Chương 4. Martha

Xin mời mọi người tham gia khảo sát sử dụng tính năng VIP, chỉ trả lời 1 câu hỏi nhận giảm giá 50% khi đăng ký VIP. Nhấn vào đây để tham gia khảo sát.
Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa và không có quảng cáo.
4. MarthaChương 4. Martha
When she opened her eyes in the morning it was because \/ a young housemaid had come into her room to light the fire and was kneeling on the hearth-rug raking out the cinders noisily.Sáng hôm ấy, người hầu gái trẻ vào phòng Mary cời thêm lửa trong lò sưởi và khiến nó thức giấc. Chị ta quỳ trên tấm thảm trước lò sưởi để cào than cháy dở nên gây ra tiếng động.
Mary lay and watched her for a few moments and then began to look about the room. Mary vẫn nằm, ngắm chị ta một lúc rồi đưa mắt khắp phòng.
She had never seen a room at all like it and thought it curious and gloomy. Nó chưa bao giờ thấy một căn phòng nào như thế, và nghĩ rằng căn phòng này thật lạ lùng, ảm đạm.
The walls were covered with tapestry with a forest scene embroidered on it. Các bức tường đều được phủ kín bằng những tấm thảm có thêu cảnh rừng cây.
There were fantastically dressed people under the trees and in the distance there was a glimpse of the turrets of a castle. Kia là những người ăn mặc phóng túng đứng dưới gốc cây, và xa hơn nữa là bóng dáng mấy tháp canh của một toà lâu đài.
There were hunters and horses and dogs and ladies. Rồi thì cảnh người đi săn, ngựa nghẽo, bầy chó săn và cả mấy phu nhân nữa.
Mary felt as if she were in the forest with them. Mary có cảm tưởng như nó đang sống trong khu rừng ấy với họ.
Out of a deep window she could see a great climbing stretch of land which seemed to have no trees on it, and to look rather like an endless, dull, purplish sea. Phóng tầm mắt qua cửa sổ, nó nhận ra cả một vùng đất đai trải rộng mênh mông dường như không một bóng cây, nom tựa một đại dương vô tận, màu hung đỏ và chán ngắt.
“What is that?” she said, pointing out of the window.- Gì thế kia? – Nó hỏi, chỉ tay ra ngoài cửa sổ.
Martha, the young housemaid, who had just risen to her feet, looked and pointed also.Martha, người hầu gái trẻ nhỏm người lên nhìn, tay cũng chỉ theo.
“That there?” she said.- Ngoài kia ấy ạ? – Chị hỏi.
“Yes.”- Phải.
“That’s th’ moor,” with a good-natured grin.- Đấy là cánh đồng hoang, - chị đáp với nụ cười hiền hậu.
“Does tha’ like it?” – Cô có thích không?
“No,” answered Mary.- Không, - Mary đáp.
“I hate it.” – Tôi ghét nó.
“That’s because tha’rt not used to it,” Martha said, going back to her hearth.Chẳng qua là vì cô chưa quen ở đây đấy thôi. – Martha vừa nói, vừa quay trở lại trước lò sưởi.
“Tha’ thinks it’s too big an’ bare now. Chắc cô cho rằng nó quá rộng và trống trải.
But tha’ will like it.” Nhưng rồi cô sẽ thấy thích nó cho mà xem.
“Do you?” inquired Mary.- Thế còn chị? – Mary dò hỏi.
“Aye, that I do,” answered Martha, cheerfully polishing away at the grate.- Ầy, tôi thích chứ! – Martha vui vẻ đáp, tay vẫn lau chiếc ghi lò.
“I just love it. – Tôi yêu nó lắm.
It’s none bare. Nó chẳng trống trải tẹo nào.
It’s covered wi’ growin’ things as smells sweet. Khắp vùng này phủ đầy những cây cỏ mang hương vị ngọt ngào.
It’s fair lovely in spring an’ summer when th’ gorse an’ broom an’ heather’s in flower. Vào mùa xuân hay mùa hè thì lại càng đáng yêu hơn khi thạch thảo, kim tước và đậu chổi trổ toàn hoa là hoa.
It smells o’ honey an’ there’s such a lot o’ fresh air—an’ th’ sky looks so high an’ th’ bees an’ skylarks makes such a nice noise hummin’ an’ singin’. Thơm tựa mật ong. Không gian tràn ngập không khí trong lành – bầu trời cao vời vợi, từng bầy ong vo vo và chim chiền chiện thì cất tiếng hót lảnh lót mới dễ thương làm sao.
Eh! I wouldn’t live away from th’ moor for anythin’.” Chà! Tôi sẽ chẳng bao giờ sống xa cánh đồng hoang dù có cho gì đi nữa.
Mary listened to her with a grave, puzzled expression.Mary lắng nghe chị ta với vẻ mặt bối rối, nghiêm trang.
The native servants she had been used to in India were not in the least like this. Đám gia nhân người địa phương mà nó đã quen ở Ấn Độ hoàn toàn không giống thế này.
They were obsequiousi and servile and did not presume to talk to their masters as if they were their equals. Họ đều có vẻ khúm núm và quỵ luỵ chứ không dám chuyện trò bình đẳng với chủ như thế.
They made salaamsj and called them “protector of the poor” and names of that sort. Họ thường chào kiểu salam, và gọi chủ mình là “người bảo hộ cho kẻ nghèo” cùng nhiều cái tên tương tự.
Indian servants were commanded to do things, not asked. Các gia nhân người Ấn được yêu cầu chỉ biết làm chứ không được thắc mắc.
It was not the custom to say “please” and “thank you” and Mary had always slapped her Ayah in the face when she was angry. Chẳng lấy đâu ra thói quen nói “làm ơn” hoặc “cảm ơn” và Mary vẫn thường lăng mạ Ayah của nó mỗi khi nó tức giận.
She wondered a little what this girl would do if one slapped her in the face. Nó hơi ngỡ ngàng tự hỏi không biết cô gái này sẽ làm gì nếu có kẻ dám lăng mạ cô.
She was a round, rosy, good-natured-looking creature, but she had a sturdy way which made Mistress Mary wonder if she might not even slap back—if the person who slapped her was only a little girl. Cô ta mộc mạc ưa nhìn, hồng hào và tròn lẳn, nhưng ở chị ta có một vẻ vững chãi khiến cô chủ Mary thầm nghĩ không biết chị ta có phản ứng lại nếu người sỉ nhục mình chỉ là một đứa bé gái.
“You are a strange servant,” she said from her pillows, rather haughtily.- Chị là một người ở kỳ lạ, - Mary vẫn vùi mặt trong mấy chiếc gối nói với vẻ khá cao ngạo.
Martha sat up on her heels, with her blackingbrush in her hand, and laughed, without seeming the least out of temper.Martha ngồi xổm, tay cầm chiếc bàn chải màu đen, chị bật cười không một chút bực tức.
“Eh! I know that,” she said.- Vâng, tôi cũng biết thế, - chị đáp.
“If there was a grand Missus at Misselthwaite I should never have been even one of th’ under housemaids. – Nếu như có một bà lớn ở Misselthwaite thì tôi thậm chí cũng không bao giờ được làm phụ hầu gái nữa kia.
I might have been let to be scullery-maid but I’d never have been let upstairs. Có lẽ tôi chỉ được một chân ở phòng rửa bát là cùng, mà tôi cũng chẳng khi nào được phép lên gác.
I’m too common an’ I talk too much Yorkshire. Tôi quá tầm thường, thêm cái giọng Yorkshire quá nặng.
But this is a funny house for all it’s so grand. Nhưng đây là ngôi nhà lạ lùng, mặc dù nó thật tuyệt vời.
Seems like there’s neither Master nor Mistress except Mr. Pitcher an’ Mrs. Medlock. Có vẻ như ông Pitcher và bà Medlock là Ông chủ và Bà chủ duy nhất ở đây.
Mr. Craven, he won’t be troubled about anythin’ when he’s here, an’ he’s nearly always away. Ông Craven ư, ông ấy chẳng bao giờ bận tâm về điều gì khi sống ở đây, mà ông ấy thì thường xuyên xa nhà.
Mrs. Medlock gave me th’ place out o’ kindness. Bà Medlock vì lòng tốt đã cho tôi một chỗ ở.
She told me she could never have done it if Misselthwaite had been like other big houses.” Bà ấy bảo tôi rằng bà ấy sẽ không khi nào cư xử như vậy nếu như Misselthwaite cũng giống các dinh thự khác.
“Are you going to be my servant?” Mary asked, still in her imperious little Indian way.- Chị sắp thành người hầu của tôi phải không? – Mary hỏi, nó vẫn giữ cái cung cách ngạo mạn từ hồi nhỏ khi còn ở Ấn Độ.
Martha began to rub her grate again.Martha bắt đầu chùi cái ghi lò lần nữa.
“I’m Mrs. Medlock’s servant,” she said stoutly. “An’ she’s Mr. Craven’s—but I’m to do the housemaid’s work up here an’ wait on you a bit.Tôi là người hầu của bà Medlock, - chị nói với vẻ cả quyết, còn bà ấy là người hầu của ông Craven. Tôi phải làm phận sự của người hầu gái ở đây và đang đợi cô sai bảo.
But you won’t need much waitin’ on.” Nhưng cô cũng chẳng cần gì lắm thì phải.
“Who is going to dress me?” demanded Mary.- Ai sẽ mặc quần áo cho tôi? – Mary đòi hỏi.
Martha sat up on her heels again and stared. Martha nhỏm dậy lần nữa và nhìn chòng chọc.
She spoke in broad Yorkshire in her amazement. Chị vẫn nói bằng giọng Yorkshire nằng nặng, vẻ kinh ngạc.
“Canna’ tha’ dress thysen!” she said.- Chẳng nhẽ cô không tự mặc quần áo được hay sao!
“What do you mean? I don’t understand your language,” said Mary.- Ý chị là gì? Tôi không hiểu ngôn ngữ của chị.
“Eh! I forgot,” Martha said.Ồ, tôi quên khuấy đi mất. – Martha bảo.
“Mrs. Medlock told me I’d have to be careful or you wouldn’t know what I was sayin’. – Bà Medlock có dặn tôi phải nói năng cẩn thận kẻo cô không hiểu những điều tôi nói.
I mean can’t you put on your own clothes?” Ý tôi là chẳng nhẽ cô không tự mặc quần áo được sao?
“No,” answered Mary, quite indignantly.Không. – Mary đáp một cách tức giận.
“I never did in my life. –Từ bé tới giờ tôi chưa bao giờ làm việc đó.
My Ayah dressed me, of course.” Người hầu của tôi phải mặc quần áo cho tôi, đó là việc đương nhiên.
“Well,” said Martha, evidently not in the least aware that she was impudent, “it’s time tha’ should learn.- Chà, - Martha thốt lên, rõ ràng không chút ý thức rằng mình đang hỗn láo, - thế thì đến lúc cô phải học rồi đấy.
Tha’ cannot begin younger. It’ll do thee good to wait on thysen a bit. Cô không thể cứ trẻ con mãi như thế được, vậy thì cứ đợi chút cũng tốt thôi.
My mother always said she couldn’t see why grand people’s children didn’t turn out fair fools—what with nurses an bein’ washed an’ dressed an’ took out to walk as if they was puppies!” Mẹ tôi luôn bảo bà không tài nào hiểu nổi tại sao các trẻ con các nhà quyền quý lại không biết bẻ chiếc bánh put-đinh cho đúng cách, cái gì cũng phải bảo mẫu, nào giặt giũ, nào mặc quần áo, nào đưa đi dạo, như thể đó là những chú chó con vậy!
“It is different in India,” said Mistress Mary disdainfully.- Thật khác hẳn ở Ấn Độ, - Cô chủ Mary nói vẻ khinh khỉnh.
She could scarcely stand this. – Khác hẳn đấy! – Nó thấy khó mà có thể chịu đựng điều này.
But Martha was not at all crushed.Martha cũng chẳng vừa.
“Eh! I can see it’s different,” she answered almost sympathetically.- Ờ, tôi cũng thấy khác hẳn, - chị trả lời với vẻ thông cảm.
“I dare say it’s because there’s such a lot o’ blacks there instead o’ respectable white people. – Tôi dám nói rằng chẳng qua ở đó có quá nhiều người da đen, lại có ít người da trắng đáng kính.
When I heard you was comin’ from India I thought you was a black too.” Lúc nghe nói cô sắp từ Ấn Độ trở về, tôi cứ ngỡ cô là người da đen cơ đấy.
Mary sat up in bed furious.Từ trên giờng, Mary ngồi bật dậy, cáu tiết.
“What!” she said. “What! You thought I was a native.- Cái gì! Cái gì! Chị nghĩ tôi là người bản xứ chắc.
You—you daughter of a pig!” Chị… chị là đồ con lợn!
Martha stared and looked hot.Martha nhìn nó chòng chọc, trông vẻ mặt chị thật giận dữ.
“Who are you callin’ names?” she said. “You needn’t be so vexed.- Cô vừa nhắc tới ai đấy? Cô không cần phải bực bội đến thế.
That’s not th’ way for a young lady to talk. Đó không phải là cách nói năng của một tiểu thư.
I’ve nothin’ against th’ blacks. Tôi chẳng có vấn đề gì với đám da đen ấy.
When you read about ’em in tracts they’re always very religious. Khi đọc về họ trong sách cổ ta chỉ nhận thấy họ là những người vô cùng mộ đạo.
You always read as a black’s a man an’ a brother. Ta luôn đọc thấy lời dạy rằng người da đen cũng là con người và là anh em với ta.
I’ve never seen a black an’ I was fair pleased to think I was goin’ to see one close. Tôi chưa bao giờ gặp một người da đen, và tôi rất sung sướng khi nghĩ rằng tôi sắp được gặp họ trong một ngày gần đây.
When I come in to light your fire this mornin’ I crep’ up to your bed an’ pulled th’ cover back careful to look at you. Lúc tôi vào nhóm lửa phòng cô sáng nay, tôi đã rón rén tới bên giường cô và nhẹ nhàng kéo tấm chăn để ngắm cô.
An’ there you was,” disappointedly, “no more black than me—for all you’re so yeller.” Thì ra cô là… tôi thất vọng quá, cũng chẳng đen hơn tôi là mấy. Có thế mà cô cũng hét lên.
Mary did not even try to control her rage and humiliation.Mary không thèm kiềm chế cơn thịnh nộ và nỗi bẽ bàng của nó.
“You thought I was a native! You dared! Chị nghĩ tôi là bọn dân bản xứ à! Chị dám thế à!
You don’t know anything about natives! They are not people—they’re servants who must salaam to you.Chị không hiểu chút nào về dân bản xứ hết! Chúng không phải là người. Chúng chỉ là bọn tôi tớ, lúc nào cũng cúi đầu chào lạy người ta.
You know nothing about India. Chị không hiểu gì về xứ Ấn Độ hết.
You know nothing about anything!” Chị chẳng biết cái quái gì cả!
She was in such a rage and felt so helpless before the girl’s simple stare, and somehow she suddenly felt so horribly lonely and far away from everything she understood and which understood her, that she threw herself face downward on the pillows and burst into passionate sobbing.Con bé đang bị một cơn giận cuốn đi và giờ nó thấy tuyệt vọng trước cái nhìn chằm chằm bình thản của cô gái, rồi không rõ tại sao nó bỗng cảm thấy cô đơn kinh khủng, thấy mọi thứ đều xa lạ với nó, nó gieo mình xuống, vùi mặt vào mấy chiếc gối rồi bật khóc nức nở.
She sobbed so unrestrainedly that good-natured Yorkshire Martha was a little frightened and quite sorry for her. Nó thổn thức không sao nén lại được đến nỗi chị Martha người Yorkshire với bản tính tốt bụng cũng thấy mủi lòng xót thương.
She went to the bed and bent over her. Chị tiến đến bên giường, cúi xuống con bé.
“Eh! you mustn’t cry like that there!” she begged.- Ôi, cô không được khóc như thế đâu! – Chị khẩn khoản van xin.
“You mustn’t for sure. – Cô phải thề là không khóc nữa.
I didn’t know you’d be vexed. Tôi quả không nghĩ cô lại phật lòng.
I don’t know anythin’ about any thin‘—just like you said. Tôi thật chẳng biết gì sất, đúng như cô nói.
I beg your pardon, Miss. Tôi xin cô tha thứ, thưa cô.
Do stop cryin’.” Đừng khóc nữa.
There was something comforting and really friendly in her queer Yorkshire speech and sturdy way which had a good effect on Mary.Một cái gì đó thật thân thiết và dễ chịu trong lối nói Yorkshire kỳ quặc của chị, cả cái vẻ vững vàng, cứng cỏi của chị nữa cũng tác động tới Mary.
She gradually ceased crying and became quiet. Con bé dần dà nín khóc và im hẳn.
Martha looked relieved. Nom Martha cũng đã bớt căng thẳng.
“It’s time for thee to get up now” she said.- Đến lúc cô phải dậy rồi, - chị nói.
“Mrs. Medlock said I was to carry tha’ breakfast an’ tea an’ dinner into th’ room next to this. – Bà Medlock bảo tôi phải dọn cho cô bữa sáng với trà, và bữa tối ở phòng bên cạnh.
It’s been made into a nursery for thee. Nơi này đã được sửa lại thành phòng trẻ cho cô.
I’ll help thee on with thy clothes if tha’ll get out o’ bed. If th’ buttons are at th’ back tha’ cannot button them up tha’self.” Khi cô ra khỏi giường, tôi sẽ giúp cô mặc áo nếu cô không thể cài các khuy sau lưng được.
When Mary at last decided to get up, the clothes Martha took from the wardrobe were not the ones she had worn when she arrived the night before with Mrs. Medlock.Cuối cùng, Mary quyết định ngồi dậy. Bộ đồ mà Martha lấy từ tủ quần áo không phải bộ mà nó đã mặc khi đến đây vào đêm hôm trước cùng bà Medlock.
“Those are not mine,” she said.- Bộ này không phải của tôi.
“Mine are black.” Bộ của tôi màu đen cơ.
She looked the thick white wool coat and dress over, and added with cool approval:Nó ngắm nghía chiếc áo khoác ngoài bằng len trắng dày dặn rồi mặc vào. Nó chấp thuận với vẻ lạnh lùng.
“Those are nicer than mine.”- Bộ này đẹp hơn bộ của tôi.
“These are th’ ones tha’ must put on,” Martha answered.- Đây chính là bộ mà cô phải mặc, - Martha đáp.
“Mr. Craven ordered Mrs. Medlock to get ‘em in London. - Ông Craven đã lệnh cho bà Medlock tìm mua chúng ở tận Luân Đôn kia đấy.
He said ‘I won’t have a child dressed in black wanderin’ about like a lost soul,’ he said. Ông ấy bảo: “tôi không muốn thấy một đứa trẻ mặc đồ đen đi đi lại lại như một hồn ma”.
‘It’d make the place sadder than it is. Ông ấy còn nói: “Điều đó khiến nơi này càng trở nên buồn bã.
Put color on her.’ Hãy phủ màu sắc rực rỡ lên người con bé.”
Mother she said she knew what he meant.Mẹ tôi bảo bà hiểu ý ông ấy muốn nói gì.
Mother always knows what a body means. Bà luôn hiểu suy nghĩ của người khác.
She doesn’t hold with black hersel’.” Bà không bao giờ giữ màu đen bên mình.
“I hate black things,” said Mary.- Tôi căm ghét những thứ màu đen, - Mary bảo.
The dressing process was one which taught them both something.Việc mặc quần áo cũng giúp cả hai hiểu ra một điều gì đó.
Martha had “buttoned up” her little sisters and brothers but she had never seen a child who stood still and waited for another person to do things for her as if she had neither hands nor feet of her own. Martha đã từng “cài khuy” cho các em gái bé bỏng của chị, và cả mấy đứa em trai nữa, nhưng quả thật chị chưa bao giờ thấy một đứa trẻ nào cứ đứng ngây ra chờ người khác làm mọi việc cho nó như thể nó chẳng có tay chân vậy.
“Why doesn’t tha’ put on tha’ own shoes?” ’ she said when Mary quietly held out her foot.- Tại sao cô không tự đi giày vào? – cô bảo nó vì thấy Mary vẫn không hề nhúc nhích hai chân.
“My Ayah did it,” answered Mary, staring.- Ayah của tôi phải làm việc ấy, - Mary trả lời, vẫn nhìn chằm chằm.
“It was the custom.” – Đó là tục lệ.
She said that very often—“It was the custom.” The native servants were always saying it.Nó rất hay nói thế - “Đó là tục lệ”. Ngay cả đám gia nhân bản xứ cũng thường nói thế.
If one told them to do a thing their ancestors had not done for a thousand years they gazed at one mildly and said, “It is not the custom” and one knew that was the end of the matter. Giá có ai bảo họ làm một việc gì mà ông bà tổ tiên họ đã không làm từ hàng nghìn năm qua thì hẳn họ sẽ trừng mắt giận dữ với người đó và bảo: “Đấy không phải là tục lệ”, và người đó hiểu ngay rằng nên kết thúc chủ đề đó cho xong đi.
It had not been the custom that Mistress Mary should do anything but stand and allow herself to be dressed like a doll, but before she was ready for breakfast she began to suspect that her life at Misselthwaite Manor would end by teaching her a number of things quite new to her—things such as putting on her own shoes and stockings, and picking up things she let fall.Làm gì có cái lệ là Cô chủ Mary phải tự làm mọi thứ, ngoài việc đứng để người ta mặc quần áo cho mình như một con búp bê. Nhưng trước khi vào bữa sáng, nó đâm ra hồ nghi không rõ cuộc đời ở Trang viên Misselthwaite này liệu rồi có dạy cho nó vô vàn những điều hoàn toàn mới mẻ - như đi giày, đi tất, rồi nhặt những vật đánh rơi.
If Martha had been a well-trained fine young lady’s maid she would have been more subservient and respectful and would have known that it was her business to brush hair, and button boots, and pick things up and lay them away. Nếu Martha được dạy dỗ đúng đắn để làm hầu gái cho một tiểu thư trẻ thì chị ta cần khúm núm và kính cẩn hơn mới phải, chị ta cũng nên hiểu bổn phận của mình là chải tóc, đi giày, nhặt đồ vật và để gọn chúng lại.
She was, however, only an untrained Yorkshire rustic who had been brought up in a moorland cottage with a swarm of little brothers and sisters who had never dreamed of doing anything but waiting on themselves and on the younger ones who were either babies in arms or just learning to totter about and tumble over things. Nhưng dẫu sao thì, chị ta cũng là một con người mộc mạc chất phác vùng Yorkshire, sinh ra trong một túp lều gianh nơi vùng đất hoang vu với một bầy lít nhít em trai em gái, chẳng dám mơ đến gì khác ngoài việc hầu hạ phục dịch hoặc trông nom đám em vẫn đang chập chững đi và ngã nhào.
If Mary Lennox had been a child who was ready to be amused she would perhaps have laughed at Martha’s readiness to talk, but Mary only listened to her coldly and wondered at her freedom of manner.Nếu Mary Lennox là một đứa trẻ biết đùa thì hẳn nó sẽ bật cười trước sự mau mồm mau miệng của Martha, nhưng Mary chỉ nghe chị với vẻ lạnh lùng, và ngạc nhiên trước cử chỉ thoải mái của chị.
At first she was not at all interested, but gradually, as the girl rattled on in her good-tempered, homely way, Mary began to notice what she was saying. Thoạt đầu nó chẳng mấy quan tâm, nhưng dần dà, khi chị cứ huyên thuyên trò chuyện với vẻ hồn nhiên thân mật, thì Mary bắt đầu chú ý tới những điều chị nói.
“Eh! you should see ‘em all,”she said.- Ôi, cô nên gặp tất cả bọn tôi.
“There’s twelve of us an’ my father only gets sixteen shilling a week. 12 người chúng tôi. Cha tôi chỉ kiếm được 16 si-ling mỗi tuần.
I can tell you my mother’s put to it to get porridge for ’em all. Tôi có thể nói với cô rằng với số tiền đó mẹ tôi chỉ đủ lo cháo đặc cho cả nhà.
They tumble about on th’ moor an’ play there all day an’ mother says th’ air of th’ moor fattens ’em. Bọn trẻ cứ chạy đùa trên cánh đồng hoang vu đó cả ngày, mẹ tôi bảo chính không khí của đồng hoang đã vỗ béo chúng.
She says she believes they eat th’ grass same as th’ wild ponies do. Bà còn bảo bà tin rằng chúng ăn cỏ như loài ngựa hoang vậy.
Our Dickon, he’s twelve years old and he’s got a young pony he calls his own.” Thằng Dickon nhà chúng tôi năm nay đã mười hai tuổi, nó cũng có một con ngựa non mà nó luôn bảo là của riêng nó.
“Where did he get it?” asked Mary.- Cậu ta kiếm được con ngựa đó ở đâu? – Mary hỏi.
“He found it on th’ moor with its mother when it was a little one an’ he began to make friends with it an’ give it bits o’ bread an’ pluck young grass for it.- Thằng Dickon tìm thấy con ngựa từ lúc nó còn bé tẹo trên cánh đồng hoang cùng với mẹ của nó, và từ đó Dickon làm bạn với nó, cho nó ăn vụn bánh, lại tìm cỏ tươi cho nó.
And it got to like him so it follows him about an’ it lets him get on its back. Con vật tỏ ra mến thằng bé, lẽo đẽo theo Dickon suốt ngày rồi cho nó ngồi trên lưng.
Dickon’s a kind lad an’ animals likes him.” Dickon là một đứa tốt bụng nên súc vật đều yêu mến nó.
Mary had never possessed an animal pet of her own and had always thought she should like one.Mary chưa bao giờ có được một con vật cưng của riêng mình, và đã luôn nghĩ rằng nó nên có một con.
So she began to feel a slight interest in Dickon, and as she had never before been interested in any one but herself, it was the dawning of a healthy sentiment. Bởi vậy, nó bắt đầu cảm thấy hơi thinh thích thằng Dickon. Nếu như trước đây nó chẳng thèm quan tâm đến ai khác ngoài bản thân, thì lúc này trong nó bắt đầu nhen lên một thứ tình cảm lành mạnh tự nhiên.
When she went into the room which had been made into a nursery for her, she found that it was rather like the one she had slept in.Khi vừa bước chân vào căn phòng đã được sửa lại thành phòng trẻ cho nó, con bé nhận thấy nơi này khá giống với căn phòng nó đã từng ngủ.
It was not a child’s room, but a grown-up person’s room, with gloomy old pictures on the walls and heavy old oak chairs. Đây không phải căn phòng dành cho trẻ con mà cho một người trưởng thành, với dăm ba bức tranh cổ u ám trên tường và đây đó vài chiếc ghế cổ bằng gỗ sồi nặng trịch.
A table in the center was set with a good substantial breakfast. Trên cái bàn kê giữa phòng đã thấy dọn sẵn bữa điểm tâm thịnh soạn.
But she had always had a very small appetite, and she looked with something more than indifference at the first plate Martha set before her. Con bé vốn chẳng mấy khi ăn uống ngon miệng nên chỉ thờ ơ liếc qua chiếc đĩa mạ bạc đầu tiên Martha đặt trước mặt nó.
“I don’t want it,” she said.- Tôi không thích món này, - nó bảo.
“Tha’ doesn’t want thy porridge!” Martha exclaimed incredulously.- Cô không thích món cháo này ư! – Martha thốt lên vẻ ngờ vực.
“No.”- Không.
“Tha’ doesn’t know how good it is.cô Không biết Nó ngon lành như thế nào đâu?
Put a bit o’ treaclek on it or a bit o’ sugar.”Cho một chút mật hoặc đường vào thì tuyệt.
“I don’t want it,” repeated Mary.- Tôi không thích món này, - Mary nhắc lại.
“Eh!” said Martha.- Chao ôi! – Martha kêu lên.
“I can’t abide to see good victuals go to waste. – Tôi không sao chịu nổi khi nhìn thấy thức ăn đồ uống ngon lành bị bỏ phí.
If our children was at this table they’d clean it bare in five minutes.” Giá bọn trẻ nhà chúng tôi được ngồi vào bàn này thì chúng sẽ chén sạch chỗ ấy trong vòng năm phút.
“Why?” said Mary coldly.- Tại sao? – Mary hỏi vẻ lạnh lùng.
“Why!” echoed Martha.- Tại sao à! – Martha đay lại.
“Because they scarce ever had their stomachs full in their lives. – Bởi vì hiếm khi chúng được no bụng trong đời.
They’re as hungry as young hawks an’ foxes.” Chúng luôn đói khát như bầy diều bầy cáo vậy.
“I don’t know what it is to be hungry,” said Mary, with the indifference of ignorance.- Tôi quả không hiểu bị đói là gì, - Mary nói với vẻ hững hờ của kẻ không biết tới cái cảm giác này.
Martha looked indignant.Martha trông có vẻ phẫn nộ.
“Well, it would do thee good to try it. I can see that plain enough,” she said outspokenly.Hừ, cứ thử xem, chắc là tốt cho cô đấy, tôi thì thấy quá rõ, - chị nói toạc ra –
“I’ve no patience with folk as sits an’ just stares at good bread an’ meat.tôi không đủ kiên nhẫn với những người chỉ ngồi giương mắt nhìn bánh mì với thịt ngon lành.
My word! don’t I wish Dickon and Phil an’ Jane an’ th’ rest of ’em had what’s here under their pinafores.” Trời ơi! Tôi chỉ ao ước Dickon, Phil và Jane và những đứa còn lại có được những gì tại đây.
“Why don’t you take it to them?” suggested Mary.- Sao chị không mang về cho họ, - Mary gợi ý.
“It’s not mine,” answered Martha stoutly.- Những thứ này không phải của tôi, - Martha trả lời thẳng thắn.
“An’ this isn’t my day out. – Vả lại, hôm nay cũng không phải ngày về nhà của tôi.
I get my day out once a month same as th’ rest. Tôi được phép về mỗi tháng một lần, coi như ngày nghỉ.
Then I go home an’ clean up for mother an’ give her a day’s rest.” Lúc ấy, tôi về ngay nhà và lại dọn nhà giúp mẹ, để bà có được một ngày nghỉ ngơi.
Mary drank some tea and ate a little toast and some marmalade.Mary nhấp ngụm trà, ăn chút bánh mì nướng và mứt cam.
“You wrap up warm an’ run out an’ play you,” said Martha.- Cô mặc cho ấm vào, rồi ra ngoài mà chơi.
“It’ll do you good and give you some stomach for your meat.” Như thế cô sẽ thấy sảng khoái, có đói bụng thì ăn mới ngon miệng.
Mary went to the window.Mary bước tới bên cửa số.
There were gardens and paths and big trees, but everything looked dull and wintry. Ngoài kia là vườn tược cùng mấy con đường mòn và dăm cái cây lớn, nhưng cảnh vật trông ảm đạm tựa mùa đông.
“Out? Why should I go out on a day like this?”- Ra ngoài ư? Tại sao tôi phải ra ngoài vào một ngày như thế này?
“Well, if tha’ doesn’t go out tha’lt have to stay in, an’ what has tha’ got to do?”- Nếu cô không muốn ra ngoài thì cô phải ở trong phòng, vậy cô sẽ làm gì?
Mary glanced about her.Mary ngước nhìn xung quanh.
There was nothing to do. Chẳng có gì để làm cả.
When Mrs. Medlock had prepared the nursery she had not thought of amusement. Khi bà Medlock chuẩn bị phòng trẻ thì bà ta không nghĩ tới cái trò giải trí.
Perhaps it would be better to go and see what the gardens were like. Có lẽ nên ra ngoài kia xem mấy khu vườn ra sao.
“Who will go with me?” she inquired.- Ai đi cùng tôi? – Nó hỏi.
Martha stared.Martha trố mắt.
“You’ll go by yourself,” she answered.- Cô tự đi chứ, - chị đáp.
“You’ll have to learn to play like other children does when they haven’t got sisters and brothers. – cô hãy học chơi như bọn trẻ vẫn chơi khi chúng không có anh chị em.
Our Dickon goes off on th’ moor by himself an’ plays for hours. Thằng Dickon nhà chúng tôi thường tự ra ngoài đồng hoang mà chơi hàng giờ.
That’s how he made friends with th’ pony. Nó cũng kết thân với mấy con ngựa hoang bằng cách ấy đấy.
He’s got sheep on th’ moor that knows him, an’ birds as comes an’ eats out of his hand. Nó cũng khiến được bầy cừu ngoài cánh đồng hiểu nó, và chim chóc thường sà xuống ăn ngay trên hai bàn tay nó.
However little there is to eat, he always saves a bit o’ his bread to coax his pets.” Dẫu chẳng có mấy thức ăn, nhưng nó luôn dành dụm chút xíu bánh mì cho các con vật yêu của nó.
It was really this mention of Dickon which made Mary decide to go out, though she was not aware of it.Quả tình cái lối kể lể này về Dickon đã khiến Mary quyết định ra khỏi nhà, dù nó không nhận ra điều đó.
There would be birds outside though there would not be ponies or sheep. Sẽ có chim chóc ngoài kia, chứ không phải ngựa hoang với cừu.
They would be different from the birds in India and it might amuse her to look at them. Chúng chắc phải khác chim chóc ở Ấn Độ, và ngắm nhìn chúng sẽ làm nó thấy vui.
Martha found her coat and hat for her and a pair of stout little boots and she showed her her way downstairs.Martha tìm cho nó áo khoác và mũ, lại thêm đôi giày bốt vừa xinh vừa bền, xong xuôi chị chỉ cho nó lối ra cầu thang.
“If tha’ goes round that way tha’ll come to th’ gardens,” she said, pointing to a gate in a wall of shrubbery.- Nếu cô đi theo đường kia thì cô sẽ ra tới vườn, - chị vừa nói vừa chỉ về phía cái cổng ẩn trong hàng giậu có nhiều cây bụi.
“There’s lots o’ flowers in summer-time, but there’s nothin’ bloomin’ now.” - Ở đó có vô vàn hoa nở khi hè về, nhưng bây giờ thì chẳng cây nào nở hoa hết.
She seemed to hesitate a second before she added, “One of th’ gardens is locked up. Chị có vẽ lưỡng lự giây lát rồi nói thêm. - Một trong các khu vườn hiện đang bị khoá kín.
No one has been in it for ten years.” Suốt mười năm qua chưa một ai đặt chân vào đó.
“Why?” asked Mary in spite of herself. Here was another locked door added to the hundred in the strange house.Tại sao? – Mary buột miệng hỏi. lại thêm một cánh cửa nữa bị khoá, thêm vào con số hàng trăm căn phòng bị khóa trong ngôi nhà kỳ lạ này.
“Mr. Craven had it shut when his wife died so sudden.- Ông Craven đã cho khoá nó khi vợ ông đột ngột qua đời.
He won’t let no one go inside. Ông không cho phép ai bước vào trong.
It was her garden. Đó chính là khu vườn riêng của phu nhân.
He locked th’ door an’ dug a hole and buried th’ key. Ông ấy tự tay khoá cánh cửa và đào một cái hố để giấu chìa khoá.
There’s Mrs. Medlock’s bell ringing—I must run.” Chuông của bà Medlock đang rung đấy, tôi phải chạy đi đây.
After she was gone Mary turned down the walk which led to the door in the shrubbery She could not help thinking about the garden which no one had been into for ten years.Sau khi chị đã rời xa, Mary quay xuống lối đi dạo dẫn tới cánh cổng chỗ cây bụi. Nó không thể không nghĩ đến khu vườn không có ai đặt chân vào trong suốt mười năm qua.
She wondered what it would look like and whether there were any flowers still alive in it. Nó tò mò muốn biết khu vườn trông thế nào và tự nhủ không rõ có còn cây hoa nào sống sót trong đó không.
When she had passed through the shrubbery gate she found herself in great gardens, with wide lawns and winding walks with clipped borders. Vượt qua cánh cổng bằng bụi cây, nó nhận ra mình đang đứng giữa một khu vườn rộng với những bãi cỏ lớn, những lối đi quanh co và những bờ cao được chăm tỉa.
There were trees, and flower-beds, and evergreens clipped into strange shapes, and a large pool with an old gray fountain in its midst. Cơ man nào là cây cối, thảm hoa và những cây trường xuân được xén tỉa tạo nên những hình thù kỳ lạ, với cả một hồ nước rộng có đài phun nước màu xám cũ kỹ ngay chính giữa.
But the flower-beds were bare and wintry and the fountain was not playing. Nhưng lúc này các thảm hoa đều trơ trụi, tiêu điều, còn đài phun nước thì đã ngừng phun.
This was not the garden which was shut up. Đây không phải là khu vườn bị khoá.
How could a garden be shut up? You could always walk into a garden. Vườn tược mà phải khoá lại thì còn ra thể thống gì nhỉ? Người ta ai cũng có thể đi dạo trong vườn kia mà.
She was just thinking this when she saw that, at the end of the path she was following, there seemed to be a long wall, with ivy growing over it.Đang nghĩ vậy thì nó trông thấy ở cuối con đường mòn mình đang đi, hình như có một bức tường dài dằng dặc phủ kín dây thường xuân.
She was not familiar enough with England to know that she was coming upon the kitchen-gardens where the vegetables and fruit were growing. Nó không biết nhiều về nước Anh để mà hiểu rằng nó sắp bước vào khu vườn dành cho nhà bếp, là nơi chỉ trồng toàn rau và quả.
She went toward the wall and found that there was a green door in the ivy, and that it stood open. Nó tiến về phía bức tường thì phát hiện ra một cánh cửa ra vào sơn xanh thấp thoáng trong đám lá thường xuân, cửa để ngỏ.
This was not the closed garden, evidently, and she could go into it. Rõ ràng khu vườn này không hề đóng, và nó có thể vào trong đó.
She went through the door and found that it was a garden with walls all round it and that it was only one of several walled gardens which seemed to open into one another.Nó tiến qua cánh cửa và nhận thấy đó là một khu vườn có tường bao, và chỉ là một trong số mấy khu vườn có tường bao quanh, vườn nọ dường như mở thông sang vườn kia.
She saw another open green door, revealing bushes and pathways between beds containing winter vegetables. Con bé thấy một cánh cửa màu xanh khác mở ngỏ, để lộ mấy bụi cây và các đường mòn nhỏ chạy giữa những luống rau mùa đông.
Fruit-trees were trained flat against the wall, and over some of the beds there were glass frames. Cây ăn quả được trồng thành hàng dọc sát chân tường, và một số luống đất có khung kính che bên trên.
The place was bare and ugly enough, Mary thought, as she stood and stared about her. Nơi này mới trơ trụi và xấu xí làm sao, Mary nghĩ bụng khi nó đứng ngắm nhìn quanh.
It might be nicer in summer when things were green, but there was nothing pretty about it now. Có lẽ vào mùa hè thì sẽ đẹp hơn, khi tất cả đều xanh tươi chứ lúc này thì chẳng có gì đẹp hết.
Presently an old man with a spade over his shoulder walked through the door leading from the second garden.Ngay lúc đó, một ông lão vác mai trên vai từ cánh cửa khu vườn thứ hai bước vào.
He looked startled when he saw Mary, and then touched his cap. Ông lão giật nảy mình khi nhìn thấy Mary, rồi đưa tay chạm nhẹ trên vành mũ.
He had a surly old face, and did not seem at all pleased to see her—but then she was displeased with his garden and wore her “quite contrary” expression, and certainly did not seem at all pleased to see him. Ông có vẻ mặt già nua cáu kỉnh và chẳng hề tỏ ra mừng rỡ khi gặp con bé – nhưng lúc đó Mary nào có thích thú gì khu vườn, và cùng với bộ dạng ương bướng, nó cũng không tỏ vẻ gì là mừng khi thấy ông.
“What is this place?” she asked.- Đây là đâu thế?
“One o’ th’ kitchen-gardens,” he answered.- Một khu vườn dành cho bếp ăn đấy cô ạ, - ông lão đáp.
There were trees... and a large pool with an old grey fountain in its midst. “What is that?” said Mary, pointing through the other green door.- Thế kia là gì? – Mary vừa hỏi, vừa đưa tay chỉ qua cánh cửa màu xanh kia.
“Another of ‘em,” shortly.- Một vườn nhà bếp khác.
“There’s another on t’other side o’ th’ wall an’ there’s th’ orchard t’other side o’ that.” Và một vườn nữa ở bên kia bức tường và vườn cây ăn quả ở sau tất cả chúng.
“Can I go in them?” asked Mary.- Tôi có thể vào trong các khu vườn ấy không? – Mary hỏi.
“If tha’ likes.- Nếu cô muốn.
But there’s nowt to see.” Nhưng cũng chẳng có gì đáng xem.
Mary made no response.Mary không đáp lại.
She went down the path and through the second green door. Nó đi xuôi theo con đường mòn và bước qua cánh cửa màu xanh thứ hai.
There she found more walls and winter vegetables and glass frames, but in the second wall there was another green door and it was not open. Ở đây, nó lại thấy mấy bức tường nữa với những luống rau vụ đông và nhà khung kính. Nơi bức tường thứ hai là một cánh cửa sơn xanh khép kín.
Perhaps it led into the garden which no one had seen for ten years. Có lẽ cánh cửa này dẫn tới khu vườn mà suốt mười năm qua chưa một ai được tới.
As she was not at all a timid child and always did what she wanted to do, Mary went to the green door and turned the handle. Vốn dĩ không phải đứa trẻ rụt rè, lại luôn làm những gì nó thích nên Mary bước dấn tới chỗ cánh cửa xanh và xoay tay nắm.
She hoped the door would not open because she wanted to be sure she had found the mysterious garden—but it did open quite easily and she walked through it and found herself in an orchard. Nó hy vọng cánh cửa không mở, bởi vì nó muốn chắc chắn mình đã phát hiện ra khu vườn đầy bí ẩn đó. Thế nhưng cửa hoàn toàn dễ mở. Trước khi bước vào trong, nó nhận ra mình đang ở giữa một vườn cây ăn quả.
There were walls all round it also and trees trained against them, and there were bare fruit-trees growing in the winter-browned grass—but there was no green door to be seen anywhere. Vẫn những bức tường bao quanh khu vườn, những cây cối dựa vào bờ tường, và những cây ăn quả trơ trụi mọc giữa vạt cỏ nâu xám mùa đông, nhưng chẳng thấy cánh cửa xanh nào hết.
Mary looked for it, and yet when she had entered the upper end of the garden she had noticed that the wall did not seem to end with the orchard but to extend beyond it as if it enclosed a place at the other side. Con bé đưa mắt tìm kiếm cánh cửa đó, và khi tiến về cuối khu vườn, nó để ý thấy bức tường dường như không dừng lại chỗ vườn cây quả mà còn dài ra nữa, như còn chạy quanh thêm một khoảng đất phía bên kia.
She could see the tops of trees above the wall, and when she stood still she saw a bird with a bright red breast sitting on the topmost branch of one of them, and suddenly he burst into his winter song—almost as if he had caught sight of her and was calling to her. Từ đây trông thấy rõ mấy ngọn cây trên bờ tường, và khi đứng im, nó trông thấy một con chim có bộ lông ức đỏ rực, đang đậu trên cành cao nhất trong mấy ngọn cây, đột nhiên hót vang bài ca mùa đông của nó, như thể nó đã trông thấy con bé và cất tiếng gọi.
She stopped and listened to him and somehow his cheerful, friendly little whistle gave her a pleased feeling—even a disagreeable little girl may be lonely, and the big closed house and big bare moor and big bare gardens had made this one feel as if there was no one left in the world but herself.Con bé đứng lặng nghe chim hót. Không hiểu sao tiếng hót thân thiện, vui vẻ của nó làm dâng lên trong lòng Mary một cảm giác dễ chịu, dù cho đứa con gái nhỏ khó chịu đó có thể cô độc, và dù ngôi nhà đồ sộ khép kín này, cánh đồng hoang trơ trụi này và cả những khu vườn trống trải rộng mênh mông này nữa cũng chỉ khiến cho sinh linh đó cảm thấy như thể không gì còn tồn tại trên thế giới này ngoài bản thân nó.
If she had been an affectionate child, who had been used to being loved, she would have broken her heart, but even though she was “Mistress Mary Quite Contrary” she was desolate, and the bright-breasted little bird brought a look into her sour little face which was almost a smile. Nếu là một đứa trẻ được yêu thương thì có lẽ trái tim nó đã rung lên thổn thức, nhưng bởi là “cô chủ Mary ngang ngược” cho nên con chim nhỏ có bộ lông ức đỏ tươi kia cũng chỉ khiến cho khuôn mặt non nớt cáu kỉnh của con bé khẽ nở một nụ cười.
She listened to him until he flew away. Mary lặng người nghe con chim hót cho tới khi nó vỗ cánh bay đi.
He was not like an Indian bird and she liked him and wondered if she should ever see him again. Nó chẳng thấy giống một loài chim Ấn Độ nào cả, con bé thấy thích và tự hỏi liệu có còn được gặp lại nó không.
Perhaps he lived in the mysterious garden and knew all about it. Biết đâu con chim ấy lại sống trong khu vườn bí ẩn và biết nhiều chuyện về khu vườn cũng nên.
Perhaps it was because she had nothing whatever to do that she thought so much of the deserted garden.Có lẽ chẳng có việc gì làm nên con bé cứ nghĩ mãi về khu vườn bị bỏ hoang.
She was curious about it and wanted to see what it was like. Nó tò mò về khu vườn và càng muốn xem sự thể ra sao.
Why had Mr. Archibald Craven buried the key? If he had liked his wife so much why did he hate her garden? She wondered if she should ever see him, but she knew that if she did she should not like him, and he would not like her, and that she should only stand and stare at him and say nothing, though she should be wanting dreadfully to ask him why he had done such a queer thing. Vì cớ gì mà ông Archinald Craven phải vùi chìa khoá xuống đất? Nếu ông ấy yêu thương vợ đến vậy thì sao lại ghét khu vườn của bà? Nó tự hỏi không biết mình có nên gặp ông ấy hay không, nhưng nó biết rằng nếu có gặp thì nó sẽ chẳng thích ông, và hẳn ông cũng chẳng mến nó, và nó sẽ chỉ đứng mà nhìn ông chòng chọc, không nói một câu, mặc dầu nó thèm đến chết đi được muốn hỏi tại sao ông lại làm một việc kỳ dị như thế.
“People never like me and I never like people,” she thought.“Mọi người chẳng bao giờ ưa mình, mà mình cũng chẳng bao giờ ưa họ,” nó nghĩ.
“And I never can talk as the Crawford children could. “Mình cũng chẳng bao giờ biết nói năng như bọn trẻ nhà Crawford.
They were always talking and laughing and making noises.” Chúng nó lúc nào cũng nói cười và làm ầm ĩ cả lên.”
She thought of the robin and of the way he seemed to sing his song at her, and as she remembered the tree-top he perched on she stopped rather suddenly on the path.Con bé chợt nhớ tới con chim ức đỏ và cách con chim hát bài ca như để dành cho nó. Nó đứng phắt lại trên đường mòn khi đột nhiên nhớ ra ngọn cây nơi con chim đã đậu.
“I believe that tree was in the secret garden—I feel sure it was,” she said. “Mình tin rằng cái cây ấy ở trong khu vườn bí mật, mình cảm thấy chắc chắn như vậy.
“There was a wall round the place and there was no door.” Có một bức tường bao quanh nơi đó, nhưng không thấy cửa,” nó lẩm bẩm.
She walked back into the first kitchen-garden she had entered and found the old man digging there.Nó quay lại khu vườn của nhà bếp lúc ban đầu, vừa tiến vào thì gặp ông lão đang đào xới ở đó.
She went and stood beside him and watched him a few moments in her cold little way. Nó bước tới đứng cạnh ông, ngắm ông với vẻ lạnh lùng trong giây lát.
He took no notice of her and so at last she spoke to him. Ông lão không để ý tới nó, cuối cùng nó đành lên tiếng.
“I have been into the other gardens,” she said.- Các khu vườn tôi đều vào cả rồi.
“There was nothin’ to prevent thee,” he answered crustily.- Chẳng có gì ngăn cô cả, - ông lão đáp lại một cách cộc cằn.
“I went into the orchard.”- Tôi đã vào cả vườn cây ăn quả.
“There was no dog at th’ door to bite thee,” he answered.- Không có chó canh cửa cắn cô đâu, - ông lão đáp.
“There was no door there into the other garden,” said Mary.- Làm gì có cửa thông sang khu vườn kia, - Mary nói.
“What garden?” he said in a rough voice, stopping his digging for a moment.- Vườn nào? – Ông lão hỏi bằng giọng thô lỗ, ngừng đào đất trong giây lát.
“The one on the other side of the wall,” answered Mistress Mary.- Vườn ở bên kia bức tường, - Mary trả lời, - cả cây cối ở đó nữa.
“There are trees there—I saw the tops of them. Tôi đã thấy ngọn của chúng.
A bird with a red breast was sitting on one of them and he sang.” Con chim ức đỏ đậu trên một ngọn cây, nó còn hót nữa.
To her surprise the surly old weather-beaten face actually changed its expression.Trước nỗi ngạc nhiên của con bé, khuôn mặt cáu kỉnh già nua dạn dày nắng gió ấy chợt biến đổi.
A slow smile spread over it and the gardener looked quite different. Một nụ cười chậm rãi nở trên khuôn mặt ông già, và người làm vườn lúc này trông khác hẳn.
It made her think that it was curious how much nicer a person looked when he smiled. Điều đó khiến con bé nghĩ thật kỳ lạ, một người lại có thể trở nên dễ thương biết bao khi nở một nụ cười.
She had not thought of it before. Trước đây nó quả chưa nghĩ tới điều đó.
He turned about to the orchard side of his garden and began to whistle—a low soft whistle.Ông lão quay người về phía khu vườn quả và bắt đầu huýt sáo – tiếng sáo trầm trầm dịu dàng.
She could not understand how such a surly man could make such a coaxing sound. Nó không thể hiểu nổi vì sao con người cau có ấy có thể tạo nên một âm thanh ngọt ngào đến vậy.
Almost the next moment a wonderful thing happened.Gần như ngay lúc đó, một điều kỳ diệu đã xảy ra.
She heard a soft little rushing flight through the air—and it was the bird with the red breast flying to them, and he actually alighted on the big clod of earth quite near to the gardener’s foot. Nó nghe tiếng loạt xoạt êm ái trong không trung, và con chim ức đỏ thắm vụt bay đến chẳng khác nào một đốm lửa, đậu xuống tảng đất lớn ngay sát chân người làm vườn.
“Here he is,” chuckled the old man, and then he spoke to the bird as if he were speaking to a child.Nó đây rồi, - ông lão cười một mình, đoạn quay sang nói với con chim như nói với một đứa trẻ.
“Where has tha’ been, tha’ cheeky little beggar?” he said.- Mày vừa ở đâu về, đồ nhãi con hư đốn, - lão đùa.
“I’ve not seen thee before today. – Từ hôm qua tới giờ tao chẳng thấy mày đâu cả.
Has tha’ begun tha’ courtin’ this early in th’ season? Tha’rt too forrad.” Mới đầu mùa mà mày đã bắt đầu ve vãn bạn tình rồi sao? Thế là sớm quá đấy.
The bird put his tiny head on one side and looked up at him with his soft bright eye which was like a black dewdrop.Con chim nghiêng nghiêng cái đầu xinh xắn sang bên, ngước nhìn ông lão bằng đôi mắt sáng dịu dàng tựa hai giọt sương đen.
He seemed quite familiar and not the least afraid. Hình như nó đã quá quen với lão và không chút sợ hãi.
He hopped about and pecked the earth briskly, looking for seeds and insects. Nó nhảy lên mổ mổ đất để tìm ngũ cốc và côn trùng.
It actually gave Mary a queer feeling in her heart, because he was so pretty and cheerful and seemed so like a person. Điều đó khiến Mary thấy rung động kỳ lạ, bởi con vật thật xinh xắn, vui vẻ, và trông mới giống con người làm sao.
He had a tiny plump body and a delicate beak, and slender delicate legs. Nó có cái thân tròn như trái mận, cái mỏ thanh tú cùng hai cái cẳng thật mảnh mai.
“Will he always come when you call him?” she asked almost in a whisper.- Hễ ông gọi là nó bay đến liền sao?? – Nó hỏi như thể thì thầm.
“Aye, that he will.- Phải, hễ gọi là nó đến.
I’ve knowed him ever since he was a fledgling. Tôi biết nó từ khi nó mới ra ràng.
He come out of th’ nest in th’ other garden an’ when first he flew over th’ wall he was too weak to fly back for a few days an’ we got friendly. Nó bay khỏi tổ từ khu vườn kia, lần đầu bay qua tường thì nó yếu quá, không đủ sức bay trở về nữa trong mấy ngày liền, và chúng tôi kết bạn với nhau.
When he went over th’ wall again th’ rest of th’ brood was gone an’ he was lonely an’ he come back to me.” Đến lúc nó qua nổi bức tường thì những con cùng lứa cũng đã bay xa rồi, còn mỗi một mình nên nó trở lại với tôi.
“What kind of a bird is he?” Mary asked.- Nó là loài chim gì thế? – Mary hỏi.
“Doesn’t tha’ know? He’s a robin redbreast an’ they’re th’ friendliest, curiousest birds alive.- Cô không biết à? Nó là loài ức đỏ, loài chim thân thiện nhất, hiếu kỳ nhất còn sống cho tới ngày nay.
They’re almost as friendly as dogs—if you know how to get on with ’em. Chúng thân thiện gần như bọn chó vậy, nếu cô biết cách làm quen với chúng.
Watch him peckin’ about there an’ lookin’ round at us now an’ again. Nhìn nó đang mổ đấy, nó đang ngó quanh và đôi lúc liếc nhìn chúng ta nữa.
He knows we’re talkin’ about him. ” Nó hiểu chúng ta đang nói về nó.
It was the queerest thing in the world to see the old fellow.Chẳng có gì trên thế gian này kỳ dị bằng ông lão ấy.
He looked at the plump little scarlet-waistcoated bird as if he were both proud and fond of him. Lão đang ngắm nghía con chim có bộ ức đỏ tươi, vừa tự hào vừa trìu mến.
“He’s a conceited one,” he chuckled.- Nó là hay tự phụ lắm đấy, - lão cười mủm mỉm.
“He likes to hear folk talk about him. – Nó rất thích nghe người ta bàn tán về nó.
An’ curious—bless me, there never was his like for curiosity an’ meddlin’. Và thóc mách nữa chứ, chao ôi, chẳng có ai lại hay tò mò và can thiệp vào chuyện người khác như nó.
He’s always comin’ to see what I’m plantin’. Nó thường sà xuống xem tôi đang trồng cây gì.
He knows all th’ things Mester Craven never troubles hissel’ to find out. Nó biết tất cả những điều mà bản thân ông Craven không buồn khám phá.
He’s th’ head gardener, he is.” Nó mới chính là người làm vườn hàng đầu ở đây.
The robin hopped about busily pecking the soil and now and then stopped and looked at them a little.Com chim ức đỏ vẫn nhảy quanh, hối hả mổ xuống đất, thỉnh thoảng dừng lại ngó nghiêng sang hai người.
Mary thought his black dewdrop eyes gazed at her with great curiosity. Mary nhận thấy đôi mắt như hai hạt sương đen của nó đang trân trân nhìn mình với vẻ hết sức lạ lẫm.
It really seemed as if he were finding out all about her. Có vẻ như nó đang tìm hiểu mọi thứ về con bé.
The queer feeling in her heart increased. Cảm giác kỳ lạ trong lòng Mary mỗi lúc một tăng lên.
“Where did the rest of the brood fly to?” she asked.- Những con chim cùng lứa khác bay đi đâu? - Nó hỏi.
“There’s no knowin’.- Không biết.
The old ones turn ’em out o’ their nest an’ make em fly an’ they’re scattered before you know it. Những con chim già đẩy chúng ra khỏi tổ, dạy chúng bay, rồi chúng bay tản mác bốn phương trước khi ta kịp nhận ra.
This one was a knowin’ one an’ he knew he was lonely.” Tôi chỉ còn thấy con này, nó cũng biết mình đơn độc.
Mistress Mary went a step nearer to the robin and looked at him very hard.Cô chủ nhỏ Mary bước một bước lại gần hơn con chim ức đỏ, nhìn nó và bảo:
“I’m lonely,” she said.- Tao cũng đơn độc như mày.
She had not known before that this was one of the things which made her feel sour and cross.Trước đây con bé không biết đó là một trong những điều khiến nó khó chịu và khổ sở.
She seemed to find it out when the robin looked at her and she looked at the robin. Dường như nó nhận ra điều đó khi con chim ức đỏ nhìn nó và nó cũng nhìn lại con chim.
The old gardener pushed his cap back on his bald head and stared at her a minute.Người làm vườn già đẩy cái mũ ra phía sau cái đầu hói, nhìn nó trân trân trong giây lát.
“Art tha’ th’ little wench from India?” he asked.- Cô có phải cô tiểu thư từ Ấn Độ về không?
Mary nodded.Mary gật đầu.
“Then no wonder tha‘rt lonely.- Chả trách cô đơn độc là phải.
Tha’lt be lonlier before tha’s done,” he said. Còn đơn độc hơn trước kia nữa cơ, - lão bảo.
He began to dig again, driving his spade deep into the rich black garden soil while the robin hopped about very busily employed.Lão lại xới đất, lưỡi mai xắn sâu vào lớp đất vườn màu mỡ trong khi con chim ức đỏ nhảy nhót gần đó, ra vẻ bận rộn.
“What is your name?” Mary inquired.- Tên ông là gì? – Mary hỏi.
He stood up to answer her.Lão đứng thẳng người, đáp:
“Ben Weatherstaff,” he answered, and then he added with a surly chuckle, “I’m lonely mysel’ except when he’s with me,” and he jerked his thumb toward the robin.Ben Weatherstaff. – Rồi lão nói thêm với nét cười cau có. – bản thân tôi cũng đơn độc, chỉ trừ khi có nó ở bên, - lão trỏ ngón tay cái về phía con chim ức đỏ.
“He’s’ th’ only friend I’ve got.” – Nó là người bạn duy nhất mà tôi có.
“I have no friends at all,” said Mary.- Tôi thì chẳng có bạn bè nào cả, - Mary bảo.
“I never had. – Tôi chẳng bao giờ có bạn.
My Ayah didn’t like me and I never played with any one.” Ngay Ayah của tôi cũng chẳng thích tôi, và tôi chưa bao giờ chơi với ai hết.
It is a Yorkshire habit to say what you think with blunt frankness, and old Ben Weatherstaff was a Yorkshire moor man.Người Yorkshire có thói hay nói thẳng tuột những điều họ nghĩ, và lão Ben Weatherstaff chính là một cư dân của vùng đồng hoang Yorshire này.
“Tha’ an’ me are a good bit alike,” he said.- Cô và tôi hơi giống nhau đó.
“We was wove out of th’ same cloth. Chúng ta cùng một giuộc với nhau.
We’re neither of us good lookin’ an’ we’re both of us as sour as we look. Đều không ưa nhìn, và đều gắt gỏng.
We’ve got the same nasty tempers, both of us, I’ll warrant.” Chúng ta cũng có cái tính khí khó chịu, cả hai đều vậy, tôi cam đoan đấy.
This was plain speaking, and Mary Lennox had never heard the truth about herself in her life.Nói thế thật là thẳng, và Mary Lennox chưa bao giờ nghe sự thật về bản thân nó.
Native servants always salaamed and submitted to you, whatever you did. Đám gia nhân bản xứ vốn chỉ biết vâng dạ và phục tùng, bất kể chủ nhân mình làm gì.
She had never thought much about her looks, but she wondered if she was as unattractive as Ben Weatherstaff and she also wondered if she looked as sour as he had looked before the robin came. Con bé chẳng mấy khi nghĩ về diện mạo của mình, nhưng nó tự hỏi không biết nó có khó coi như lão Ben Weatherstaff không, và nó cũng băn khoăn không biết trông nó có bẳn tính như lão lúc trước khi con chim ức đỏ bay tới.
She actually began to wonder also if she was “nasty tempered.” She felt uncomfortable. Nó thật sự bắt đầu phân vân không biết mình có phải là kẻ “khó chịu”.
Suddenly a clear rippling little sound broke out near her and she turned round. Nó cảm thấy không được thoải mái.
She was standing.Bỗng có tiếng rì rầm khẽ vang lên gần đó, nó ngó nhìn quanh.
a few feet from a young apple-tree and the robin had flown on to one of its branches and had burst out into a scrap of a song. Nó đang đứng cách một cây táo non mấy bước chân, con chim ức đỏ liệng xuống đậu trên một cành táo và hót lên một tràng líu lo.
Ben Weatherstaff laughed outright. Lão Ben Weatherstaff cười phá lên.
“What did he do that for?” asked Mary- Nó làm gì đấy? – Mary hỏi.
“He’s made up his mind to make friends with thee,” replied Ben.- Nó quyết định đánh bạn với cô đấy.
“Dang me if he hasn’t took a fancy to thee.” Quỷ tha ma bắt tôi đi nếu như nó không thích cô.
“To me?” said Mary, and she moved toward the little tree softly and looked up.- Tôi ư? – Mary hỏi, nó rón rén lại gần cái cây nhỏ rồi ngước nhìn lên.
“Would you make friends with me?” she said to the robin, just as if she was speaking to a person.- Mày có muốn làm bạn với tao không? – Nó nói với con chim ức đỏ, như thể với một con người.
“Would you?” And she did not say it either in her hard little voice or in her imperious Indian voice, but in a tone so soft and eager and coaxing that Ben Weatherstaff was as surprised as she had been when she heard him whistle. – Muốn không nào? – Nó nói câu ấy không hề gắt gỏng hay với cái giọng Ấn Độ kiêu căng, mà bằng một âm điệu mượt mà, âu yếm và háo hức đến nỗi lão Ben Weatherstaff cũng phải sửng sốt, chẳng khác nào con bé lúc nghe lão huýt sáo.
“Why,” he cried out, “tha’ said that as nice an’ human as if tha’ was a real child instead of a sharp old woman.- Sao thế nhỉ, - lão kêu lên, cô nói câu ấy thật hay, như một đứa trẻ thật sự chứ không phải một mụ già cay nghiệt.
Tha’ said it almost like Dickon talks to his wild things on the moor.” Cô nói cứ y như thằng Dickon đang trò chuyện với mấy con thú hoang của nó ngoài đồng hoang.
“Do you know Dickon?” Mary asked, turning round rather in a hurry.- Ông biết Dickon sao? – Mary hỏi, vội quay người lại.
“Everybody knows him.- Ai mà chẳng biết nó.
Dickon’s wanderin’ about everywhere. Thằng Dickon lang thang khắp nơi.
Th’ very blackberries an’ heather-bells knows him. Các loài từ mâm xôi cho tới thạch thảo đều quen với nó.
I warrant th’ foxes shows him where their cubs lies an’ th’ skylarks doesn’t hide their nests from him.” Tôi dám đánh cược rằng ngay đến bọn cáo cũng sẵn lòng chỉ cho thằng bé chỗ nằm của lũ cáo con, và cả bọn chiền chiện cũng chẳng giấu nó tổ của chúng.
Mary would have liked to ask some more questions.Mary vẫn muốn hỏi thêm vài câu nữa.
She was almost as curious about Dickon as she was about the deserted garden. Nó tò mò về thằng Dickon không kém gì về khu vườn bỏ hoang.
But just that moment the robin, who had ended his song, gave a little shake of his wings, spread them and flew away. Nhưng đúng lúc ấy, con chim ức đỏ ngừng hót, khẽ vỗ cánh rồi tung mình bay đi.
He had made his visit and had other things to do. Nó đã xong chuyến viếng thăm của mình, còn nhiều việc khác đang chờ nó.
“He has flown over the wall!” Mary cried out, watching him.- Nó bay qua bức tường kìa, - Mary kêu to, nhìn theo.
“He has flown into the orchard—he has flown across the other wall—into the garden where there is no door!” – Nó bay vào vườn quả rồi, nó lại bay qua bức tường kia, vào trong khu vườn không có cửa!
“He lives there,” said old Ben.- Nó sống ở đó, - Lão Ben bảo.
“He came out o’ th’ egg there. – Chính ở nơi ấy nó nở ra từ trứng.
If he’s courtin’, he’s makin’ up to some young madam of a robin that lives among th’ old rose-trees there.” Nếu nó đang tìm bạn tình thì hẳn nó phải bám theo nàng chim ức đỏ nào đấy sống trong mấy khóm hồng già ở đó rồi.
“Rose-trees,” said Mary “Are there rose-trees?”Khóm hồng à, - Mary thốt lên. - Ở đó có những khóm hồng sao?
Ben Weatherstaff took up his spade again and began to dig.Lão Ben Weatherstaff nhấc cái mai và bắt đầu đào.
“There was ten year’ ago,” he mumbled.- Mười năm về trước, - lão lẩm bẩm.
“I should like to see them,” said Mary.- Tôi muốn được tận mắt thấy chúng, - Mary nói.
“Where is the green door? There must be a door somewhere.” – Cánh cửa xanh ở đâu? Chắc hẳn phải có một cánh cửa ở đâu đó.
Ben drove his spade deep and looked as uncompanionable as he had looked when she first saw him.Lão Ben xắn sâu lưỡi mai xuống và lại tỏ ra thiếu thân thiện như lần đầu con bé thấy lão.
“There was ten year’ ago, but there isn’t now,” he said.- Mười năm về trước chứ không phải bây giờ, - lão bảo.
“No door!” cried Mary.- Không thấy cánh cửa nào! – Mary kêu lên.
“There must be.” – Phải có chứ.
“None as any one can find, an’ none as is any one’s business. Don’t you be a meddlesome wench an’ poke your nose where it’s no cause to go.- Chưa một ai có thể tìm thấy, vả lại cũng chẳng phải việc của ai, cô đừng có như mấy cô nàng lắm chuyện cứ hay nhúng mũi vào chỗ không phải của mình.
Here, I must go on with my work. Hừ, tôi phải đi làm việc đây.
Get you gone an’ play you. Cô đi mà chơi đi.
I’ve no more time.” Tôi không được rảnh.
And he actually stopped digging, threw his spade over his shoulder and walked off, without even glancing at her or saying good-by.Lão thôi đào xới, nhấc mai lên vai rồi đi khỏi, cũng không buồn nhìn hay chào con bé.