Chương 5. Trường Phật Học

Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa và không có quảng cáo.
CHAPTER FIVE. Monks’ SchoolChương 5. Trường Phật Học
WHEN I AWOKE, I was lying on the ground next to the river with a man kneeling over me.   Khi tỉnh lại, tôi thấy mình đang nằm trên mặt đất bên bờ sông, một người đàn ông đang quỳ cạnh tôi.
I started coughing up river water as a large crowd stood around me and stared. Tôi bắt đầu ói nước sông ra khi đám đông bu quanh đứng nhìn.
Later I was told that the young monk who had been swimming with me wouldn’t get out of the river because I had torn off his robe in my panic to stay afloat. Sau đó tôi được kể rằng chú điệu nhỏ, người đã cùng lội với tôi không thể bước lên khỏi sông, vì trong lúc hoảng loạn, tôi đã níu rách áo quần của chú.
Naked, he had stood in waist-deep water at the edge of the river and screamed for help. Trần truồng, chú phải đứng nép ở bờ sông, giấu mình dưới nước và la cầu cứu.
Apparently, a man came out of a tea shop next to the train station and asked what was the matter.   May là có một người đàn ông vừa bước ra khỏi quán trà cạnh bên ga xe lửa, hỏi cớ sự.
The young monk pointed to a spot in the river and said that I had drowned.  Chú điệu nhỏ đã chỉ nơi  tôi bị chìm xuống.
“He must be dead by now,” the monk had shouted.   "Giờ nầy chắc anh ta đã chết rồi," chú la lên.
The man from the tea shop jumped into the river, fully clothed, and searched underwater until he found me, unconscious, at the bottom.   Người đàn ông mặc nguyên cả đồ, nhảy xuống sông, mò mẫm dưới nước. Đến khi ông tìm được, tôi đã bất tỉnh ở dưới đáy sông.
He dragged me up onto the riverbank and started giving me mouth-to-mouth resuscitation as a crowd gathered. Ông kéo tôi lên bờ sông và bắt đầu cứu tôi bằng phương pháp hô hấp nhân tạo trong khi đám đông tụ lại xem.
Eventually I sat up, coughing and sputtering.   Dần dần tôi ngồi dậy, ho và ói nước.
I was a little shaken, but otherwise all right. Tôi hơi run sợ, nhưng cảm thấy an toàn.
The young monk fetched his teacher, and together they walked me back to their temple, which was just fifty yards away. Chú điệu nhỏ đi tìm sư phụ của mình, và hai người đã đưa tôi trở lại chùa của họ, cách đó khoảng năm mươi thước.
They gave me a cup of hot coffee with lots of sugar, and a set of dry robes. Họ cho tôi một tách cà phê nóng với rất nhiều đường và một bộ y khô.
It was not long before I started feeling like myself again. Không lâu sau đó thì tôi trở lại bình thường.
The head monk was very kind.   Vị sư trưởng rất tử tế.
He asked me my name and where I was going. Ông hỏi tên tôi và nơi tôi đi đến.
When I told him, he sent an attendant to the train station to buy me a ticket to Gampaha. Sau khi tôi trả lời, ông sai người ra ga xe lửa mua vé cho tôi đi Gampaha.
After a few hours’ rest, I was on my way again.   Sau một vài giờ nghỉ ngơi, tôi lại lên đường.
 Ironically, when I arrived at the monks’ school in Gampaha, the first person I talked to asked me why I sounded like a drowned person. Trớ trêu thay, khi tôi đến trường Phật học ở Gampaha, người đầu tiên bắt chuyện với tôi, hỏi tại sao giọng tôi nói giống như người bị chết đuối.
“I just have a cold,” I replied.  “Tôi chỉ bị cảm,” tôi trả lời.
I was too embarrassed to tell the truth. Tôi quá xấu hổ không thể nói sự thật.
But the next day, there was my picture on the front page of Ceylon’s leading newspaper, along with a story about the teenage monk who nearly drowned in the river at the Veyangoda train station.   Nhưng ngày hôm sau, trên trang đầu của một tờ báo có tiếng ở Ceylon đã có in hình của tôi với câu chuyện về một tăng sĩ trẻ suýt chết đuối dưới sông ở ga xe lửa Veyangoda.
My fellow students at the monks’ school teased me about that for years.  Bạn bè ở trường Phật học đã trêu ghẹo tôi về chuyện đó hàng năm trời.
Although tuition at the monks’ school was free, boarders were re­quired to donate about five rupees a month.   Mặc dầu trường Phật học miễn học phí, nhưng tăng sinh nội trú phải trả khoảng năm rupee một tháng.
Unfortunately, I didn’t have any money to pay the fee, so I was given an abandoned shed to sleep in. Tiếc thay, tôi không có đồng nào để trả, vì thế tôi được cho một căn lều bỏ hoang để ở.
The shed had a dirt floor, partial walls about four feet high, and no door. Căn lều chỉ có nền đất, tường lửng chỉ cao khoảng hơn một thước, không có cửa.
I scavenged some gunnysacks, bamboo sticks, and ropes with which I fashioned a crude door and window shade. Tôi gom mấy bao tải gạo, vài cây tre và dây nhợ để làm một cánh cửa tạm bợ và che chắn cửa sổ.
For light, I had one earthen lamp that burned coconut oil. Để có ánh sáng, tôi dùng một cây đèn đất đốt bằng dầu dừa.
This was my first kuti, the one-room hut that some monks live in, and I was delighted to have it. Đó là cái kuti đầu tiên của tôi, loại thất một gian mà các tăng sĩ hay trú ngụ trong đó, và tôi cũng rất vui được ở đó.
I did most of my studying in my kuti.   Phần lớn tôi học hành ở trong thất.
Very quickly I became known as the smartest student in the school. Chẳng lâu sau, tôi nổi tiếng là một tăng sinh thông minh nhất ở trường.
I discovered I had a photographic memory, clearly a gift of good kamma. Tôi khám phá ra rằng tôi có một trí nhớ như in, rõ ràng là một quà tặng của thiện nghiệp.
In ten minutes, I could read a long book and retain everything in it. Tôi có thể đọc một quyển sách dài trong mười phút và nhớ tất cả mọi thứ trong đó.
I don’t know how this worked; I just know that each page stuck in my mind like a picture. Tôi không biết bằng cách nào; chỉ biết rằng mỗi trang sách trụ lại trong tâm tôi như một bức ảnh.
I was very proud of my gift and asked my friends to challenge me by posing questions from books.   Tôi rất hãnh diện về khả năng thiên phú này của mình, và thường yêu cầu bạn bè thử thách tôi, bằng cách đặt những câu hỏi từ trong sách.
I could answer them with the page number, and even the punctuation, of the sentence in question.  Tôi có thể trả lời câu họ hỏi ở trang số mấy, và ngay cả dấu chấm phẩy trong câu hỏi.
Perhaps because of this, the principal of the school liked me and selected me to be his assistant.   Có lẽ vì vậy, thầy hiệu trưởng của trường rất thích tôi, cho tôi làm phụ tá cho ông.
I was also named treasurer, which meant that I organized and stored all the donations that came into the school — things such as robes, medicine, and toiletries. Tôi cũng được bầu chọn làm thủ quỹ, có nghĩa là tôi quản lý, cất giữ tất cả tiền đóng góp được gửi tới trường, và cả các vật dụng khác như là y áo, thuốc men.
Then I would dole them out to the student-monks as needed.  Rồi sau đó tôi sẽ phân phát lại cho các tăng sinh nếu cần.
Because of my privileges and responsibilities, several of my fellow monks became jealous of me, and it didn’t help that I had developed the habit of reporting other students’ weaknesses to the principal! In short, I was a rat.   Vì quyền hạn và bổn phận này của tôi mà một số bạn học trở nên ganh tỵ với tôi, đã thế, tôi lại còn sanh tánh hay thóc mách khuyết điểm của các bạn khác với thầy hiệu trưởng; tóm lại, tôi là một kẻ tồi tệ.
I filed report after report, detailing the wrongdoings of other monks.  Tôi gửi báo cáo này đến báo cáo khác, kẻ vạch từng chi tiết những sai trái của bạn bè.
I knew that I should be more concerned with my own behavior than with finding faults in others, but I wanted so much to maintain the approval of the principal. Tôi biết rằng, lý ra tôi phải quan tâm về các hành động của mình hơn là tìm kiếm lỗi của người, nhưng vì muốn duy trì lòng tin yêu của thầy hiệu trưởng nên tôi đã làm thế.
It’s too bad that I didn’t take to heart the words of the Buddha, in the Dhammapada:   Tôi đã không thực hành lời dạy của Đức Phật trong kinh Pháp Cú:
Easily seen is the fault of others, but one’s own is difficult to see.   Thấy lỗi người thì dễ, nhưng lỗi mình khó thay.
Like chaff, one winnows another’s faults but hides one’s own, even as a crafty fowler hides behind sham branches.  Ta sàng lọc lỗi người như rơm trấu, mà lại giấu lỗi mình, hay như gã thợ săn giảo quyệt núp sau những cành cây ngụy tạo.
He who seeks another’s faults, who is ever censorious, his cankers grow.  Người luôn tìm lỗi người, luôn xét nét, (vì thế) uế nhiễm của họ càng tăng.
He is far from destruction of the cankers.  Họ rất khó đoạn trừ uế nhiễm.
On full-moon days I gave half-hour Dhamma talks at the school.   Vào những ngày rằm, tôi được giảng pháp khoảng nửa giờ tại trường.
Usually they were based on books I had read, but one time I decided that this might be boring for my audience. Thường thường những bài Pháp này dựa trên các sách tôi đã đọc.
So I decided to “wing it.  Nhưng một lần kia tôi nghĩ rằng làm thế sẽ khiến cho thính giả của tôi nhàm chán, vì thế tôi quyết định “sáng tạo”.
” All I did was memorize a three-page sutta, one of the Buddha’s sermons called Visakhuposatha Sutta. Tôi chỉ học thuộc một bài kinh dài ba trang, một trong những bài giảng của Đức Phật gọi là kinh Visakhuposatha.
Then I repeated it to my audience.  Rồi tôi lặp lại với thính giả của mình.
The experimental sermon was a disaster.   Bài thuyết pháp thể nghiệm thất bại.
I was finished reciting within ten minutes, then I simply babbled on for five more minutes — about what, I can’t even remember. Tôi đọc xong bài kinh chỉ trong mười phút, sau đó tôi chỉ lảm nhảm thêm năm phút nữa về điều gì, tôi cũng không nhớ nữa.
It was embarrassing, and it taught me a valuable lesson about the value of diligent preparation.  Thật xấu hổ. Đó là một bài học quý giá cho tôi về giá trị của sự chuẩn bị chu đáo.
From then on, I carefully prepared for each of my Dhamma talks. Từ đó, tôi luôn chuẩn bị cẩn thận từng bài thuyết pháp của mình.
I would choose a stanza from the Dhammapada and explain it using stories from the commentary. Tôi thường chọn một câu trong kinh Pháp Cú rồi giảng rộng ra dùng những câu chuyện trong phần chú giải.
The Dhammapada contains 423 stanzas, most of which teach about ethics and morality.  Kinh Pháp Cú bao gồm 423 câu, phần lớn dạy về giới luật và đạo đức.
There are also hundreds of stories elsewhere in the Buddhist canon that illustrate the topics mentioned in the Dhammapada. Ngoài ra cũng có hàng trăm câu chuyện rải rác khắp nơi trong tàng kinh Phật giáo để minh họa cho các đề tài được nói đến trong kinh Pháp Cú.
I enjoyed telling those stories, offering listeners a grounding in Buddhist morality. Tôi rất thích kể những câu chuyện này, để tạo cho người nghe một căn bản về đạo đức Phật giáo.
It wasn’t until much later in my career as a monk that I again felt confident enough to give sermons without preparation.   Mãi lâu sau này, qua bao năm tu tập, tôi mới cảm thấy đủ tự tin để thuyết pháp mà không cần chuẩn bị trước.
At the monks’ school, at age seventeen, I was finally able to give up smoking.   Ở trường Phật học, vào tuổi mười bảy, cuối cùng tôi cũng bỏ được tật hút thuốc lá.
It was a habit I had had for several years, but unfortunately, I only exchanged one addiction for another. Đó là một thói quen tôi đã huân tập nhiều năm, nhưng tiếc thay tôi chỉ thay đổi cái ghiền này bằng cái ghiền khác.
My new habit was chewing betel nut. Thói quen mới của tôi là ăn trầu, một hỗn hợp gồm lá trầu, cau, vôi và sợi thuốc lá.
In time I became the comedian of the school.   Chẳng bao lâu sau tôi trở thành cây hài của trường.
Every night, I would hold court for an hour or so, telling jokes to the other students. Mỗi tối, tôi đều tụ tập bạn bè lại, kể chuyện tiếu lâm cho họ nghe hằng giờ đồng hồ.
I enjoyed making them laugh. Tôi rất thích làm cho họ cười.
One of my jokes was about a supporter of a temple who became angry that the monks there never shared any of his offerings with the Buddha image.   Một trong những câu chuyện tiếu của tôi là về một vị bảo trợ của chùa, người rất bực tức vì quý tu sĩ ở đó không bao giờ mang đồ cúng dường của ông dâng trước tượng Phật.
So he wrapped a rope around the neck of the Buddha statue and hung it from one of the rafters. Vì thế ông cột một sợi dây quanh cổ tượng Phật rồi treo tượng lên xà nhà.
When the monks discovered what he had done and demanded to know why, he called it a suicide. Khi các tăng sĩ khám phá ra điều đó, hỏi ông tại sao, ông bảo đó là một sự tự tử.
“The Buddha statue said it couldn’t continue living in such a place,” he told them. “Tượng Phật bảo rằng không thể sống ở một nơi như thế,” ông giải thích.
Amazingly, the principal did not object to such irreverent comedy.   Cũng lạ là thầy hiệu trưởng không phản đối những câu chuyện tiếu lâm bất kính đó.
Usually, after my performance was finished, we went to his room and enjoyed a chew together. Thường thường, sau màn trình diễn của tôi, chúng tôi vào phòng ông, cùng thưởng thức việc ăn trầu với ông.
He was a wise man when it came to dealing with teenage monks.  Ông là một người rất tinh tế trong việc đối xử với các tăng sinh trẻ.
He was strict, but also very gentle. Ông nghiêm khắc, nhưng cũng rất hoà nhã.
He knew how to motivate us without forcing us, which might have destroyed our interest in learning. Ông biết cách khuyến khích chúng tôi mà không ép buộc, nếu không, chúng tôi cũng chẳng màng đến chuyện học hành.
He encouraged us to be disciplined monks.  Ông khuyến khích chúng tôi trở nên những tăng sĩ gương mẫu.
“Laypeople will look up to you,” he would say. “Các cư sĩ luôn ngưỡng mộ quý thầy,” ông nói.
“They know you have sacrificed sensual pleasure to devote your lives to the practice of Dhamma, so you must earn that respect.”  “Họ biết rằng quý thầy đã hy sinh các dục lạc để dâng hiến cuộc đời cho việc hành pháp, vì thế quý thầy phải xứng đáng với lòng kính trọng đó.”
I almost never had any money, but it didn’t matter.   Gần như không bao giờ tôi có đồng nào, nhưng không hề gì.
My humble housing was free, I collected my food on alms round, and instead of buying textbooks, I borrowed them from friends and copied the material by hand.  Chỗ ở khiêm nhường của tôi được miễn phí, đồ ăn thì do đi khất thực, và thay vì phải mua sách giáo khoa, tôi mượn các bạn và chép lại bằng cách viết tay.
I simply trusted that I would have whatever I needed to finish my education.  Tôi chỉ nghĩ đơn giản là tôi đã có tất cả mọi thứ cấn thiết để hoàn tất chương trình học của mình.
I had a lot of confidence in myself and also in the Triple Gem — the Buddha, Dhamma, and Sangha. Tôi rất tự tin ở bản thân cũng như ở Tam Bảo -Phật, Pháp và Tăng.
I felt like the Buddha was alive and walking with me through life, providing me with whatever I needed.   Tôi cảm thấy như là Đức Phật vẫn còn  sống và đi bên tôi xuyên suốt cuộc đời, hỗ trợ tôi bất cứ những gì tôi cần.
I was certain the Dhamma would protect me because I was ardently struggling to learn the Buddha’s teachings. Tôi tin chắc rằng Phật pháp sẽ bảo vệ tôi vì tôi đã phấn đấu không ngừng để học hỏi những điều Phật dạy.
And I thought that because I was a member of the Sangha, I would not have any problem getting whatever requisites I’d need. Và tôi nghĩ rằng vì tôi là thành viên của Tăng đoàn, tôi sẽ không gặp khó khăn, trở ngại để có những thứ tôi cần.
Even today, so many decades later, it feels as though the Triple Gem continues to provide for me. Ngay cả bây giờ, nhiều thế kỷ sau, tôi vẫn cảm thấy Tam Bảo luôn hộ trì cho tôi.
All satisfaction of my material needs seems to manifest eventually, without any struggle. Tất cả những nhu cầu vật chất của tôi dần dần đều được thoả mãn, mà không cần vất vả kiếm tìm.
One day an older monk asked me to shave his head.   Một ngày kia, một sư huynh nhờ tôi cạo tóc giùm.
That was a common practice in the monastery, but I had never shaved anyone’s head, not even my own. Đó là việc thường xảy ra trong tu viện, nhưng tôi chưa bao giờ cạo tóc cho ai, ngay chính cho bản thân.
I told him this, but he insisted. “It’s time you learned,” he said.  Tôi bảo với ông điều đó, nhưng ông khư khư nói, “Cũng đến lúc thầy phải học.”
Head-shaving is an important part of the Buddhist monastic discipline.   Việc cạo râu tóc là một phần quan trọng của giới luật trong các tu  viện Phật giáo.
Both monks and nuns do it.  Cả tăng và ni đều phải làm thế.
A shaved head promotes cleanliness and humility and it avoids the problem of having to kill head lice! It is also a symbol of renunciation and is intended to decrease monks’ and nuns’ attachment to physical beauty. Một chiếc đầu cạo nói lên sự sạch sẽ, khiêm cung và nó cũng giúp ta tránh được vấn đề phải giết chí trên đầu! Đó cũng là biểu tượng của sự xả bỏ, nhằm giúp tăng ni bớt bám víu vào vẻ đẹp hình thức bên ngoài.
If monks and nuns don’t have to spend time washing, combing, and fixing their hair, they’re free to spend more time on spiritual pursuits.  Nếu quý tăng ni không phải mất nhiều thì giờ gội, chải, sửa soạn tóc tai, thì họ có nhiều thời gian hơn dành cho việc theo đuổi những vấn đề tâm linh.
The Vinaya, or monastic code of conduct, says that monks and nuns can keep their hair as long as two inches.   Vinaya hay là giới luật ở tu viện, dạy rằng tăng ni có thể để tóc dài chừng năm centimét.
Some shave their heads only once a month, usually right before the full-moon day. Có người thì cạo tóc mỗi tháng một lần, thường là ngay trước ngày rằm.
Others shave once a week, or even every day. Người khác thì cạo mỗi tuần, hay có khi mỗi ngày.
The ritual is so important that a straight razor is one of eight items included in a bundle of possessions (usually called requisites) that a monastic receives at his or her ordination.   Điều lệ này quan trọng đến nỗi một lưỡi dao cạo bén là một trong tám thứ được kể trong nhóm sở hữu (thường được gọi là nhu yếu phẩm) mà người tu sĩ được tiếp nhận lúc thọ giới.
(The others are an undergarment robe; a robe that wraps around the body; an outer robe that doubles as a blanket; a cloth belt; a water strainer; a sewing kit; and an alms bowl.)  (Những vật dụng khác là nội y; áo để quấn quanh mình; áo ngoài hai lớp như một tấm mền; một dây nịt vải; một đồ lược nước; một bộ kim chỉ; và một bình bát.)
When the older monk insisted that I shave his head, I bowed and agreed, as tradition demanded.   Khi vị sư huynh nhất định là tôi phải cạo tóc cho ông, tôi đảnh lễ và đồng ý làm theo truyền thống.
I wet his head, slathered soap on it, and took hold of the razor. Tôi thấm nước lên đầu ông, chà xà bông lên đó, và cầm lưỡi lam lên.
Standing behind him, I dragged the blade against his scalp and an inch-long flap of skin lifted away from his skull! In the next instant there was blood everywhere. Đứng phía sau ông, tôi kéo lưỡi dao trên da đầu và một miếng da khoảng hai centimét tụt khỏi đầu ông! Ngay lập tức máu tuôn ra.
I was so scared I started to shake. Tôi sợ quá đến nỗi tôi bắt đầu run lên.
“Venerable Sir, please forgive me,” I said, and then ran to find another monk, who brought cool water to wash the wound.   “Thưa đại đức, xin hãy tha thứ cho con,” tôi nói, rồi chạy đi tìm một tăng sinh khác.  Thầy ấy mang vào một ít nước lạnh để rửa vết thương.
While I watched in shame and panic, that monk shaved the rest of the unfortunate fellow’s head. Rồi trong khi tôi đứng nhìn trong sự xấu hổ và sợ hãi, thầy cạo nốt phần tóc còn lại của vị đại đức không may.
We of course had no Band-Aids in those days, so the wounded monk went on alms round with a large dab of herbal salve on his head. Dĩ nhiên vào thời đó chúng tôi không có băng cá nhân, nên vị sư huynh kia phải đi khất thực với một cục thuốc dán trên đầu.
Because of my photographic memory, I sped through my studies.   Nhờ vào trí nhớ như chụp ảnh, tôi học rất nhanh.
Sinhalese, Pali, and Sanskrit were mandatory subjects.   Tiếng Sinhala, Pali và Santrit là những môn bắt buộc.
Tamil, Hindi, and English were optional. Và tiếng Tamil, Ấn Độ và tiếng Anh là tuỳ chọn.
Without much effort, I mastered them all.  Không cần nhiều cố gắng, tôi học được tất cả các môn.
As a reward, I was finally allowed to live in the dormitory with the other students despite my continued inability to pay the lodging fee.  Như để thưởng tôi, cuối cùng tôi được phép vào sống trong ký túc xá với các tăng sinh khác, mặc dầu tôi tiếp tục không có khả năng để trả tiền trọ.
I was assigned to a room with another novice monk.  Tôi được phép đến ở chung phòng với một sadi khác.
Unfortunately, my roommate was jealous of me.   Rủi thay, người bạn cùng phòng ganh tỵ với tôi.
One day I went to pull out a thin English textbook I had borrowed from someone and found it ripped in two.  Một ngày kia tôi kéo trong túi ra một quyển sách giáo khoa tiếng Anh mỏng, mà tôi đã mượn của người khác, tôi thấy nó đã bị xé hai.
I was worried about how I would pay for replacing the book and started to cry.  Tôi lo lắng không biết làm sao để đền tiền quyển sách, và bắt đầu khóc.
A monk in the next room heard me sniffling and offered to help by buying another book.  Một tăng sinh khác ở phòng bên cạnh nghe tôi thút thít, đã hứa giúp đỡ bằng cách mua một quyển sách khác.
A couple of days later, my roommate confessed that he had torn up the book because he was jealous of my popularity and of how well I did in school.   Vài ngày sau đó, người bạn cùng phòng đã thú nhận rằng thầy đã xé sách của tôi vì ganh tỵ với sự nổi tiếng và học giỏi của tôi ở trường.
We cleared the air between us that evening and eventually became good friends.  Chiều hôm đó chúng tôi giải quyết mọi khúc mắc và dần trở thành bạn tốt của nhau.
Eventually, the date of my higher ordination was set.   Dần dần, ngày thọ đại giới của tôi cũng đã được định.
It would take place June 25, 1947. Đó là ngày 25 tháng 6, năm 1947.
I was very excited and happy.  Tôi rất phấn khởi và hạnh phúc.
Finally I would become a full bhikkhu, my goal at long last coming true. Cuối cùng tôi cũng sẽ được làm một vị tỳ kheo với đầy đủ giới luật, ước mơ của tôi cũng đã thành hiện thực.
Before a solemn assemblage of senior monks, I would pledge a new and deeper commitment.  Trước một hội đồng tăng già trang nghiêm, tôi sẽ thọ các giới luật mới khắt khe hơn.
Instead of being a novice monk following ten precepts, I would now agree to follow 227 precepts — the code of conduct that governs full-fledged Theravada Buddhist monks.  Thay vì là một sadi với mười giới luật, giờ tôi sẽ chấp nhận thọ 227 giới luật -những giới luật mà một tỳ kheo Phật giáo nguyên thủy phải tuân hành.
I could hardly wait.   Tôi gần như không thể chờ đợi lâu hơn.
Sadly, right from the beginning, there was a shadow over the proceedings.   Buồn thay, ngay từ ban đầu, đã có một bóng mây trong quá trình đó.
The problem was not my eligibility to become a monk, but rather the politics of the Buddhist Sangha in Ceylon.  Vấn đề không phải là tôi có đủ tư cách để trở thành một tỳ kheo không, mà là vấn đề chính trị trong hội đồng Tăng Già Phật giáo ở Ceylon.
Those politics threatened to derail the dream I had held all my life.  Những vấn đề chính trị nầy đe dọa sẽ trì hoãn giấc mơ mà tôi đã ấp ủ cả đời.