay, có khi nào ông công nhận là có trí tưởng tượng ở trên đời đâu!
As he pulled into the driveway of number four, the first thing he saw – and it didn’t improve his mood – was the tabby cat he’d spotted that morning.Khi cho xe vào ngõ nhà số 4, cái trước tiên mà ông nhìn thấy - và cũng chẳng làm cho ông dễ thở hơn chút nào - là con mèo hoang to tướng mà ông đã thấy hồi sáng.
It was now sitting on his garden wall. Con mèo đang ngồi chong ngóc trên bờ tường khu vườn nhà ông.
He was sure it was the same one; it had the same markings around its eyes. Ông chắc là đúng con mèo hồi sáng, bởi quanh mắt nó cũng có viền hình vuông.
‘Shoo!’ said Mr Dursley loudly. Ông Dursley suỵt lớn: “Xù.”
The cat didn’t move.Con mèo chẳng thèm nhúc nhích.
It just gave him a stern look. Nó còn nhìn lại ông một cách lạnh lùng.
Was this normal cat behaviour, Mr Dursley wondered. Ông Dursley thắc mắc.
Trying to pull himself together, he let himself into the house. Không biết có phải kiểu cư xử thông thường của mèo là vậy? Cố gắng lấy lại vẻ tự chủ, ông đĩnh đạc bước vào nhà.
He was still determined not to mention anything to his wife. Ông vẫn còn quyết tâm là sẽ không nói gì với vợ về chuyện Potter.
Mrs Dursley had had a nice, normal day.Bà Dursley cũng trải qua một ngày bình thường tốt đẹp.
She told him over dinner all about Mrs Next Door’s problems with her daughter and how Dudley had learnt a new word (‘Shan’t!’). Trong bữa ăn tối, bà kể cho chồng nghe chuyện rắc rối của nhà hàng xóm và con gái của họ, cùng chuyện hôm nay Dudley học nói được thêm hai từ mới (“Hổng thèm”).
Mr Dursley tried to act normally. Ông Dursley cố gắng cư xử như bình thường.
When Dudley had been put to bed, he went into the living-room in time to catch the last report on the evening news: Khi bé Dudley được đặt lên giường ngủ thì ông vào phòng khách để xem bản tin buổi tối.
‘And finally, bird-watchers everywhere have reported that the nation’s owls have been behaving very unusually today.‘Và cuối cùng, thưa quý vị khán giả, những người quan sát cầm điểu khắp nơi báo cáo là chim cú trên cả nước đã hành động hết sức bất thường suốt ngày hôm nay.
Although owls normally hunt at night and are hardly ever seen in daylight, there have been hundreds of sightings of these birds flying in every direction since sunrise. Mặc dù cú thường đi săn vào ban đêm và ít khi xuất hiện vào ban ngày, nhưng cả ngày nay, từ sáng sớm, đã có hàng trăm con cú bay tứ tán khắp mọi hướng.
Experts are unable to explain why the owls have suddenly changed their sleeping pattern.’ Các chuyên viên không thể giải thích nổi tại sao cú lại thay đổi thói quen thức ngủ như vậy.
The news reader allowed himself a grin.Phát ngôn viên nói tới đây tự thưởng cho mình một nụ cười rồi tiếp:
‘Most mysterious.‘Cực kỳ bí hiểm.
And now, over to Jim McGuffin with the weather. Và bây giờ là phần dự báo thời tiết của Jim McGuffin.
Going to be any more showers of owls tonight, Jim?’ Liệu đêm nay còn trận mưa cú nào nữa không Jim?’
‘Well, Ted,’ said the weatherman, ‘I don’t know about that, but it’s not only the owls that have been acting oddly today.Người dự báo thời tiết đáp:‘À, tôi không rành vụ đó lắm, nhưng ngày hôm nay không chỉ có cú hành động quái chiêu, mà thời tiết cũng tỏ ra bất bình thường.
Viewers as far apart as Kent, Yorkshire and Dundee have been phoning in to tell me that instead of the rain I promised yesterday, they’ve had a downpour of shooting stars! Nhiều quan sát viên ở các vùng khác nhau đã gọi điện thoại phàn nàn với tôi là thay vì một trận mưa như tôi đã dự báo ngày hôm qua, thì họ lại nhận được một trận sao băng.
Perhaps people have been celebrating Bonfire Night early – it’s not until next week, folks! But I can promise a wet night tonight. Không chừng người ta ăn mừng lễ đốt pháo bông quá sớm, nhưng thưa bà con, tuần sau mới tới ngày đốt pháo bông mà! Dù vậy tôi xin cam đoan là thời tiết tối nay sẽ rất ẩm ướt.
Mr Dursley sat frozen in his armchair.Ông Dursley ngồi như đóng băng trên ghế bành.
Shooting stars all over Britain? Owls flying by daylight? Mysterious people in cloaks all over the place? Sao băng trên khắp bầu trời Anh-cát-lợi à? Cú bay lượn vào ban ngày ư? Những con người khoác áo trùm bí ẩn khắp nơi nữa chứ.
And a whisper, a whisper about the Potters … Và… và những câu chuyện thì thào về gia đình Potter…
Mrs Dursley came into the living-room carrying two cups of tea.Bà Dursley bưng hai tách trà vào phòng.
It was no good. Không ổn rồi.
He’d have to say something to her. Ông phải nói gì với bà thôi.
He cleared his throat nervously. Ông tằng hắng lấy giọng:
‘Er – Petunia, dear – you haven’t heard from your sister lately, have you?’“Ờ… em à… lâu nay em không nghe nói gì về em gái của em phải không?”
As he had expected, Mrs Dursley looked shocked and angry.Đúng như ông mong đợi, bà Dursley giật mình và đổ quạu.
After all, they normally pretended she didn’t have a sister. Chẳng phải là lâu nay cả hai đã ngầm coi như bà chẳng hề có chị em gì hết sao? Giọng bà sắc lẻm:
‘No,’ she said sharply. ‘Why?’“Không.” “Mà sao?”
‘Funny stuff on the news,’ Mr Dursley mumbled.Ông Dursley lầu bầu:“À, chỉ là ba mớ tin… tức cười.
‘Owls … shooting stars … and there were a lot of funny-looking people in town today …’ Nào là cú… sao băng… lại có cả đống bọn khoác áo trùm nhộn nhạo dưới phố hôm nay…”
‘So?’ snapped Mrs Dursley.“Thì sao?” Bà Dursley ngắt ngang.
‘Well, I just thought … maybe … it was something to do with … you know … her lot.’Ông Dursley vội phân bua: “Ờ… anh chỉ nghĩ… có thể… có chuyện gì đó dính dáng tới dì nó… em biết đó… dì nó…”
Mrs Dursley sipped her tea through pursed lips.Bà Dursley nhấp môi son vào tách trà.
Mr Dursley wondered whether he dared tell her he’d heard the name ‘Potter’. Ông Dursley băn khoăn không biết liệu mình có dám nói với vợ là đã nghe thiên hạ bàn tán về cái tên “Potter” không.
He decided he didn’t dare. Cuối cùng ông không dám.
Instead he said, as casually as he could, ‘Their son – he’d be about Dudley’s age now, wouldn’t he?’ Thay vào đó, ông cố làm ra vẻ hết sức bình thường: “Thằng con trai của họ… chắc là nó bằng tuổi bé Dudley nhà mình, phải không em?”
‘I suppose so,’ said Mrs Dursley stiffly.Bà Dursley nhấm nhẳn: “Có lẽ.”
‘What’s his name again? Howard, isn’t it?’“Nó tên gì? Howard phải không?”
‘Harry.“Harry.
Nasty, common name, if you ask me.’ Một cái tên tầm thường xấu xí.”
‘Oh, yes,’ said Mr Dursley, his heart sinking horribly.“Ờ, xấu thật.
‘Yes, I quite agree.’ Anh hoàn toàn đồng ý với em.”
He didn’t say another word on the subject as they went upstairs to bed.Ông không nói thêm lời nào nữa về đề tài này khi cả hai lên lầu vào phòng ngủ.
While Mrs Dursley was in the bathroom, Mr Dursley crept to the bedroom window and peered down into the front garden. Trong khi bà Dursley vào buồng tắm, ông Dursley đứng bên cửa sổ nhìn ra vườn.
The cat was still there. Con mèo vẫn còn đó.
It was staring down Privet Drive as though it was waiting for something. Nó đang chăm chú ngóng ra đường Privet Drive như thể đang chờ đợi cái gì vậy.
Was he imagining things? Could all this have anything to do with the Potters? If it did … if it got out that they were related to a pair of – well, he didn’t think he could bear it.Hay là ông chỉ tưởng tượng ra mọi thứ? Tất cả những chuyện vớ vẩn này thì có liên quan gì tới gia đình Potter nào? Nếu có… nếu mà có dính dáng với cặp phù… Ôi, nghĩ tới đó ông đã cảm thấy không chịu nổi.
The Dursleys got into bed.Ông bà Dursley lên giường ngủ.
Mrs Dursley fell asleep quickly but Mr Dursley lay awake, turning it all over in his mind. Bà Dursley ngủ ngay tức thì, còn ông Dursley thì cứ nằm trăn trở mãi.
His last, comforting thought before he fell asleep was that even if the Potters were involved, there was no reason for them to come near him and Mrs Dursley. Cuối cùng một ý nghĩ dễ chịu đã giúp ông ngủ thiếp đi, ấy là nếu mà gia đình Potter có dính dáng đến tất cả những chuyện nhảm nhí ấy thì họ cũng không có lý do gì để dây dưa đến gia đình ông.
The Potters knew very well what he and Petunia thought about them and their kind … He couldn’t see how he and Petunia could get mixed up in anything that might be going on. Gia đình Potter biết rất rõ bà Dursley nghĩ như thế nào về họ và bọn người như họ. Ông Dursley thấy không có lý do gì để mình và vợ mình có thể bị khổ sở về những gì đang diễn ra.
He yawned and turned over.Ông ngáp và trở mình
It couldn’t affect them …Chuyện đó không thể nào ảnh hưởng đến họ.
How very wrong he was.Nhưng ông đã lầm.
Mr Dursley might have been drifting into an uneasy sleep, but the cat on the wall outside was showing no sign of sleepiness.Ông Dursley cuối cùng cũng có thể tóm được giấc ngủ, dù một cách khó khăn. Nhưng con mèo ngồi trên bờ tường ngoài thì không tỏ vẻ gì buồn ngủ cả.
It was sitting as still as a statue, its eyes fixed unblinkingly on the far corner of Privet Drive. Nó cứ ngồi bất động, mắt nhìn đăm đăm không chớp về góc đường Privet Drive.
It didn’t so much as quiver when a car door slammed in the next street, nor when two owls swooped overhead. Nó không động đậy ngay cả khi có tiếng cửa xe đóng sầm bên kia đường. Không nhúc nhích ngay cả khi có hai con cú vụt qua phía trên đầu.
In fact, it was nearly midnight before the cat moved at all. Và chính xác là đến gần nửa đêm con mèo ấy mới nhúc nhích.
A man appeared on the corner the cat had been watching, appeared so suddenly and silently you’d have thought he’d just popped out of the ground.Ấy là lúc một ông già xuất hiện ở góc đường mà con mèo đang ngóng về. Cụ xuất hiện thình lình và lặng lẽ như thể từ mặt đất chui lên.
The cat’s tail twitched and its eyes narrowed. Đuôi con mèo nhẹ ve vẩy và mắt nó nhíu lại.
Nothing like this man had ever been seen in Privet Drive.Xưa nay trên đường Privet Drive chưa từng có một người nào trông kỳ quái như cụ già ấy lại qua.
He was tall, thin and very old, judging by the silver of his hair and beard, which were both long enough to tuck into his belt. Cụ ốm, cao, rất già, căn cứ vào mái tóc và chòm râu bạc phơ dài đến nỗi cụ phải giắt chúng vô thắt lưng.
He was wearing long robes, a purple cloak which swept the ground and high-heeled, buckled boots. Cụ mặc áo thụng dài, khoác áo trùm màu tím cũng dài quét đất, mặc dù cụ đã mang đôi giày bốt cao gót lêu nghêu.
His blue eyes were light, bright and sparkling behind half-moon spectacles and his nose was very long and crooked, as though it had been broken at least twice. Đôi mắt xanh lơ của cụ sáng rỡ và lấp lánh phía sau cặp kính có hình dạng nửa vành trăng. Mũi cụ thì vừa dài vừa khoằm như thể cụ đã từng bị gãy mũi ít nhất hai lần.
This man’s name was Albus Dumbledore. Tên của cụ là Albus Dumbledore.
Albus Dumbledore didn’t seem to realise that he had just arrived in a street where everything from his name to his boots was unwelcome.Albus Dumbledore dường như không nhận thấy là mình đã đến con đường mà từ tên họ cho đến đôi bốt của cụ không hề được hoan nghênh chào đón.
He was busy rummaging in his cloak, looking for something. Cụ đang bận lục lọi trong chiếc áo trùm của cụ, tìm kiếm cái gì đó.
But he did seem to realise he was being watched, because he looked up suddenly at the cat, which was still staring at him from the other end of the street. Rồi đột nhiên, có vẻ như cụ nhận ra là mình đang bị quan sát, bởi vì cụ thình lình ngước nhìn lên con mèo vẫn đang ngó cụ từ bờ tường nhà Dursley.
For some reason, the sight of the cat seemed to amuse him. Ánh mắt của con mèo có vẻ làm cụ thích thú.
He chuckled and muttered, ‘I should have known.’ Cụ chắt lưỡi lẩm bẩm:“Lẽ ra mình phải biết rồi chứ!”
He had found what he was looking for in his inside pocket.Cụ đã tìm được cái mà cụ lục lọi nãy giờ trong chiếc áo trùm.
It seemed to be a silver cigarette lighter. Nó giống như cái bật lửa bằng bạc.
He flicked it open, held it up in the air and clicked it. Cụ giơ nó lên cao và bấm.
The nearest street lamp went out with a little pop. Ngọn đèn đường gần nhất tắt phụt.
He clicked it again – the next lamp flickered into darkness. Cụ bấm lần nữa, ngọn đèn đường kế tiếp tắt ngấm.
Twelve times he clicked the Put-Outer, until the only lights left in the whole street were two tiny pinpricks in the distance, which were the eyes of the cat watching him. Cụ bấm mười hai lần như thế, cho đến khi ánh sáng còn lại trên cả con đường chỉ còn là hai đốm sáng long lanh ở phía xa - đó là hai con mắt mèo đang nhìn cụ.
If anyone looked out of their window now, even beady-eyed Mrs Dursley, they wouldn’t be able to see anything that was happening down on the pavement. Nếu bây giờ mà có ai nhìn qua cửa sổ ra đường, thì dù có con mắt tọc mạch như bà Dursley cũng chịu, không thể thấy được cái gì đang xảy ra.
Dumbledore slipped the Put-Outer back inside his cloak and set off down the street towards number four, where he sat down on the wall next to the cat. Cụ Albus Dumbledore cất cái Tắt-Sáng vào áo trùm và đi về phía ngôi nhà số 4 đường Privet Drive. Cụ ngồi xuống trên bờ tường, cạnh con mèo.
He didn’t look at it, but after a moment he spoke to it.‘Fancy seeing you here, Professor McGonagall. Cụ không nhìn nó, nhưng được một lúc, cụ nói: “Thật là hay khi gặp bà ở đây đấy, giáo sư McGonagall!”
He turned to smile at the tabby, but it had gone.Cụ quay sang để mỉm cười với con mèo, nhưng chẳng còn mèo nào cả.
Instead he was smiling at a rather severe-looking woman who was wearing square glasses exactly the shape of the markings the cat had had around its eyes. Thay vì vậy cụ đang mỉm cười với một bà lão trông đứng đắn, đeo kính gọng vuông y như cái dấu vuông quanh mắt con mèo.
She, too, was wearing a cloak, an emerald one. Bà cũng khoác áo trùm, màu ngọc bích.
Her black hair was drawn into a tight bun. Tóc bà bới thành một búi chặt.
She looked distinctly ruffled. Bà có vẻ phật ý rõ rệt:
‘How did you know it was me?’ she asked.“Làm sao ông biết con mèo đấy là tôi?”
‘My dear Professor, I’ve never seen a cat sit so stiffly.’“Thưa bà giáo sư yêu quý của tôi, hồi nào tới giờ tôi chưa từng thấy một con mèo nào ngồi cứng đờ như thế.”
‘You’d be stiff if you’d been sitting on a brick wall all day,’ said Professor McGonagall.Giáo sư McGonagall nói:“Ông mà ngồi cả ngày trên bờ tường thì ông cũng cứng đờ thế thôi.”
‘All day? When you could have been celebrating? I must have passed a dozen feasts and parties on my way here.’“Cả ngày? Trong khi lẽ ra bà đang phải mở tiệc ăn mừng chứ? Trên đường đến đây, tôi đã gặp ít nhất cả chục đám tiệc tùng linh đình rồi.”
Professor McGonagall sniffed angrily.Giáo sư McGonagall hít hơi một cách giận giữ và nói một cách không kiên nhẫn:
‘Oh yes, everyone’s celebrating, all right,’ she said impatiently.“Vâng, mọi người ăn mừng, được thôi.
‘You’d think they’d be a bit more careful, but no – even the Muggles have noticed something’s going on. Đáng lẽ ông phải thấy là họ nên cẩn thận một chút chứ - ngay cả dân Muggles cũng nhận thấy có chuyện gì đó đang xảy ra.
It was on their news.’ Họ thông báo trong chương trình thời sự đấy.”
She jerked her head back at the Dursleys’ dark living-room window.Bà hất đầu về phía cửa sổ phòng khách tối om của gia đình Dursley.
‘I heard it.“Tôi nghe hết.
Flocks of owls … shooting stars … Well, they’re not completely stupid. Những đàn cú… sao băng… Chà, họ không hoàn toàn ngu ngốc cả đâu.
They were bound to notice something. Họ đã nhận ra có điều gì đó.
Shooting stars down in Kent – I’ll bet that was Dedalus Diggle. Sao băng… Tôi cá đó là trò của Diggle, hắn thật chẳng có đầu óc gì cả.”
He never had much sense.’Albus Dumbledore nhẹ nhàng bảo:
‘You can’t blame them,’ said Dumbledore gently.“Bà không thể trách như vậy được.
‘We’ve had precious little to celebrate for eleven years.’ Đã mười một năm nay chúng ta chẳng có dịp nào để vui mừng mà!”
‘I know that,’ said Professor McGonagall irritably.Giáo sư McGonagall vẫn cáu kỉnh: “Tôi biết.
‘But that’s no reason to lose our heads. Nhưng đó không phải là lý do để phát điên lên.
People are being downright careless, out on the streets in broad daylight, not even dressed in Muggle clothes, swapping rumours.’ Đám đông cứ nhởn nhơ tụ tập bừa bãi trên đường phố giữa ban ngày, thậm chí không thèm mặc quần áo của dân Muggles để ngụy trang, lại còn bàn tán ầm ĩ.”
She threw a sharp, sideways glance at Dumbledore here, as though hoping he was going to tell her something, but he didn’t, so she went on:Bà liếc sang cụ Albus Dumbledore ngồi bên, như thể hy vọng cụ sẽ nói với bà điều gì, nhưng cụ không nói gì cả, nên bà nói tiếp:
‘A fine thing it would be if, on the very day You-Know-Who seems to have disappeared at last, the Muggles found out about us all.“Giá mà khi Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy biến đi hẳn, người Muggles mới phát hiện ra chúng ta thì hay biết mấy.
I suppose he really has gone, Dumbledore?’ Nhưng tôi không chắc là hắn đã chết thật chưa hả ông Dumbledore?”
‘It certainly seems so,’ said Dumbledore.“Chắc chắn như vậy rồi.
‘We have much to be thankful for. Would you care for a sherbet lemon?’ Thật là phước đức cho chúng ta! Bà có dùng giọt chanh không?”
‘A what?’“Giọt gì?”
‘A sherbet lemon.“Giọt chanh.
They’re a kind of Muggle sweet I’m rather fond of.’ Đó là một loại kẹo của dân Muggles mà tôi rất khoái.”
‘No, thank you,’ said Professor McGonagall coldly, as though she didn’t think this was the moment for sherbet lemons.“Không, cám ơn.” Giáo sư McGonagall lạnh lùng từ chối, bà không nghĩ là nhấm nháp kẹo lúc này lại thích hợp.
‘As I say, even if You-Know-Who has gone –’“Như tôi nói đấy, ngay cả nếu như Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy đã biến…”
‘My dear Professor, surely a sensible person like yourself can call him by his name? All this “You-Know-Who” nonsense – for eleven years I have been trying to persuade people to call him by his proper name:Voldemort.’“Ôi, giáo sư yêu quý của tôi, một người có đầu óc như bà có thể gọi hắn bằng tên cúng cơm chứ? Mớ bá láp Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy thiệt là nhảm nhí. Mười một năm nay tôi đã chẳng bảo mọi người cứ gọi hắn đúng theo tên của hắn: Voldemort sao?”
Professor McGonagall flinched, but Dumbledore, who was unsticking two sherbet lemons, seemed not to notice.Giáo sư McGonagall e dè nhìn quanh. Nhưng cụ Dumbledore có vẻ như chẳng để ý gì, cụ đang chăm chú gỡ hai viên kẹo dính nhau và cụ nói tiếp:
‘It all gets so confusing if we keep saying “You-Know-Who”.’“Nếu mà chúng ta cứ gọi bằng: Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là-ai-đấy thì mọi sự cứ rối beng lên.
I have never seen any reason to be frightened of saying Voldemort’s name.’ Tôi thấy chẳng có gì để sợ khi gọi bằng tên cúng cơm của Voldemort.”
‘I know you haven’t,’ said Professor McGonagall, sounding half-exasperated, half-admiring.Giáo sư McGonagall nói, giọng nửa lo lắng nửa ngưỡng mộ: “Tôi biết ông không sợ.
‘But you’re different. Nhưng ông thì khác.
Everyone knows you’re the only one You-Know – oh, all right, Voldemort – was frightened of.’ Mọi người đều biết Kẻ-mà-ai-cũng-biết-là… thôi được, gọi là Voldemort đi, hắn chỉ sợ có mỗi mình ông mà thôi.”
‘You flatter me,’ said Dumbledore calmly.Cụ Albus Dumbledore bình thản nói: “Bà tâng bốc tôi quá.
‘Voldemort had powers I will never have.’ Voldemort có những quyền lực tôi không bao giờ có.”
‘Only because you’re too – well – noble to use them.’“Ấy là chỉ bởi vì ông… Ừ, ông quá cao thượng nên không xài tới những quyền lực đó.”
‘It’s lucky it’s dark.“Cũng may là trời tối nhé.
I haven’t blushed so much since Madam Pomfrey told me she liked my new earmuffs.’ Kể cũng lâu rồi tôi chưa đỏ mặt, từ cái lần bà Pomfrey nói bả khoái cái mũ trùm tai của tôi.”
Professor McGonagall shot a sharp look at Dumbledore and said, ‘The owls are nothing to the rumours that are flying around.Giáo sư McGonagall liếc cụ Dumbledore một cái sắc lẻm.“Mấy con cú lượn vòng vòng chỉ chờ tung tin vịt đấy.
You know what everyone’s saying? About why he’s disappeared? About what finally stopped him?’ Ông biết mọi người đang nói gì không? Về vì sao hắn phải biến đi ấy? Về cái điều đã chặn đứng được hắn ấy?”
It seemed that Professor McGonagall had reached the point she was most anxious to discuss, the real reason she had been waiting on a cold hard wall all day, for neither as a cat nor as a woman had she fixed Dumbledore with such a piercing stare as she did now.Có vẻ như giáo sư McGonagall đã đạt tới điểm then chốt mà bà muốn tranh luận. Đó là lý do khiến bà đã phải ngồi chờ suốt cả ngày trên bờ tường cứng và lạnh lẽo này.
It was plain that whatever ‘everyone’ was saying, she was not going to believe it until Dumbledore told her it was true. Rõ ràng là chuyện mà mọi người đang bàn tán, cho dù là chuyện gì đi nữa, bà cũng không vội tin cho đến khi Dumbledore nói với bà là chuyện đó có thật.
Dumbledore, however, was choosing another sherbet lemon and did not answer. Tuy nhiên cụ Dumbledore vẫn đang bận lựa một viên kẹo khác chứ không trả lời.
‘What they’re saying,’ she pressed on, ‘is that last night Voldemort turned up in Godric’s Hollow.“Chuyện mà họ đang bàn tán ấy,” bà McGonagall nhấn mạnh, “là tối hôm qua Voldemort đã đến Hố Thần.
He went to find the Potters. Hắn đi tìm gia đình Potter.
The rumour is that Lily and James Potter are – are – that they’re – dead.’ Nghe đồn rằng vợ chồng Potter đã… đã…, họ đồn thôi, đã… chết rồi!”
Dumbledore bowed his head.Cụ Dumbledore cúi đầu.
Professor McGonagall gasped. Giáo sư McGonagall há hốc miệng, nghẹn ngào:
‘Lily and James … I can’t believe it … I didn’t want to believe it … Oh, Albus …’“Vợ chồng Potter… Tôi không thể tin được… Tôi không muốn tin… Ôi, ông Dumbledore…”
Dumbledore reached out and patted her on the shoulder.Cụ Dumbledore duỗi tay vỗ nhẹ lên vai bà giáo sư, cụ chậm rãi nói:
‘I know … I know …’ he said heavily.“Tôi biết… Tôi biết…”
Professor McGonagall’s voice trembled as she went on.Giọng giáo sư McGonagall run run tiếp tục:
‘That’s not all.“Mà chuyện chưa hết.
They’re saying he tried to kill the Potters’ son, Harry. Họ còn nói hắn tìm cách giết cả đứa con trai của Potter, bé Harry ấy.
But – he couldn’t. Nhưng… hắn không giết được.
He couldn’t kill that little boy. Hắn không thể giết nổi đứa bé.
No one knows why, or how, but they’re saying that when he couldn’t kill Harry Potter, Voldemort’s power somehow broke – and that’s why he’s gone.’ Không ai biết tại sao, thế nào…, nhưng họ nói… khi không thể giết được Harry Potter, quyền lực của Voldemort bị tiêu tan. Chính vì vậy mà hắn cũng phải biến đi.”
Dumbledore nodded glumly.Cụ Dumbledore buồn bã gật đầu.
‘It’s – it’s true?’ faltered Professor McGonagall. Giáo sư McGonagall ấp úng: “Chuyện đó… đó… là… là… thật sao?
‘After all he’s done … all the people he’s killed … he couldn’t kill a little boy? It’s just astounding … of all the things to stop him … but how in the name of heaven did Harry survive?’Hắn đã làm bao nhiêu chuyện tai quái, giết chết bao nhiêu người... mà…, mà rốt cuộc hắn không thể giết nỗi một thằng bé? Thật là không tin được… cái gì đã chặn nổi bàn tay hắn như vậy… Nhưng bằng cách nào mà Harry Potter sống sót?”
‘We can only guess,’ said Dumbledore.Cụ Dumbledore nói: “Chúng ta chỉ có thể đoán mò mà thôi.
‘We may never know.’ Chuyện ấy chẳng bao giờ biết được chính xác.”
Professor McGonagall pulled out a lace handkerchief and dabbed at her eyes beneath her spectacles.Giáo sư McGonagall rút ra một cái khăn tay chùi nước mắt dưới cặp mắt kính.
Dumbledore gave a great sniff as he took a golden watch from his pocket and examined it. Cụ Dumbledore thở dài một tiếng rõ to khi rút chiếc đồng hồ vàng trong túi ra xem xét.
It was a very odd watch. Cái đồng hồ ấy cũ lắm.
It had twelve hands but no numbers; instead, little planets were moving around the edge. Nó có mười hai kim nhưng không có số. Thay vào những con số là các hành tinh nho nhỏ di chuyển quanh mép đồng hồ.
It must have made sense to Dumbledore, though, because he put it back in his pocket and said, ‘Hagrid’s late. Nhưng chắc là cụ Dumbledore coi giờ được bằng cái đồng hồ đó, nên khi nhét nó lại vào trong túi, cụ nói: “Hagrid đến trễ.
I suppose it was he who told you I’d be here, by the way?’ Chắc chính lão nói cho bà biết là tôi đến đây, đúng không?”
‘Yes,’ said Professor McGonagall.“Đúng.” Giáo sư McGonagall xác nhận và nói tiếp:
‘And I don’t suppose you’re going to tell me why you’re here, of all places?’“Chắc ông cũng không thèm nói cho tôi biết tại sao ông đến đây chứ?”
‘I’ve come to bring Harry to his aunt and uncle.“Tôi đến đây để giao Harry Potter cho dì dượng nó.
They’re the only family he has left now.’ Bây giờ nó chỉ còn có họ là bà con.”
‘You don’t mean – you can’t mean the people who live here?’ cried Professor McGonagall, jumping to her feet and pointing at number four.Giáo sư McGonagall nhảy dựng lên, chỉ tay vào ngôi nhà số 4: “Ông nói gì? Chắc là ông không có ý nói đến mấy người sống trong đó chứ?
‘Dumbledore – you can’t. Dumbledore, ông không thể làm vậy.
I’ve been watching them all day. Tôi đã quan sát họ suốt cả ngày.
You couldn’t find two people who are less like us. Ông không thể tìm ra được người nào khá hơn họ hay sao? Mà họ cũng đã có một đứa con trai.
And they’ve got this son – I saw him kicking his mother all the way up the street, screaming for sweets. Tôi đã nhìn thấy thằng nhóc ấy, nó đá má nó suốt quãng đường đến tiệm bánh kẹo, khóc la vòi vĩnh cho được mấy viên kẹo.
Harry Potter come and live here!’ Harry Potter mà phải đến sống ở đây sao?”
‘It’s the best place for him,’ said Dumbledore firmly.Cụ Dumbledore khẳng định: “Đây là nơi tốt nhất cho đứa bé.
‘His aunt and uncle will be able to explain everything to him when he’s older. Khi nó lớn lên dì dượng của nó có thể giải thích cho nó hiểu.
I’ve written them a letter.’ Tôi đã viết cho họ một lá thư.”
‘A letter?’ repeated Professor McGonagall faintly, sitting back down on the wall.“Một lá thư?” Giáo sư McGonagall lặp lại yếu ớt, thả người ngồi xuống bờ tường, băn khoăn nói tiếp:
‘Really, Dumbledore, you think you can explain all this in a letter? These people will never understand him! He’ll be famous – a legend –“Ông Dumbledore, ông thật sự tin là ông có thể giải thích mọi chuyện trong một lá thư à? Mấy người đó sẽ không bao giờ hiểu đứa bé! Nó sẽ nổi tiếng - như một huyền thoại.
I wouldn’t be surprised if today was known as Harry Potter Day in future – there will be books written about Harry – every child in our world will know his name!’ Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu sau này người ta gọi ngày hôm nay là ngày Harry Potter: sẽ có sách viết về Harry. Mọi đứa trẻ trong thế giới chúng ta rồi sẽ biết đến tên nó!”
‘Exactly,’ said Dumbledore, looking very seriously over the top of his half-moon glasses.“Đúng vậy.” Cụ Dumbledore nhướn mắt dòm qua đôi kính nửa vành trăng của cụ một cách nghiêm túc nói rằng:
‘It would be enough to turn any boy’s head.“Nhiêu đó cũng đủ hại đầu óc bất cứ đứa trẻ nào.
Famous before he can walk and talk! Famous for something he won’t even remember! Can’t you see how much better off he’ll be, growing up away from all that until he’s ready to take it?’ Nổi tiếng trước cả khi biết đi biết nói! Nổi tiếng về những điều mà nó cũng không thể nhớ được! Bà không thấy là tốt cho nó hơn biết bao nếu nó lớn lên ngoài vòng bao phủ của tiếng tăm, lớn lên một cách bình thường cho đến khi nó đủ lớn để làm chủ được điều đó sao?”
Professor McGonagall opened her mouth, changed her mind, swallowed and then said, ‘Yes – yes, you’re right, of course.Giáo sư McGonagall lại há hốc miệng thay đổi ý kiến, nuốt vô, ngậm miệng lại rồi nói: “Vâng, vâng, dĩ nhiên là ông nói đúng.
But how is the boy getting here, Dumbledore?’ Nhưng mà ông Dumbledore ơi, làm sao đứa bé đến đây được?”
She eyed his cloak suddenly as though she thought he might be hiding Harry underneath it.Bà giáo sư nhìn chòng chọc vào tấm áo trùm của cụ Dumbledore như thể là bà nghĩ cụ đang giấu đứa bé trong đó.
‘Hagrid’s bringing him.’ Cụ Dumbledore nói: “Hagrid đang mang nó đến.”
‘You think it – wise – to trust Hagrid with something as important as this?’“Ông cho là giao lão Hagrid một việc quan trọng như thế này là khôn ngoan sao?”
‘I would trust Hagrid with my life,’ said Dumbledore.“Tôi có thể giao cả đời tôi cho Hagrid.”
‘I’m not saying his heart isn’t in the right place,’ said Professor McGonagall grudgingly, ‘but you can’t pretend he’s not careless.Bà McGonagall vẫn không bằng lòng: “Tôi không nói là lão Hagrid không biết phải quấy, nhưng mà ông cũng biết đấy, lão là chúa ẩu… Ủa? Cái gì vậy?”
A low rumbling sound had broken the silence around them.Một tiếng động trầm trầm nổi lên quanh họ, nghe rầm rầm, càng lúc càng lớn.
It grew steadily louder as they looked up and down the street for some sign of a headlight; it swelled to a roar as they both looked up at the sky – and a huge motorbike fell out of the air and landed on the road in front of them. Cả hai nhìn ra đường xem có ánh đèn xe không, thế rồi những tiếng động nghe như sấm dội khiến cả hai người ngước nhìn lên trời: một chiếc xe gắn máy khổng lồ chạy trên không trung rồi hạ xuống, lăn bánh trên mặt đường nhựa trước mặt họ.
If the motorbike was huge, it was nothing to the man sitting astride it.Nếu cái xe gắn máy bự quá khổ, thì cũng không thấm gì so với người ngồi trên xe.
He was almost twice as tall as a normal man and at least five times as wide. Lão hầu như cao gấp đôi người bình thường và bự có đến gấp năm, nếu tính chiều ngang.
He looked simply too big to be allowed, and so wild – long tangles of bushy black hair and beard hid most of his face, he had hands the size of dustbin lids and his feet in their leather boots were like baby dolphins. Trông lão ta to lớn đến nỗi khó tin, và lại hoang dã. Những nùi tóc râu đen thui hầu như che kín gương mặt lão, tay lão trông như cần cẩu, còn chân thì ú na ú núc như mình con cá heo con.
In his vast, muscular arms he was holding a bundle of blankets. Trên đôi tay vạm vỡ ấy là một nùi chăn tã.
‘Hagrid,’ said Dumbledore, sounding relieved. ‘At last. Cụ Dumbledore tỏ ra yên tâm, bảo: “Hagrid, cuối cùng anh đã đến.
And where did you get that motorbike?’ Anh kiếm đâu ra cái xe đó?”
‘Borrowed it, Professor Dumbledore, sir,’ said the giant, climbing carefully off the motorbike as he spoke. ‘Young Sirius Black lent it me.Lão khổng lồ cẩn thận trèo xuống xe đáp: “Kính thưa ngài giáo sư Dumbledore, tôi mượn của Sirius Black.
I’ve got him, sir.’Thưa ngài, tôi đã mang được cậu bé đến đây.”
‘No problems, were there?’“Có lôi thôi rắc rối gì không?”
‘No, sir – house was almost destroyed but I got him out all right before the Muggles started swarmin’ around.“Thưa ngài không ạ. Ngôi nhà hầu như tan hoang, nhưng tôi đã kịp đem nó ra trước khi dân Muggles bắt đầu lăng xăng chung quanh.
He fell asleep as we was flyin’ over Bristol.’ Đang bay tới đây thì nó lăn ra ngủ.”
Dumbledore and Professor McGonagall bent forward over the bundle of blankets.Cụ Dumbledore và giáo sư McGonagall cúi xuống đống chăn tã.
Inside, just visible, was a baby boy, fast asleep. Bên trong mớ chăn ấy là đứa bé đang ngủ say.
Under a tuft of jet-black hair over his forehead they could see a curiously shaped cut, like a bolt of lightning. Trên vầng trán đứa bé có một vết thương nhỏ hình tia chớp.
‘Is that where –?’ whispered Professor McGonagall. Giáo sư McGonagall thì thầm: “Có phải đó là…”
‘Yes,’ said Dumbledore. ‘He’ll have that scar for ever.’“Phải, nó sẽ mang vết thẹo đó suốt đời.”
‘Couldn’t you do something about it, Dumbledore?’“Ông không thể xóa nó đi sao ông Dumbledore?”
‘Even if I could, I wouldn’t.“Nếu mà tôi làm được thì tôi cũng chẳng đời nào làm.
Scars can come in useful. Thẹo cũng có lúc xài đến.
I have one myself above my left knee which is a perfect map of the London Underground. Tôi đây cũng có một cái thẹo ở trên đầu gối, nó có giá trị như cái bản đồ đường xe điện ngầm ở Luân Đôn ấy.
Well – give him here, Hagrid – we’d better get this over with.’ Thôi, Hagrid, đặt nó ở đây, chúng ta nên làm xong chuyện này cho rồi.”
Dumbledore took Harry in his arms and turned towards the Dursleys’ house.Cụ Dumbledore bồng Harry đi về phía nhà Dursley.
‘Could I – could I say goodbye to him, sir?’ asked Hagrid. Lão Hagrid ấp úng: “Tôi… tôi có thể hôn tạm biệt đứa bé được không ạ?”
He bent his great, shaggy head over Harry and gave him what must have been a very scratchy, whiskery kiss.Lão cúi cái đầu lông lá bờm xờm xuống mặt đứa bé và dụi mớ râu ria lởm chởm của lão lên làn da non của đứa bé.
Then, suddenly, Hagrid let out a howl like a wounded dog. Rồi thình lình lão Hagrid thốt lên một tiếng như tiếng chó bị thương.
‘Shhh!’ hissed Professor McGonagall. Giáo sư McGonagall vội nhắc nhở:
‘You’ll wake the Muggles!’“Suỵt! Lão đánh thức đám Muggles bây giờ.”
‘S-s-sorry,’ sobbed Hagrid, taking out a large spotted handkerchief and burying his face in it.Lão Hagrid thổn thức: “Xin lỗi, hic hic.
‘But I c-c-can’t stand it – Lily an’ James dead – an’ poor little Harry off ter live with Muggles –’ Nhưng tôi không thể… Hic hic. Vợ chồng Potter chết rồi, và Harry bé bỏng phải đi ở nhờ dân Muggles. Hic hic.”
‘Yes, yes, it’s all very sad, but get a grip on yourself, Hagrid, or we’ll be found,’ Professor McGonagall whispered, patting Hagrid gingerly on the arm as Dumbledore stepped over the low garden wall and walked to the front door.Giáo sư McGonagall vỗ về: “Vâng, vâng, buồn lắm, nhưng mà ráng nín khóc đi, Hagrid, không thôi bọn mình bị lộ đấy.” Lão Hagrid cố dằn cảm xúc, đứng bên giáo sư McGonagall, nhìn theo cụ Dumbledore bồng Harry Potter đi qua sân vườn đến cửa trước nhà Dursley.
He laid Harry gently on the doorstep, took a letter out of his cloak, tucked it inside Harry’s blankets and then came back to the other two.Nhẹ nhàng đặt đứa bé xuống bậc cửa, lấy trong áo trùm ra một lá thư, nhét lá thư dưới lớp chăn quấn quanh đứa bé, rồi trở lại với hai người kia.
For a full minute the three of them stood and looked at the little bundle; Hagrid’s shoulders shook, Professor McGonagall blinked furiously and the twinkling light that usually shone from Dumbledore’s eyes seemed to have gone out. Cả ba đứng lặng cả phút nhìn cái bọc chăn tã đang ấp ủ đứa bé. Vai của Hagrid run lên từng chập, mắt của giáo sư McGonagall chớp chớp liên tục, và cái tia sáng lấp lánh thường lóe lên từ đôi mắt của cụ Dumbledore cũng dường như tắt ngóm.
‘Well,’ said Dumbledore finally, ‘that’s that. Cuối cùng cụ Dumbledore nói: “Thôi, đành thế.
We’ve no business staying here. Chúng ta chẳng còn việc gì ở đây nữa.
We may as well go and join the celebrations.’ Có lẽ chúng ta đi nhập tiệc với những người khác thôi.”
‘Yeah,’ said Hagrid in a very muffled voice.“Dạ.” Tiếng lão Hagrid đáp rõ to.
‘I’d best get this bike away. “Tôi sẽ đem trả lại Sirius cái xe này.
G’night, Professor McGonagall – Professor Dumbledore, sir.’ Chào giáo sư McGonagall, và xin chào ngài, giáo sư Dumbledore.”
Wiping his streaming eyes on his jacket sleeve, Hagrid swung himself on to the motorbike and kicked the engine into life; with a roar it rose into the air and off into the night.Chùi nước mắt còn đang chảy ròng ròng trên mặt, lão Hagrid nhảy lên xe và đạp một cái cật lực cho máy nổ, rồi lão rú ga phóng vào không trung đen như hũ nút.
‘I shall see you soon, I expect, Professor McGonagall,’ said Dumbledore, nodding to her.Cụ Dumbledore cúi đầu chào bà McGonagall: “Tôi mong sớm gặp lại bà, giáo sư McGonagall.”
Professor McGonagall blew her nose in reply.Giáo sư McGonagall hỉ mũi một cái để đáp lễ.
Dumbledore turned and walked back down the street. Cụ Dumbledore xoay người bước xuống đường.
On the corner he stopped and took out the silver Put-Outer. Tới góc đường, cụ dừng bước, lấy trong áo trùm ra cái Tắt-Sáng bằng bạc.
He clicked it once and twelve balls of light sped back to their street lamps so that Privet Drive glowed suddenly orange and he could make out a tabby cat slinking around the corner at the other end of the street. Cụ giơ lên bấm nó một cái, rồi mười hai cái, lập tức mười hai cái bóng đèn trên đường Privet Drive bật sáng, nhưng cũng không kịp soi bóng một con mèo hoang to tướng chuồn lẹ đằng sau khúc quanh ở phía đầu kia con đường.
He could just see the bundle of blankets on the step of number four.Còn lại một mình, cụ Dumbledore nhìn lần cuối cái bọc chăn tã trên bậc cửa ngôi nhà số 4.
‘Good luck, Harry,’ he murmured. Cụ ngậm ngùi nói: “Chúc cháu may mắn, Harry.”
He turned on his heel and with a swish of his cloak he was gone.Rồi phất tấm áo trùm một cái cụ biến mất.
A breeze ruffled the neat hedges of Privet Drive, which lay silent and tidy under the inky sky, the very last place you would expect astonishing things to happen.Một luồng gió thoảng qua những hàng rào cây xanh của ngôi nhà trên đường Privet Drive. Ngôi nhà ngăn nắp và những hàng rào cắt xén ngay ngắn ấy là nơi cuối cùng mà người ta có thể mong đợi một chuyện kỳ lạ xảy ra.
Harry Potter rolled over inside his blankets without waking up. Harry Potter trở mình trong cuộn chăn mà không thức giấc.
One small hand closed on the letter beside him and he slept on, not knowing he was special, not knowing he was famous, not knowing he would be woken in a few hours’ time by Mrs Dursley’s scream as she opened the front door to put out the milk bottles, nor that he would spend the next few weeks being prodded and pinched by his cousin Dudley … Một nắm tay nhỏ xíu của bé đặt trên lá thư sát bên mình, và bé ngủ tiếp, không hề biết là vài tiếng đồng hồ nữa bà Dursley sẽ đánh thức bé dậy bằng một tiếng hét thảng thốt khi bà mở cửa để bỏ những vỏ chai sữa rỗng. Đứa bé cũng không biết là mình sẽ trở thành món đồ chơi của thằng anh họ Dudley, bị nó tha hồ ngắt véo trong vài tuần lễ sau đó.
He couldn’t know that at this very moment, people meeting in secret all over the country were holding up their glasses and saying in hushed voices: ‘To Harry Potter – the boy who lived!’ Đứa bé không hề biết gì về những điều đó trong lúc này, cái lúc này mà khắp nơi trên cả nước, tiệc tùng linh đình đang diễn ra, người người đều nâng ly chúc tụng: “Uống mừng Harry Potter! Đứa bé vẫn sống!”
  • 5
    Shares