Chương 2.  Cuộc sống không nhà

Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa và không có quảng cáo.
CHAPTER TWO. The Homeless LifeChương 2.  Cuộc sống không nhà
AS I GREW OLDER, my interest in becoming a monk intensified.   Khi tôi lớn hơn, ý muốn được trở thành một người tu sĩ càng tăng lên.
Before I became a bhikkhu, I loved pretending I was a bhikkhu. Trước khi xuất gia, tôi rất thích giả bộ tôi đã là một tu sĩ.
I would wrap a piece of white cloth around myself, the way monks wrap their robes around them, and sit down under a tree in the forest. Tôi sẽ quấn quanh mình một miếng vải trắng, giống như các vị sư quấn y quanh mình, rồi ngồi xuống một gốc cây trong rừng.
I imagined that the other trees around me were people, and I preached to the crowd of silent listeners, reciting a few Pali stanzas I’d heard at the temple. Tôi tưởng tượng rằng các cây chung quanh là người, rồi thuyết cho đám đông thính giả thầm lặng đó, hay đọc tụng lại một vài đoạn kinh bằng tiếng Pali mà tôi đã nghe ở chùa.
I would also sit and pretend to be deep in “meditations,” though I had no idea what meditation was. Rồi tôi cũng ngồi xuống, giả vờ như mình đang lắng sâu trong “thiền định”, dầu lúc đó tôi chẳng biết thiền là gì.
Even then, I believed it was somehow my kamma to become a monk.   Từ thuở đó, tôi đã tin rằng nghiệp của tôi là phải trở thành người tu sĩ.
This is not to say that it was my “fate” to be a monk, for Buddhism has no such notions.  Điều đó không có nghĩa là “số kiếp” của tôi phải là như thế, vì trong Phật giáo không có những quan niệm như thế.
Rather, because of all the accumulated causes and conditions in my past, however long that may have been, I now wanted to be a Buddhist monk.  Đúng hơn, đó là vì tất cả các nhân đã tích lũy trong quá khứ, không biết là đã bao lâu rồi, khiến bây giờ tôi lại muốn trở thành một tu sĩ Phật giáo.
Perhaps I had been a monk in a previous life — not a totally successful one, because I obviously hadn’t achieved enlightenment in that life, but not a complete failure, either, because I had the good fortune to have been reborn as a human being, with another chance to better myself spiritually. Có thể tôi đã là một tu sĩ trong một kiếp trước -không được thành công lắm, vì rõ ràng tôi vẫn chưa đạt được giác ngộ trong kiếp này, nhưng cũng không hoàn toàn thất bại, vì tôi đã có duyên lành được tái sinh làm người, được có thêm cơ hội để hoàn thiện công phu tu tập của mình.
But even putting such notions aside, the impulse to ordain and that deep longing to wear the saffron robe flowered in me very early.  Dầu không phải như thế, thì sự thôi thúc được xuất gia, niềm khao khát sâu xa được mặc chiếc áo nhà tu cũng đã chớm nở trong tôi rất sớm.
By the time I was eleven years old, I had lost interest in the boyhood mischief and pranks Rambanda and I used to enjoy, but I’d also lost interest in school.   Khoảng năm mười một tuổi, tôi đã không còn thích thú gì trong những trò quậy phá và đánh nhau của đám con trai, mà tôi và Rambanda thường ưa thích, và tôi cũng không còn hứng thú trong chuyện học.
I wanted only to enter the two-and-a-half-millennium-old order of Buddhist monks in the ancient Asian tradition. Tôi chỉ muốn được gia nhập vào tăng đoàn Phật giáo, theo truyền thống Á châu cổ xưa của hơn hai ngàn năm trăm năm trước.
Stories of young boys in the time of the Buddha who had had similar aspirations to become monks captivated me. Những câu chuyện của các thiếu niên vào thời Đức Phật còn tại thế, với những ước muốn trở thành người tu tương tự như tôi, làm tôi say mê.
One such story was about a boy called Culapanthaka.  Một trong những câu chuyện như thế là về một cậu bé tên gọi là Culapanthaka.
Culapanthaka was born at the side of a road as his mother traveled to her parents’ home.   Culapanthaka được sinh ra ở ven đường, khi mẹ cậu trên đường trở về quê ngoại.
In ancient India, it was the custom for a pregnant woman to return to her ancestral home to deliver a baby, and often the rigors of the trip induced labor. Ở Ấn Độ vào thời cổ xưa, người phụ nữ có thai, theo truyền thống, phải trở về nhà cha mẹ ruột để sinh con, và thường những nhọc nhằn trong cuộc hành trình dẫn đến việc sinh con trên đường về.
Prince Siddhattha Gotama (called in Sanskrit Siddhartha Gautama), who would later become the Buddha, was born in a grove of trees near a roadway because his mother, Queen Mahamaya, was on her way to her parents’ house. Thái tử Siddhattha Gotama (gọi trong tiếng Phạn là Siddhartha Gautama), người mà sau này trở thành Đức Phật, được sanh trong một khu rừng nhỏ bên đường vì mẹ của thái tử, hoàng hậu  Mahamaya đang trên đường trở về nhà cha mẹ ruột.
Culapanthaka’s mother had two sons, both of them born in this fashion, by the side of a road.   Mẹ của Culapanthaka có hai người con trai, cả hai đều được sinh ra bằng cách đó, ở ven đường.
The first, she named Mahapanthaka — “big traveler.” The second one’s name, Culapanthaka, meant “little traveler.” Because she was extremely poor, she left the boys in the care of her parents in Rajagaha. Người  đầu tiên bà đặt tên là Mahapanthaka –“người lữ hành lớn”.   Người thứ hai tên là Culapanthaka, có nghĩa là người “lữ hành tí hon.” Vì người mẹ rất nghèo, bà để hai con trai lại cho cha mẹ bà nuôi ở Rajagaha.
Mahapanthaka often accompanied his grandfather to hear the Bud­dha preach, and that inspired him eventually to become a monk.  Mahapanthaka thường đi theo ông ngoại đến nghe Đức Phật thuyết pháp, và điều đó lôi cuốn ông dần dần trở thành một tăng sĩ.
Young Culapanthaka followed in his brother’s footsteps several years later. Vài năm sau, người em Culapanthaka cũng đi theo bước chân anh.
Mahapanthaka wanted to teach his brother Dhamma, but found him to be a poor student.   Mahapanthaka muốn dạy Pháp cho em mình, nhưng thấy cậu bé là người quá kém thông minh.
Culapanthaka could not memorize one simple stanza even in several months’ time.  Culapantakha không thể nhớ đến một câu kinh đơn giản trong mấy tháng trời.
Mahapanthaka was very disappointed and thought it was wrong for his brother to continue as a monk if he could not learn Dhamma. Mahapanthaka rất thất vọng và đã nghĩ rằng nếu em mình không thể học Pháp thì  không thể tiếp tục làm tăng sĩ.
“You should take off your monk’s robe and go home,” he told his younger brother.   “Em nên cởi bỏ y áo rồi về nhà đi”, ông bảo với em trai mình.
Culapanthaka was devastated.   Culapantakha rất buồn khổ.
He loved the monk’s life and loved being a disciple of the Buddha. Ông rất thích cuộc sống tu hành và được làm đệ tử Đức Phật.
He didn’t know what to do, but he knew he didn’t want to leave the robe. Ông không biết phải làm gì, nhưng biết rằng ông không muốn phải hoàn tục.
Not long after, Jivaka Komarabhacca, who sometimes served as the Buddha’s physician, requested that Mahapanthaka invite the Buddha and all the monks in the monastery to have a noontime meal at his house.   Không lâu sau đó, Jivaka Komarabhacca, người thỉnh thoảng làm lương y cho Đức Phật, yêu cầu Mahapanthaka thỉnh Đức Phật và tăng đoàn  ở tu viện đến dùng bữa trưa tại nhà ông.
Mahapanthaka accepted the invitation on the monks’ behalf, adding, “By tomorrow, however, Culapanthaka will no longer be at the monastery. Mahapanthaka thay mặt tăng đoàn chấp nhận lời mời, rồi nói thêm, “Đến ngày mai Culapanthaka sẽ không còn ở tu viện nữa.
I have asked him to disrobe. But I will come with the Buddha and the rest of the monks.” Tôi đã yêu cầu thầy ấy hoàn tục nhưng tôi sẽ đến cùng với Đức Phật và tăng đoàn”.
Overhearing his brother’s decisive tone, Culapanthaka grieved bitterly, and with tears in his eyes, he packed his few belongings and left the monastery.   Nghe giọng nói quyết liệt của anh mình,  Culapantakha đau buồn thảm thiết, với đôi mắt đẫm lệ, ông thu xếp vật dụng rồi rời tu viện.
But as he was walking out, the Buddha met him and asked him why he seemed so sad. He told the Buddha what had happened. Nhưng khi ông vừa đi ra, Đức Phật thấy ông và hỏi tại sao ông buồn vậy, ông kể cho Phật nghe những gì đã xảy ra.
“Come, come,” said the Buddha. “You don’t have to leave the robe and the monk’s life just because you couldn’t memorize one stanza.Đức Phật nói: “Thầy không cần phải cởi bỏ y áo, từ bỏ đời sống tu sĩ chỉ vì thầy không thể thuộc một câu kinh.
Here, I’ll teach you something that you can learn easily.”  Đây, tôi có thể chỉ cho thầy một việc mà  thầy có thể hiểu một cách dễ dàng”.
The Buddha gave him a piece of white cloth and said, “Take this cloth and sit in the sun.   Đức Phật đưa cho ông một miếng vải trắng và nói, “Hãy cầm mảnh vải này ra ngồi ngoài sân.
Put the cloth in the palm of your left hand, and rub it with your right palm, saying over and over, ‘Cleaning, cleaning, cleaning.’”  Tay trái thầy cầm mảnh vải, lau lên bàn tay mặt, lặp đi lặp lại câu ‘Chùi sạch, chùi sạch, chùi sạch’”.
Culapanthaka did exactly what the Buddha asked him to.   Culapantakha làm đúng như lời Phật dạy.
He sat in the sun, rubbing his right hand in circles over the cloth, repeating the unusual mantra the Buddha had given him as an exercise in mind­fulness. Ông ngồi dưới nắng, cầm mảnh vải lau vòng vòng trên bàn tay mặt, lặp lại câu chú bất thường mà Đức Phật đã dạy cho ông để thực hành chánh niệm.
After a while he looked down.   Sau một lúc ông nhìn lại.
The white piece of cloth had turned dark, stained by the oils in his hand. Miếng vải trắng đã trở thành đen, lem luốc bởi mồ hôi trong tay ông.
Even though he had been chanting a mantra about cleaning, he had made the cloth dirty! Mặc dầu đọc câu chú về làm sạch, nhưng ông đã làm dơ hết miếng vải!
All of a sudden, Culapanthaka realized that everything is impermanent.   Bỗng nhiên, Culapantakha chứng ngộ rằng tất cả đều vô thường.
All that he loved, all that he encountered, all that he resisted, everything without exception was as impermanent as that clean white cloth. Tất cả những gì ông ưa thích, tất cả những gì ông đã nếm trải, đã chống đối, không có gì là ngoại lệ, tất cả đều vô thường như miếng vải trắng sạch đó.
At that moment, clearly realizing the impermanence of all things, Culapanthaka became enlightened. Ngay lúc đó, Culapantakha đã trở nên giác ngộ, nhận thức rõ ràng được sự vô thường của vạn vật.
He went to the monastery, sat under a tree and, using the mysterious psychic powers of a fully awakened one, created hundreds of monks exactly like himself. Ông trở vào tu viện ngồi dưới một cội  cây và dùng năng lực tâm linh huyền bí của một người đã hoàn toàn giác ngộ, tạo ra hàng trăm tăng sĩ giống hệt như ông.
Meanwhile, the other monks of the monastery had gone with the Buddha to Jivaka’s house.   Trong lúc đó, các vị tăng khác ở tu viện đã đi với Đức Phật đến nhà Jivaka.
The Buddha did not see Culapanthaka and thus declined to eat when the lunch was served. Đức Phật không thấy Culapantakha, do đó Ngài đã từ chối thọ thực.
“What is the matter, Venerable Sir?” asked a nervous Jivaka.   “Bạch Đức Thế Tôn, có chuyện gì?”  Jivaka lo lắng hỏi.
“Is something amiss?” “Còn thiếu gì nữa chăng?”
“Are you sure that all the monks in the monastery have come here?” asked the Buddha.   Đức Phật hỏi: “Ông có chắc rằng tất cả tăng đoàn đã đến chăng?”
“Yes, Venerable Sir, I am sure they’ve all come.   “Bạch Đức Thế Tôn, con chắc rằng tất cả đã đến.
Venerable Mahapanthaka confirmed that.” Đại đức Mahapanthaka đã xác nhận điều đó”.
“Nevertheless,” the Buddha said calmly, “send somebody to the monastery and see if any monk was left behind.”   “Dầu vậy,” Đức Phật từ tốn nói, “hãy cho người trở lại tu viện xem còn có tăng sĩ nào ở lại phiá sau”.
Jivaka sent a man to the monastery.   Jivaka sai người trở lại tu viện.
The man returned very quickly, pale as a ghost. Người đó nhanh chóng trở lại mặt xanh như người chết.
“Venerable Sir, the entire monastery is full of monks!” he said.   “Bạch Đức Thế Tôn cả tu viện đầy tăng sĩ!”, ông thưa.
“Some were meditating, some sewing their robes, some cleaning the compound, some fetching water, some walking, some reciting whole discourses on the Dhamma.” “Người thì đang hành thiền, người đang vá áo, người lau chùi, người gánh nước, người kinh hành, người đọc tụng kinh pháp.”
Then the Buddha asked the man to go back to the monastery and ask for Culapanthaka.   Đức Phật bảo người kia trở lại tu viện tìm thầy Culapantakha.
He did.  Ông ta làm theo.
And when he did, all the monks — hundreds of them — said, in one voice, “I am Culapanthaka.”  Và khi ông làm thế, thì tất cả tu sĩ -hàng trăm người- trả lời, trong một giọng, “Tôi là Culapantakha.”
The man was dumbfounded.   Người đàn ông kinh hoàng.
He went back to Jivaka’s house and reported what he had witnessed.  Ông trở về nhà Jivaka, báo lại những gì ông đã chứng kiến.
Then the Buddha asked him to go back and catch one of the monks by his robe. Sau đó Đức Phật dạy ông trở lại, nắm lấy áo một vị.
“If you do that,” the Buddha said, “the other monks will disappear.”  “Nếu ngươi làm thế,” Đức Phật nói, “các tu sĩ khác sẽ biến mất.”
That was what the man did.   Người đó đã y theo lời Phật dạy.
And he brought the one named Culapanthaka back for lunch.  Và ông đã đưa vị tên là Culapantakha về để thọ thực.
When they finished eating, the Buddha asked Culapanthaka to deliver a sermon. Sau khi thọ thực, Đức Phật yêu cầu Culapantakha thuyết một bài Pháp.
His brother, Mahapanthaka, and the rest of the monks were shocked. Người anh, Mahapanthaka và các vị tăng còn lại đều ngạc nhiên.
Why would the Buddha honor such an inferior person, a no-good monk who couldn’t even memorize so much as a stanza of the teachings? Tại sao Đức Phật lại trân trọng một người yếu kém như thế, một vị tu sĩ tồi tệ đến nỗi không nhớ đến một câu kinh?
But Culapanthaka delivered a wonderful Dhamma sermon, taken directly from his own realization of impermanence.   Nhưng Culapantakha đã thuyết một bài Pháp tuyệt diệu, dựa ngay trên sự chứng nghiệm của mình về vô thường.
Everyone was astounded by the depth of his intellect.  Mọi người đều bàng hoàng trước sự hiểu biết sâu rộng của ông.
According to the story, in one of his previous lives he had been a very smart monk, but had laughed at a dull colleague who was trying with difficulty to learn a certain passage by heart.   Theo câu chuyện này, trong tiền kiếp ông đã là một vị sư rất thông minh, nhưng đã chế ngạo một huynh đệ kém thông minh, đang cố gắng với nhiều khó khăn để học thuộc lòng một đoạn kinh.
So in Culapanthaka’s next life, his kamma came to fruition: On the one hand he could not learn one stanza in four months, and on the other hand he was able to attain enlightenment and supernatural powers.  Cho nên trong kiếp kế tiếp của Culapantakha, nghiệp của ông đã trổ quả: Một mặt ông không thể học một câu kinh trong bốn tháng, mặt khác ông lại có thể đạt được giác ngộ và thần thông.
Both were the results of his own previous kamma, good and bad.  Cả hai đều là kết quả của những nghiệp trước đó, tốt và xấu.
A dual-purpose story: both inspiration and warning! Một câu chuyện với hai chủ đích: vừa sách tấn, vừa cảnh cáo!
Like Culapanthaka, I was steadfast in pursuit of my goal.    Cũng giống như Culapantakha, tôi rất kiên quyết theo đuổi mục đích của mình.
I pestered my parents about becoming a bhikkhu long enough that they gradually began to take my request more seriously, as something more than a passing whim. Tôi van nài cha mẹ tôi để được đi tu mãi, đến nỗi dần dần họ cũng coi điều yêu cầu của tôi là nghiêm chỉnh, chứ không phải là bốc đồng thoáng qua.
I was still too young to ordain fully, but I could live in a temple and train as a novice. Tôi còn rất trẻ để có thể được xuất gia ngay, nhưng tôi có thể ở trong chùa và học tập làm chú tiểu.
Many young boys did that, and many of those became monks when they were old enough.  Nhiều cậu bé đã làm như thế, và nhiều người trong số họ đã trở thành tu sĩ khi họ lớn lên.
It was considered very auspicious for a family if one of its sons entered the order.   Gia đình nào có một trong những người con trai của họ gia nhập tăng đoàn thì được coi là rất vinh dự.
When a boy ordained, all his relatives received the benefit of spiritual merit. Khi một người xuất gia, tất cả họ hàng đều được công đức tâm linh.
Even if a young man had already married when he decided to become a monk, it was no shame for him to leave his wife. Ngay chính như người thanh niên đã lập gia đình, khi anh ta quyết định xuất gia, bỏ vợ lại nhà cũng không bị khiển trách.
She, too, would acquire merit by her husband’s ordination.  Người vợ cũng được công đức bởi sự xuất gia của chồng.
So, with some reluctance, my father finally agreed to let me try temple life.    Vì thế dầu ngần ngại, cuối cùng cha tôi cũng đồng ý để tôi thử sống ở chùa.
My mother cried because she hated to see me leave home, but she saw in my determination that it was inevitable — my birth horoscope had even predicted it! And my mother was certainly not the only mother in Ceylon to give her youngest son to the religious life; because Buddhism was so pervasive in our culture, this happened all the time. Mẹ tôi khóc vì bà không muốn tôi rời xa nhà, nhưng bà thấy không thể lay chuyển quyết định của tôi -ngay chính tử vi của tôi cũng đã tuyên đoán như thế! Và mẹ tôi chắc chắn không phải là người mẹ duy nhất ở Ceylon phải đưa  đứa con trai nhỏ nhất của mình vào đời sống tôn giáo; vì Phật giáo quá phổ biến trong nền văn hoá của chúng tôi, điều đó xảy ra luôn.
My father consulted the village astrologer to determine a lucky day for me to leave home.   Cha tôi đi hỏi một vị chiêm tinh gia trong làng để chọn một ngày may mắn cho tôi rời nhà.
In those days, astrology dictated the main events of our lives. Thời đó, thuật chiêm tinh quyết định những biến cố quan trọng trong cuộc đời của chúng tôi.
People consulted the stars for deciding when to plant a crop, when to marry, when to cremate the dead, when to cut a child’s hair for the first time, when to start an important job, even when to dig the foundation for a building. Người ta xem sao để quyết định khi nào xuống giống, khi nào lập gia đình, khi nào chôn người chết, khi nào cắt tóc cho đứa trẻ lần đầu tiên, khi nào bắt đầu một công việc quan trọng, kể cả khi đào móng xây nhà.
Although astrological principles may seem contrary to the Buddha’s teaching of the kammic law of cause and effect, belief in astrology co-existed nonetheless alongside Buddhist practices, and no one thought this was a problem in the least.   Mặc dầu sự tiên đoán của thuật chiêm tinh có vẻ trái nghịch với giáo lý Phật giáo về nghiệp luật của nhân quả, niềm tin vào thuật chiêm tinh vẫn hiện hữu bên cạnh Phật giáo, và không ai nghĩ điều đó có vấn đề gì.
On the chosen day, my mother cooked some milk rice for me.   Vào ngày đã chọn, mẹ tôi nấu một ít cơm sữa cho tôi.
That was a wonderful treat, made only for very special occasions. Đó là một sự chiêu đãi đặc biệt.
When a child reads his alphabet for the first time, his mother makes milk rice.  Khi đứa trẻ học đánh vần lần đầu tiên, bà mẹ nấu cơm sữa.
 When a child goes to school for the first time, his mother makes milk rice.  Hay khi đứa trẻ lần đầu tiên đến trường, bà mẹ nấu cơm sữa.
To celebrate a birthday or the new year, people make milk rice.  Để mừng sinh nhật hay năm mới, người ta cũng nấu cơm sữa.
The first harvest of rice every year is used to make milk rice that is offered to the monks. Hàng năm, vụ mùa đầu tiên thường được dùng để nấu cơm sữa dâng cúng cho các vị sư.
And, of course, it was milk rice that the village girl Sujata offered to an emaciated Siddhattha Gotama, after he decided to give up asceticism.   Và dĩ nhiên, đó chính là cơm sữa mà cô thôn nữ Sujata đã dâng cho thái tử Siddhattha Gotama gầy yếu, sau khi Ngài quyết định từ bỏ cách tu khổ hạnh.
He accepted the refreshment. Ngài đã nhận sự cúng dường đó.
It revived him to the point that he was able to meditate strongly beneath the Bodhi tree and attain enlightenment and then teach about the Middle Way. Chén cơm sữa đã giúp Ngài hồi sức để có thể dũng mãnh toạ thiền dưới gốc cây bồ đề và đạt được giác ngộ, rồi sau đó giảng dạy về con đường trung đạo.
While I was eating the milk rice my mother had prepared for my home-leaving day, I saw that tears were beginning to roll down her cheeks and my sisters’.   Khi đang ăn chén cơm sữa mà mẹ đã nấu cho ngày rời xa nhà của tôi, tôi nhìn thấy những giọt nước mắt bắt đầu lăn trên mặt mẹ và các chị tôi.
Rambanda also was trying to keep from crying. Rambanda cũng đang kiềm giữ những giọt nước mắt.
As the time to leave approached, my father appeared, dressed in his best white sarong and shirt.   Khi thời điểm phải rời nhà đến gần, cha tôi xuất hiện, trong bộ xà rông và áo sơmi trắng tốt nhất của ông.
He told me it was time to get going. Ông bảo tôi đã đến lúc phải đi.
I put on a white sarong and shirt, too. Tôi cũng mặc vào chiếc áo sơmi và cái xà rông trắng.
By then my brother was crying openly, and suddenly it became very hard to leave.   Lúc đó thì anh tôi oà lên khóc, và bỗng nhiên tôi cảm thấy rất khó ra đi.
Mixed feelings swirled into a knot in my throat.  Những tình cảm lẫn lộn làm tôi nghẹn ngào.
I was happy at last to be going to a temple, but I felt very sad to leave my family.  Tôi rất hạnh phúc, vì cuối cùng cũng được đến ở chùa, nhưng tôi cảm thấy rất buồn vì phải xa gia đình.
With this departure I was symbolically renouncing home life to take up what is called “the homeless life,” the life of a Buddhist monk. Với sự ra đi này, tôi coi như đã từ bỏ cuộc sống gia đình để theo một cuộc sống được gọi là ‘vô gia cư’, cuộc sống của một vị tu sĩ Phật giáo.
The family gathered in front of the house to see me off.   Cả gia đình tụ ra trước nhà để tiễn tôi đi.
I knelt before my mother and touched my forehead to the sand at her feet. Tôi quỳ gối trước mặt mẹ, và chạm trán xuống đất dưới chân bà.
She stroked my head with both of her hands.   Bà vuốt đầu tôi bằng cả hai tay.
“May the Triple Gem protect you,” she murmured, her voice thick and choked.   “Nguyện cầu Tam Bảo phù hộ cho con,” bà thầm thì, giọng nói nghẹn ngào.
“May all the gods protect you. “Cầu chư thiên phù hộ con.
May you live long in good health. Cầu cho con được sống lâu sức khoẻ.
May no harm come to you.” Cầu cho con khỏi mọi tai nàn”.
And then she started sobbing.   Và rồi bà bắt đầu khóc.
I stood up and she kissed my forehead and gave me a strong hug.   Tôi đứng dậy và mẹ tôi hôn lên trán tôi, ôm chặt lấy tôi.
My father and I walked many hours along dusty roads to reach the temple that would be my new home.   Cha tôi và tôi đi bộ hàng giờ trên con đường bụi bặm để đến ngôi chùa, nơi sẽ là mái nhà mới của tôi.
We had no appointment, and my father had not told the temple I was coming. Chúng tôi không có hẹn trước, cha tôi đã không báo với nhà chùa rằng tôi sẽ đến.
The stars said it was an auspicious day for my home-leaving, and that was that. Các vì sao đã báo rằng đó là một ngày tốt để tôi rời nhà, và đúng như thế.
Late in the day we reached the town of Kosinna, in Rambukkana district.   Gần cuối ngày, chúng tôi đến thành phố Kosinna, ở quận Rambukkana.
The temple was on a coconut estate at the end of a dirt path. Ngôi chùa nằm trong một đồn điền dừa ở cuối con đường đất.
 The compound included a preaching hall, monks’ quarters, and a separate shrine room. Khuôn viên chùa bao gồm một giảng đường, khu nội viện của các tăng và một chánh điện riêng biệt.
In the open center of the compound were several chairs and lots of flowering plants, as well as beds of betel shrubs, which yield the betel leaves that the monks chewed for their mild narcotic effects. Ngoài sân có vài chiếc ghế và rất nhiều cây hoa, cũng như là các luống trầu cho ra những lá trầu mà các vị sư thường nhai  vì chất gây nghiện nhẹ của chúng.
My father presented me to the resident monk, who was a small man about sixty years old.   Cha dẫn tôi đến trước vị sư trụ trì, là một người đàn ông nhỏ thó, khoảng sáu mươi tuổi.
I would later find out that this man had been married before he ordained, and had lived in a house at the edge of the coconut estate, and that he had a grown son. Sau này tôi được biết rằng ông đã lập gia đình trước khi xuất gia, đã sống trong ngôi nhà ở cạnh vườn dừa, và có được một người con trai lớn.
My father stayed with me at the temple for about two hours; then he left.   Cha ở lại chùa với tôi khoảng hai tiếng đồng hồ; rồi ông về.
I was very tired and wanted only to sleep. Tôi rất mệt và chỉ muốn đi ngủ.
Already, my home and my childhood seemed distant. Gia đình và thời thơ ấu của tôi dường như đã xa thẳm.
The next morning, the head monk gave me a book of basic Pali, the language the Buddha spoke and the one used in Theravada Buddhist chanting.   Sáng hôm sau vị sư trưởng đưa cho tôi một quyển sách tiếng Pali căn bản, ngôn ngữ mà Đức Phật đã sử dụng và được dùng trong các kinh điển Phật giáo nguyên thủy.
He told me I would need to memorize everything in the book to prepare for my ordination, and he outlined what would be expected of me. Sư bảo rằng tôi phải thuộc lòng tất cả mọi thứ trong sách để chuẩn bị cho sự xuất gia của tôi, và sư hoạch ra những bổn phận tôi phải làm.
I and the three other boys living at the temple were required to walk around the estate collecting fallen coconuts and stacking them in various places.    Tôi và ba cậu bé khác ở chùa phải đi vòng quanh đồn điền để lượm những trái dừa rụng và đem chất chúng ở nhiều nơi.
We also had to sweep, collect firewood for cooking, haul water, wash dishes, and do laundry. Chúng tôi cũng phải quét nhà, lượm củi để nấu ăn, kéo nước, rửa chén, và giặt đồ.
Basically we were unpaid laborers — slaves, of a sort. Căn bản chúng tôi là những người lao động không công -cũng một loại nô lệ.
Our religious duties included picking flowers to be placed on the altar in the shrine room and attending devotional services every morning and evening.   Những bổn phận thuộc về tôn giáo của chúng tôi bao gồm hái hoa để chưng trên bàn thờ trong chánh điện, và dự các buổi đọc kinh mỗi sáng chiều.
The other boys cooked our meals every day.   Các cậu bé khác thì nấu ăn mỗi ngày.
My job was to go to the head monk’s former home and fetch special food prepared for him by his former wife. Công việc của tôi là đến nhà cũ của vị sư trưởng, để mang những thức ăn đặc biệt do người vợ trước của ông chuẩn bị.
Only he was allowed to eat those dishes. Chỉ có ông được quyền dùng các món này.
The three other boys who lived at the temple were all older and bigger than I was.   Ba cậu bé ở trong chùa tất cả đều lớn và to con hơn tôi.
These “temple boys” were not novice monks, as I would eventually be, but they had the opportunity to have a religious education by living at the temple and working in exchange for their room and board. Những ‘cậu bé ở chùa’ nầy không phải là các chú tiểu, như tôi sẽ trở thành sau nầy, nhưng họ được có cơ hội lãnh hội một nền giáo dục tôn giáo bằng cách sống ở chùa, và làm việc để bù cho tiền ăn ở của họ.
One of them was in charge of the betel shrubs. Một cậu phải coi sóc các luống trầu.
The other managed the kitchen. Cậu nữa quản lý nhà bếp.
The third took care of the many dogs roaming the compound. Đứa thứ ba thì trông chừng những con chó chạy rong trong khuôn viên chùa.
Generally, they did jobs that a monk was not allowed to do because of his vows, such as cooking or shopping. Thường họ làm những việc mà một vị tu sĩ không được phép làm do giới luật, thí dụ như là nấu ăn hay đi chợ.
This was to be my new life.   Đây sẽ là cuộc sống mới của tôi.
But I lived in that temple for only about three months.   Nhưng tôi chỉ sống ở chùa đó được khoảng ba tháng.
One day I was in the kitchen washing a pot.   Một ngày kia tôi đang ở trong nhà bếp rửa nồi.
Two of the other boys stood nearby having a heated argument. Hai đứa trẻ khác đứng gần đó cãi nhau dữ dội.
One boy threw a rock at the other and it hit me on the wrist. Một đứa chọi đứa kia cục đá nhưng lại trúng cườm tay tôi.
My hand swelled immediately and was very painful. Bàn tay tôi lập tức sưng lên và rất đau đớn.
I wrote my father a letter and told him what had happened.   Tôi viết cho cha một lá thư và kể cho ông nghe câu chuyện.
Several days later, he arrived to take me home.  Vài ngày sau đó, cha đến để dẫn tôi về.
“I don’t want my boy at any temple where there are violent people,” he said. Ông nói, ‘Tôi không muốn con trai tôi ở bất cứ chùa nào mà có những người bạo lực.’
He felt it was reasonable that a father might hit his son, but did not think this kind of behavior had any place in a temple.Ông cho rằng cha có thể đánh con, điều đó hợp lý, nhưng không nghĩ rằng những hành động như thế lại có chỗ ở trong chùa.
I went back home with my father. Tôi trở về nhà với cha.
My mother and sisters were overjoyed to see me again, and it was wonderful to be back with Rambanda.   Mẹ và các chị tôi rất vui mừng được gặp lại tôi, và thật tuyệt vời được trở về với Rambanda.
We all seemed to take up right where we had left off.  Tất cả chúng tôi lại tiếp tục sống như trước kia.
I spent most of my time running back and forth between my parents’ house and the house where my oldest sister lived with her husband and daughter.   Phần lớn thời gian của tôi là chạy qua chạy lại giữa nhà cha mẹ, và nhà nơi người chị cả của tôi sống với chồng chị và đứa con gái.
They told me they would love to have a boy in their house, so why didn’t I come live with them? Họ nói với tôi rằng họ rất thích có một đứa con trai trong nhà, thế thì tại sao tôi không đến sống với họ?
It was tempting.   Điều đó thật hấp dẫn.
I loved them both very much, and my niece was like a sister to me. Tôi thương cả hai rất nhiều, và cháu gái tôi cũng giống như là em tôi.
And my situation, at that point, seemed very uncertain. Hoàn cảnh của tôi, lúc đó có vẻ rất bấp bênh.
I was almost twelve and hadn’t been in school for four months.  Tôi đã gần mười hai tuổi và đã nghỉ học bốn tháng rồi.
But the desire to be a monk still burned in my heart.   Nhưng ước muốn được trở thành một tu sĩ vẫn còn cháy bỏng trong tôi.
I missed being in the robes. Tôi rất nhớ những ngày được mặc áo tu.
So I asked my father to find another temple that would take me. Vì thế tôi xin cha tìm một ngôi chùa nào khác chấp nhận tôi.
Several months later, in January 1939, my brother-in-law told my father he had heard of another temple, this one in the village of Malandeniya, looking for a boy to ordain.    Vài tháng sau, vào tháng giêng năm 1939, anh rể tôi nói với cha rằng anh có nghe về một ngôi chùa khác, ở làng Malandeniya, đang tìm một cậu bé để cho xuất gia.
It was called Sri Vijayarama, which means “prosperous and victorious.” My father and brother-in-law thought that Malandeniya was about six miles from our house, but they weren’t sure because none of us had ever been there. Chùa đó được gọi là Sri Vijayarama, có nghĩa là ‘sung túc và thắng lợi.’ Cha và anh rể nghĩ rằng Malandeniya cách nhà tôi khoảng chín kilômét, nhưng họ cũng không chắc chắn vì chưa có ai trong chúng tôi đã từng đến đó.
My second home-leaving was much like the first: my mother’s rice milk; a clean white sarong; tears and feelings of both excitement and sadness on my part.   Lần thứ hai tôi rời nhà cũng giống như lần đầu tiên: cũng cơm sữa của mẹ; xà rông trắng tinh; nước mắt và cảm giác vừa phấn khởi vừa đau buồn của tôi.
I felt happy anticipation of my future as a monk. Tôi cảm thấy hạnh phúc khi nghĩ đến tương lai được làm một tu sĩ.
At the same time, reflecting on my experience at the previous temple, I was filled with anxiety over going to live in another strange place with strange people. Đồng thời nhớ lại những kinh nghiệm của tôi ở ngôi chùa trước, lòng tôi đầy âu lo khi phải đến sống ở một nơi xa lạ, với những người xa lạ.
This time, both my father and brother-in-law would accompany me on the trip.   Lần này, cả cha và anh rể đều cùng đi với tôi trong chuyến đi này.
As we left, my mother told my brother-in-law, “Please take care of my boy. Khi chúng tôi ra đi, mẹ bảo với anh rể tôi rằng, “Hãy chăm sóc con trai mẹ.
Since you live close to that temple, bring me reports about my boy.” Vì con sống gần chùa đó, hãy báo cho mẹ biết tin tức của nó.”
Then we set off on foot, as my mother stood by the house.   Rồi chúng tôi cất bước, khi mẹ đứng bên cửa nhà.
I kept turning around to look at her, and each time, she was still standing there, farther and farther away, until I could no longer see her — and it was longer still before the tears dried on my cheeks. Tôi cứ ngoái đầu lại để nhìn bà, và mỗi lần như thế, bà vẫn còn đứng đó, xa dần xa dần, cho đến khi tôi không còn nhìn thấy mẹ nữa -và còn lâu hơn nữa những giọt nước mắt trên má tôi mới khô đi.
There was no road to follow from our village to Malandeniya.   Không có con đường nào từ làng tôi dẫn đến Malandeniya.
We walked along a footpath that crossed rice paddies, small creeks, and rubber tree plantations.  Chúng tôi phải đi dọc theo những lối đi băng qua ruộng lúa, qua các dòng suối nhỏ và các đồn điền cao su.
Every once in a while, we passed through other small villages. Thỉnh thoảng, chúng tôi đi qua những ngôi làng nhỏ khác.
Each time we asked directions to Malandeniya, someone would send us a little farther along the way.  Mỗi lần như thế, chúng tôi lại hỏi đường đến Malandeniya, người ta lại bảo chúng tôi đi xa thêm chút nữa.
Finally we approached a temple compound that was surrounded by barbed wire.   Cuối cùng thì chúng tôi cũng đến được một ngôi chùa có dây thép gai rào quanh.
We later learned that this was to prevent the neighbors’ cattle from coming in and eating the small coconut trees on the grounds. Sau này chúng tôi biết rằng người ta làm vậy để không cho trâu bò trong xóm vào chùa ăn những cây dừa non trên mặt đất.
At the gate, strips of bamboo covered the wire so that it didn’t rip people’s sarongs as they stepped through. Ở cổng, có một hàng rào tre, che dây thép gai để chúng không làm vướng xà rông khi người ta bước qua đó.
When we walked in, we were greeted first by a pack of barking dogs, then by a few boys, and eventually by the head monk, a man of medium height, with sharp eyes and a very long nose.   Khi chúng tôi bước vào, một đàn chó ùa ra sủa như để chào đón chúng tôi, sau đó là một vài cậu bé, và cuối cùng là vị trụ trì, một người có tầm cao trung bình, với đôi mắt sáng và một chiếc mũi dài.
He smiled, showing teeth stained dark by betel nuts. Ông cười, để lộ hàm răng bợn đen vì trầu cau.
My father, my brother-in-law, and I immediately knelt in the dirt and bowed three times.   Cha, anh rể và tôi lập tức quỳ xuống dưới đất và lễ bái ba lần.
The monk motioned us inside the temple and pointed to mats on the floor where we could sit. Nhà sư ra dấu cho chúng tôi đi vào bên trong chùa và chỉ chiếc chiếu trên sàn nhà nơi chúng tôi có thể ngồi xuống.
The monk’s name was Venerable Kiribatkumbure Sonuttara Maha­thera.   Danh xưng của Sư là Kiribatkumbure Sonuttara Mahathera.
The title Mahathera, “great elder,” signified that he had been a bhikkhu for at least thirty-eight years. Mahathera, ‘trưởng lão,’ hàm ý rằng Sư đã là một vị tỳ kheo ít nhất ba mươi tám năm.
He was then almost sixty years old and seemed very friendly; he smiled often. Giờ Sư đã gần sáu mươi tuổi và có vẻ rất thân thiện; nụ cười thường ở trên môi.
My father introduced me to him and told him that I would like to live at the temple and ordain.   Cha giới thiệu về tôi và thưa với Sư rằng tôi muốn đến sống ở chùa và xuất gia.
The monk looked me up and down, then nodded. Nhà sư nhìn tôi từ đầu đến chân, rồi gật đầu.
It was that simple.   Thật đơn giản.
I had been accepted.  Tôi đã được chấp nhận.
My father and brother-in-law stayed about an hour, chatting with the monk, and then left.   Cha và anh rể tôi nán lại khoảng một tiếng đồng hồ tiếp chuyện với Sư rồi cáo từ.
The moment they disappeared from sight, I felt a great wave of loneliness wash over me.  Ngay khi họ vừa đi khỏi, tôi cảm thấy một làn sóng cô đơn phủ trùm lấy tôi.
I longed to run after them and tell them I had changed my mind, that I wanted to go home. Tôi muốn chạy theo họ và bảo rằng tôi đã thay đổi ý định, rằng tôi muốn về nhà.
I started to cry, and I couldn’t stop for hours.   Tôi bắt đầu khóc, và không thể dừng lại sau hàng giờ.
Venerable Sonuttara consoled me, saying that at the monastery I would have a very good home and I would learn Dhamma from very good teachers.   Sư Sonuttara an ủi tôi, bảo rằng ở chùa, tôi sẽ có được một mái ấm, tôi sẽ được học Pháp từ các vị thầy uyên thâm.
Then he gave me a worn mat and a dirty pillow to spread on the concrete floor for my bed.  Rồi Sư đưa cho tôi một manh chiếu cũ và một cái gối dơ để trải trên nền nhà cứng làm giường.
The shrine room contained a wooden platform raised on pillars four feet high.   Chánh điện gồm có một sàn gỗ dựng trên bốn cây cột cao khoảng hơn một thước.
Its centerpiece was a very old, very ugly Buddha statue made of clay. Giữa sàn là một tượng Phật bằng đất sét cũ kỹ và xấu xí.
That Buddha, I remember, had terrible, mean-looking eyes. It was nothing like the serene statues seen in most Buddhist temples.Tôi nhớ tượng Phật đó có đôi mắt nhìn dữ tợn, ghê khiếp, không giống chút nào với những tượng thanh thoát thường thấy ở hầu hết các chùa.
Evidently whoever sculpted it had not been schooled in the special qualities of the Buddha that are supposed to be depicted in statues of him. Rõ ràng là người nặn tượng chưa từng học qua về những phẩm chất của Đức Phật, mà họ phải biểu hiện trong các bức tượng của Ngài.
On one side of the scowling Buddha was a picture of blue-skinned Vishnu, one of the chief Hindu deities.   Ở một bên tượng Phật dữ tợn đó là hình của vị thần da xanh Vishnu, một trong những vị thần lớn của Ấn Độ giáo.
On the other side was a portrait of Huniyam Devata, a god revered even today by some Sinhalese for his viciousness. Ở bên kia là hình của Humiyam Devata, một vị hung thần mà cho đến ngày nay vẫn còn một số người Sinhala tôn thờ.
Some people say prayers in front of this deity to invoke its power against their enemies.  Người ta cầu nguyện vị thần này để nhờ uy lực của thần chống lại kẻ thù của họ.
Vishnu and Huniyam were strange choices for the altar of a Buddhist temple, and the cumulative effect of these three statues was unsettling indeed.  Vishnu và Huniyam có mặt trên bàn thờ của một ngôi chùa Phật giáo, là một sự chọn lựa lạ lùng, nhìn chung ba hình ảnh nầy thật  đối chọi nhau.
In a separate building, about twenty feet from the shrine room, were three rooms, all of them dirty and dingy: the head monk’s sleeping quarters, a guest room for visiting monks, and a storeroom.   Trong một gian nhà khác, cách chánh điện khoảng sáu thước, có ba phòng, tất cả đều dơ bẩn, u ám:  đó là chỗ ngủ của sư trưởng, một phòng khách dành cho các sư vãng lai, và một căn phòng chứa đồ.
The kitchen was reached by way of an open-air corridor.  Bên ngoài có một hành lang, nhỏ dẫn đến nhà bếp.
There was a small area for eating, also very dirty, and a wood cookstove with three stones on top, where pots could be placed over the fire.  Có một khoảng diện tích hẹp là góc ăn uống, cũng rất dơ bẩn, và một bếp lò bằng gỗ với ba hòn gạch để lên trên, nơi người ta có thể đặt những chiếc nồi lên đó nấu.
Behind the kitchen was an outhouse exclusively for the use of the head monk.   Phía sau nhà bếp là căn nhà vệ sinh, chỉ dành riêng cho sư trưởng sử dụng.
We boys were told to relieve ourselves in an open area at the back of the temple compound. Mấy đứa trẻ chúng tôi được bảo phải giải tỏa ngoài đồng trống, phía sau khuôn viên chùa.
And whenever we did so, the neighbors’ pigs would come and clean up after us. Và khi nào chúng tôi làm việc đó, là mấy con heo hàng xóm sẽ đến và ủi sạch cho chúng tôi.
Just as in the first temple, I had many duties assigned to me.   Cũng giống như ở ngôi chùa đầu tiên, tôi cũng có rất nhiều bổn phận phải làm.
I was to split firewood for cooking, bring water from the well, sweep the grounds, pick flowers for the altar, cook, wash dishes, and feed the dozen dogs and cats that roamed the temple compound.  Tôi phải bửa củi nấu ăn, gánh nước từ giếng lên, quét sân, hái hoa chưng bàn Phật, nấu ăn, rửa chén, và cho hơn cả chục chó mèo chạy rông trong chùa ăn.
Between chores I was supposed to be memorizing Sanskrit stanzas from books called Sataka, which literally means “one hundred” but generally refers to “one hundred verses composed in praise of the Buddha.” When we memorized all of one book, we moved on to another.   Bên cạnh những công việc này tôi còn phải học thuộc lòng những bài kinh tiếng Phạn từ các sách gọi là Sataka, nghĩa đen là “một trăm” nhưng thường ám chỉ “một trăm câu thơ tán thán Đức Phật.” Khi thuộc lòng hết một quyển sách, chúng tôi sang qua quyển khác.
One of the Sataka books explains the hundred and eight names of the Buddha, another presents the nine admirable qualities of the Buddha, and so on. Một trong những quyển sách Sataka giải thích về một trăm lẻ tám danh hiệu của Đức Phật, quyển khác lại giới thiệu về chín phẩm chất đáng ngưỡng mộ của Đức Phật, vân vân.
The purpose of forcing young boys to memorize those stanzas was threefold: to teach us correct Sanskrit pronunciation; to introduce us to the qualities of the Buddha; and most importantly, I think, to arouse faith and devotion in our young minds.   Mục đích của việc bắt mấy đứa trẻ chúng tôi học thuộc những bài kinh nầy là vì ba việc: để dạy chúng tôi phát âm tiếng Phạn đúng; để giới thiệu với chúng tôi về những phẩm chất của Đức Phật; và quan trọng hơn cả, theo tôi, là để phát khởi sự tín tâm, thành ý trong những đầu óc non trẻ của chúng tôi.
Each evening, as we recited our day’s memorizations, Venerable Sonuttara would turn the kerosene lamp very low so that I couldn’t cheat by reading my texts.   Mỗi chiều, khi chúng tôi phải trả bài học thuộc lòng trong ngày, Sư Sonuttara sẽ vặn nhỏ ngọn đèn dầu xuống để chúng tôi không thể ăn gian bằng cách đọc từ trong sách ra.
If I made mistakes or hadn’t memorized enough verses, he would get angry and slap me. Nếu tôi sai hay không thuộc đủ các bài kinh, Sư sẽ nổi giận và đánh tôi.
His slaps were more like “teaching aids,” not quite the same as the violence that made me want to leave the first temple. Những cái đánh của Sư thì giống như ‘dụng cụ hỗ trợ học tập’, không hoàn toàn giống như sự bạo lực, đã khiến tôi phải rời ngôi chùa đầu tiên.
Usually, though, I did well at the recitations.   Tuy nhiên, thường thì tôi học khá thuộc bài.
I seemed to be a quick learner, and my teacher was pleased. Tôi có vẻ là người học mau hiểu biết, và thầy tôi rất vừa lòng.
Within three months, he announced that I had progressed well and was ready for novice ordination. Trong ba tháng, Sư đã tuyên bố rằng tôi tiến bộ nhiều, và đã sẵn sàng để được làm lễ thọ giới Sadi.
Venerable Sonuttara consulted an almanac to choose an auspicious day and time for the ceremony.   Sư Sonuttara cũng xem lịch để chọn một ngày giờ tốt cho buổi lễ.
Then he sent word to my parents and invited twenty monks from other temples in the district. Rồi ông gửi lời mời cha mẹ tôi và khoảng hai mươi tăng sĩ từ các chùa khác trong vùng.
The oldest monk in the district, Venerable Alagoda Sumanatissa Nayaka Mahathera, would act as preceptor and administer my vows. Vị sư trưởng lão nhất trong vùng, Sư Alagoda Sumanatissa Nayaka Mahathera, sẽ đứng ra chủ lễ và truyền giới cho tôi.
The day before the ceremony, the temple was a flurry of activity as guests arrived and villagers from Malandeniya prepared food for the visiting monks.  Ngày hôm trước buổi lễ, cả chùa bận rộn với các sinh hoạt khi các vị khách lần lượt đến, và dân làng ở Malandeniya chuẩn bị thức ăn cho các khách tăng.
Many of my relatives came for the big day, including my father, brother-in-law, and Rambanda, my dear brother.   Rất nhiều bà con của tôi cũng đến trong ngày trọng đại đó, kể cả cha, anh rể, và Rambanda, người anh trai thân thiết của tôi.
My mother could not travel that far because of her back injury. Mẹ tôi không thể đi xa như thế vì đau lưng.
She was heartbroken she couldn’t be there, my father told me, and I was very sad, too. Bà rất đau khổ vì không thể có mặt ở đây, cha đã nói với tôi như thế, và tôi cũng rất buồn.
At ten o’clock in the morning, everyone gathered on a ten-by-forty-foot porch of the monks’ residence.   Vào lúc mười giờ sáng, tất cả mọi người đều tụ lại trước hiên của khu nội viện tăng.
Normally an ordination ceremony would have been held in the shrine room, but because so many guests were there, my teacher decided the ceremony should be in the bigger space. Thông thường lễ xuất gia sẽ được tổ chức trong chánh điện, nhưng vì có quá nhiều khách dự, thầy tôi quyết định làm lễ ở một nơi rộng rãi hơn.
I wore a clean white shirt and sarong.   Tôi mặc áo chemise và xà rông trắng.
My father walked with me toward the assembled monks, who were sitting on the floor next to a makeshift altar, facing the crowd. Cha cùng với tôi tiến đến chỗ quý sư đang ngồi trên sàn nhà cạnh bên một bàn thờ vừa được dựng lên, đối mặt với đám đông.
I knelt before the senior monk, Venerable Sumanatissa, and bowed three times.   Tôi quỳ xuống trước vị lão sư, Sumanatissa, và đảnh lễ Sư ba lần.
He told me to seek permission from my father to enter the homeless life of a mendicant.  Sư bảo tôi xin phép cha để được bước vào cuộc sống không nhà của người tu.
So I knelt in front of my father and repeated the ritual of three bows, each time touching my forehead to the floor at his feet to express respect. Vì thế tôi quỳ xuống trước mặt cha và lập lại nghi lễ vái lạy ba lần, mỗi lần đều để trán chạm xuống nền nhà ngay chỗ chân cha, để bày tỏ lòng kính trọng.
I remember my father’s solemn face looking down at me. Tôi vẫn còn nhớ gương mặt nghiêm trang của cha khi nhìn xuống tôi.
When I returned to the monks, Venerable Sumanatissa cut a few strands of my hair with a pair of scissors and told me to repeat after him: “Hair on the head, hair on the body, nails, teeth, skin.” The parts of the body were to be my first subject of meditation.   Khi tôi quay trở lại phía các sư, Sư Sumanatissa lấy kéo cắt một vài lọng tóc của tôi, và dạy tôi lặp lại theo Sư: “Tóc trên đầu, lông trên thân, móng tay chân, răng, da.” Các bộ phận thân thể là những đối tượng thiền quán đầu tiên của tôi.
It is a traditional assignment given to all novices, reflecting the Buddha’s First Foundation of Mindfulness, the physical form.  Đây là lời chỉ giáo truyền thống dành cho tất cả những ai vừa xuất gia, phản ảnh lãnh vực đầu tiên trong Tứ niệm xứ của Đức Phật, đó là thân vật chất.
In one of his key discourses, the Mahasatipatthana Sutta, the Discourse on the Four Foundations of Mindfulness, the Buddha laid out four subjects toward which we should direct attention: our body, our feelings and emotions, our consciousness itself, and the mental objects of consciousness.   Trong kinh Mahasatipatthana, bài kinh về Tứ Niệm Xứ, một trong những bài kinh chánh yếu của Đức Phật, đã chỉ bày cho chúng ta bốn lãnh vực mà ta cần chú tâm thẳng đến: thân, thọ, tâm và đối tượng của tâm.
If we really look at those four things with total, undivided, and clear attention, we begin to see that they’re all in flux all the time.   Nếu thật sự quán sát bốn lãnh vực nầy với sự chú tâm hoàn toàn, không xao lãng, và rõ ràng, chúng ta bắt đầu thấy rằng chúng luôn biến đổi với thời gian.
They move and flow, changing from one moment to the next, leaving no possibility to cling to any one moment’s experience. Chúng chuyển biến, thay đổi từ phút này qua phút khác, khiến ta không thể bám vào khoảng khắc của chúng.
Contemplating those four constantly fluctuating objects, we see the impermanence of everything manifest in our own being. Quán tưởng về bốn đối tượng không ngừng chuyển đổi nầy, ta sẽ thấy sự vô thường của vạn vật thể hiện trong chính sự hiện hữu của chúng ta.
Moreover, we see that there’s no difference between ourselves and others.   Hơn thế nữa, chúng ta sẽ thấy rằng không có sự khác biệt giữa chúng ta và tha nhân.
We are, each and every one of us, a conglomeration of body, feelings, consciousness, and mental objects. Mỗi người và tất cả chúng ta, là một tổng thể của thân, thọ, tâm và pháp.
Understanding this, we become more magnanimous with others. Hiểu được như thế, chúng ta sẽ trở nên đồng cảm với người khác.
Jealousy and separateness fade, and are replaced by growing compassion and loving-friendliness. Lòng ganh tỵ và chia rẽ sẽ tan dần, và được thay thế bằng lòng bi mẫn và tâm từ bi.
But not for a twelve-year-old boy in the midst of his novice ­ordination — all of that, of course, is still a distant goal on the day a novice monk receives his first subject of meditation.   Nhưng đó không phải là điều dành cho một đứa trẻ mười hai tuổi đang trong buổi lễ xuất gia của mình –tất cả những điều đó, vẫn còn là một mục đích xa vời trong ngày mà chú sadi nhận chủ đề thiền quán đầu tiên của mình.
The older bhikkhus might equally well instruct a novice to work with any of the other four foundations of mindfulness, but they always choose the body because it is very easy, even for the beginner, to perceive.  Các vị trưởng lão cũng có thể hướng dẫn cho các chú sadi đến bất cứ lãnh vực nào của tứ niệm xứ, nhưng họ luôn chọn thân, vì lãnh vực  đó rất dễ, ngay chính người sơ cơ cũng có thể cảm nhận.
The body is, so to speak, right there, in all its lust-producing, pain-creating, pride-swelling physicality. Thân thì, có thể nói là ở ngay đây, với tất cả những ham muốn, đau khổ, kiêu mạn phát khởi ngay nơi thân.
And as I knelt before my preceptor, I had only the dimmest idea of what I would later learn about that first foundation of mindfulness.  Nhưng khi quỳ gối trước thầy tôi,  tôi hoàn toàn mù mịt về những gì tôi sẽ tu tập sau nầy, về niệm xứ đầu tiên nầy.
The senior monk dropped the locks of my hair into my open palm.   Vị lão sư bỏ mấy lọng tóc vào lòng bàn tay tôi.
That was a signal for a junior monk to come forward and lead me out to have the rest of my head shaved. Đó là dấu hiệu để một vị tăng trẻ bước đến, dẫn tôi ra ngoài để cạo hết phần tóc còn lại trên đầu tôi.
The head-shaving ritual, symbolic of a monk’s giving up material and worldly attachments, is always done in private, away from the audience of laypeople.   Nghi lễ cạo tóc, biểu tượng của một người tu sĩ từ bỏ những bám víu vật chất thế gian, lúc nào cũng được diễn ra ở nơi kín đáo, tránh xa sự chứng kiến của các cư sĩ.
Once my head was bare, I was sent to take a bath in the temple well, behind the kitchen. Khi đầu tôi đã được cạo sạch trơn, tôi đi tắm ở giếng chùa, sau nhà bếp.
Then I dressed in white clothes again. Sau đó tôi mặc lại bộ quần áo trắng.
When I reentered the hall, I was carrying a folded bundle on top of my head — my monk’s robes.   Khi quay lại phòng họp, tôi đội trên đầu một bọc vải đã được xếp lại -đó là y của tôi.
I knelt before my preceptor. Tôi quỳ trước thầy tôi.
Chanting in Pali, I asked the Venerable to receive the set of robes I had, and to ordain me as a novice monk so that I would be able to end all suffering and attain nibbana (nirvana, in Pali).  Tụng bằng tiếng Pali, tôi thỉnh cầu Sư chấp nhận bộ y mà tôi có, và truyền giới cho tôi làm sadi, để tôi có thể chấm dứt mọi khổ đau và đạt được Niết Bàn.
Again, three bows.   Tôi lạy ba lạy nữa.
Then Venerable Sumanatissa administered the three refuges and the ten precepts that were to become the moral basis of my new life, chanting them in Pali with me repeating after him.   Rồi Sư Sumanatissa làm lễ quy y tam bảo và truyền mười giới là những đạo đức căn bản trong cuộc sống mới của tôi.  Sư đọc tụng bằng tiếng Pali và tôi lập lại theo Sư:
I go to the Buddha for refuge.  Con nguyện quy y Phật.
I go to the Dhamma for refuge.   Con nguyện quy y Pháp.
I go to the Sangha for refuge.   Con nguyện quy y Tăng.
(The three refuges were chanted three times each.)   (Được tụng ba lần)
I undertake the precept to abstain from killing.  Con xin giữ giới không sát hại.
I undertake the precept to abstain from stealing.   Con xin giữ giới không trộm cắp.
I undertake the precept to abstain from sexual activities.   Con xin giữ giới không tà dâm.
I undertake the precept to abstain from lying.   Con xin giữ giới không nói dối.
I undertake the precept to abstain from taking intoxicating drinks and drugs, which cause infatuation and heedlessness.   Con xin giữ giới không uống rượu và các chất gây nghiện.
I undertake the precept to abstain from eating after noon.   Con xin giữ giới không ăn sái giờ.
I undertake the precept to abstain from dancing, singing, playing musical instruments, and visiting theatrical shows.   Con xin giữ giới tránh xa sự múa hát, chơi các nhạc cụ, xem múa hát.
I undertake the precept to abstain from wearing garlands, perfumes, unguents, cosmetics, and beautifying the body.   Con xin giữ giới không đeo tràng hoa, thoa  nước thơm, trang điểm, làm đẹp thân thể.
I undertake the precept to abstain from using luxurious chairs and beds.   Con xin giữ giới tránh xa chỗ nằm ngồi quá cao sang và đẹp đẽ.
I undertake the precept to abstain from accepting gold and silver.   Con xin giữ giới không nhận vàng bạc.
After reciting these things, I made the formal request of my preceptor that he share the merits I had earned by this act of ordaining: “Venerable Sir, please rejoice in all the merits I have acquired and allow me to rejoice in all the merits that you have acquired.”   Sau khi đọc tụng những lời này, tôi thỉnh cầu thầy tôi hãy chia sẻ công đức mà tôi đã có được do xuất gia: “Bạch Sư, xin hãy hoan hỷ chấp nhận mọi công đức mà con đã có được, và cho phép con được chia sẻ những công đức của Sư.”
Then I made three more bows to him and bowed to all the other monks as well.   Rồi tôi đảnh lễ Sư ba lần, cũng như đảnh lễ tất cả các vị tăng sĩ khác.
Finally, Venerable Sumanatissa announced my new name: Gunaratana, “Jewel of Virtue.”   Cuối cùng, Sư Sumanatissa ban cho tôi danh hiệu mới: Gunaratana, “Báu vật của Giới hạnh.”
Now I was a novice.   Giờ thì tôi đã là một Sadi.
I was given a little cushion and told to sit among the other monks, though not too close! I sat, and a small parade of laypeople came forward, each one bowing and laying a small present before me.   Tôi được cho một cái gối nhỏ và được ngồi giữa các tăng sĩ khác, dầu không được quá gần! Tôi ngồi xuống và một nhóm nhỏ các cư sĩ bước đến, mỗi người vái chào và đặt một món quà nhỏ trước mặt tôi.
There were towels, bars of soap, an umbrella — practical items useful to me in my new, simplified life. Có khăn lông, xà phòng, một cây dù -những đồ vật thật hữu dụng cho tôi trong cuộc đời mới, đơn giản này.
The day concluded with a sumptuous meal.   Ngày lễ được kết thúc với một bữa ăn thịnh soạn.
I ate with the other monks, sitting on the floor. Tôi cùng dùng bữa với các vị sư khác, ngồi trên sàn nhà.
The food offered at temples by laypeople is expressly for the monastics, and so I had never before been allowed to legitimately partake of it.  Thực phẩm do các cư sĩ cúng dường ở chùa chỉ dành cho các tu sĩ, vì thế trước đó tôi chưa bao giờ được phép nếm qua.
It was delicious.  Thiệt là ngon.
That day was truly a high point in my life.   Ngày hôm đó thực sự là một cao điểm trong cuộc đời tôi.
Everything was perfect, except for one thing: My beloved mother was not there. Tất cả mọi thứ đều tuyệt vời, chỉ trừ một việc: người mẹ thương yêu của tôi vắng mặt.
I missed her very much.  Tôi nhớ mẹ rất nhiều.
Two weeks later, I went to see her.   Hai tuần sau đó tôi được về thăm mẹ.
She was overjoyed to see her youngest son, now with a shaved head, wearing the burnt-orange robes of an ordained bhikkhu. Bà quá đỗi vui mừng được gặp lại đứa con trai út của mình, giờ với chiếc đầu cạo bóng, mình mặc bộ y màu vàng của một vị tu sĩ xuất gia.
She spread a clean towel at my feet and, sinking painfully to her knees, prostrated before me.   Bà trải một cái khăn sạch dưới chân tôi, và đau đớn quỳ xuống để vái chào tôi.
Three times her forehead touched the towel.  Cả ba lần, trán bà đều chạm xuống khăn.
It was a reversal of the day I left home, when I had bowed to her.   Ngược lại với ngày tôi rời nhà ra đi, khi ấy tôi đã lạy chào mẹ.
Now she was paying her respects to me. Giờ mẹ lại bày tỏ lòng kính trọng đối với tôi.
It was a powerful and moving moment for both of us. Thật là một giây phút xúc động mãnh liệt cho cả hai chúng tôi.
“My dear little monk,” said my mother, tears in her eyes, “you should never disrobe.   “Chú tiểu đáng yêu của mẹ,” mẹ nói, mắt rướm lệ, “con không bao giờ được hoàn tục.
The monk’s life is the best for you. Cuộc đời tu sĩ là tốt nhất cho con.
It is the life of freedom. Đó là một cuộc sống giải thoát.
Never think of disrobing.” Đừng bao giờ nghĩ đến việc bỏ tu.”
From that day onward, whenever I visited home, Mother repeated this ritual and this request of me, always saying, “Never disrobe, my son.”   Kể từ ngày hôm đó, mỗi lần tôi về thăm nhà, mẹ tôi đều lặp lại nghi lễ và lời căn dặn đó, lúc nào cũng nói, “Con trai, đừng bao giờ bỏ tu.”
After my ordination, life at the temple changed, yet it didn’t.   Sau lễ xuất gia, cuộc sống ở chùa lý ra phải thay đổi, vậy mà không phải thế.
There were still religious texts to memorize, chores to perform, punishments to endure.  Vẫn còn những bài kinh phải học, các công việc phải làm, những hình phạt phải hứng chịu.
Meals were certainly different, though. Tuy nhiên các bữa ăn thì khác.
Now, according to the precepts, I could not eat solid food after midday. Giờ,  theo giới luật, tôi không được ăn sau giờ ngọ.
Basically, we had one large meal a day.  Căn bản là chúng tôi có một bữa ăn chính trong ngày.
It was collected by going on alms round in the village. Bữa ăn có được bằng việc đi khất thực quanh làng.
As the resident novice, that was my job. Là người vừa mới xuất gia, đó là nhiệm vụ của tôi.
Every day, after my morning chores, I left the temple at about 9:30 A.M.  Mỗi ngày, sau khi xong việc buổi sáng, tôi rời chùa khoảng chín giờ ba mươi sáng.
 A large metal bowl, about the size of a soup tureen, hung from a wide cloth band around my neck, its mouth covered by a cotton cloth. Một bình bằng đồng to, khoảng cỡ một nồi xúp, được máng vào một miếng vải to bản, treo quanh cổ tôi, miệng bình được đậy lại bằng vải cotton.
My duty was to collect food to feed both the head monk and myself from each of the sixty or so houses in the village.   Bổn phận của tôi là thọ nhận thức ăn cho cả hai, sư trưởng và tôi, từ mỗi nhà trong sáu mươi hay khoảng đó nhà trong làng.
Villagers stood in front of their huts, pots of rice or dahl or vegetables or sweet cakes in hand. Dân làng đứng trước cửa nhà họ, với những tô cơm hay rau hay bánh ngọt trong tay.
As I walked slowly by, maintaining silence and avoiding eye contact, they would place a spoonful of their offering in my bowl. Khi tôi chậm rãi bước qua, trong im lặng và tránh giao tiếp bằng mắt, họ sẽ đặt một muỗng đầy thực phẩm cúng dường của họ vào bình bát của tôi.
The alms round is still practiced today in villages all over Asia.   Ngày nay, việc khất thực vẫn còn được thực hành ở các làng khắp Á châu.
It’s a beautiful sight — long lines of monks walking silently, barefoot, and stopping in front of laypeople’s homes. Thật là một cảnh tượng đẹp đẽ - một hàng dài các tu sĩ đi trong im lặng, chân trần và dừng lại trước nhà của các cư sĩ.
The devout villagers bow as they place food in the alms bowls. Dân làng thành kính chấp tay vái chào khi  đặt thức ăn vào bình bát.
Not a word is exchanged.  Không một lời trao đổi.
This practice is an ancient tradition bringing to life the interdependent relationship of monastics and laypeople.   Sự thực hành này là một truyền thống lâu đời được áp dụng để tạo ra sự liên hệ tương quan giữa người tu và cư sĩ.
The bhikkhus, who are not allowed by their vows to cook food, receive sustenance from the laypeople. Các tu sĩ, những người vì giữ giới không nấu ăn, tiếp nhận sự nuôi dưỡng từ các cư sĩ.
The laypeople, by offering food to the bhikkhus, receive spiritual merit and support the continuation of the Buddha’s way. Người cư sĩ, bằng cách cúng dường thực phẩm cho người tu, được công đức tâm linh và hỗ trợ sự tiếp nối con đường của Đức Phật.
But for me, alms round was always stressful.   Nhưng đối với tôi, việc đi khất thực bao giờ cũng đầy căng thẳng.
I had to visit all sixty homes and return to the temple precisely at 11 A.M.  Tôi phải đến tất cả sáu mươi nhà và trở về chùa đúng mười một giờ sáng.
 If I was just five minutes late, my teacher would refuse to eat. Nếu tôi chỉ trễ năm phút, thầy tôi cũng nhất quyết không ăn.
Monastic rules specified that our meal must be completed before noon, and my teacher didn’t want to eat hurriedly. Giới luật đặt ra cho người tu là phải xong bữa trước ngọ, và thầy tôi không muốn phải ăn một cách hối hả.
So I rushed through the village, not daring to miss even one house, because that would deprive its occupants of the merit of offering alms food, and then they would complain to my teacher and I’d receive a reprimand. Vì thế tôi phải nhanh chân đi qua làng, không dám thiếu sót nhà nào, vì như thế sẽ khiến cho người ở nhà đó không được có công đức cúng dường thực phẩm, rồi họ sẽ than phiền với thầy tôi và tôi sẽ bị quở phạt.
There were many dogs in that village, and they were hungry.   Trong làng có rất nhiều chó, chúng cũng đói.
When they saw a small boy carrying a bowl of steaming, fragrant food, they became aggressive. Khi nhìn thấy một đứa trẻ mang bình bát đầy thức ăn nóng sốt, thơm lừng, chúng trở nên rất hung tợn.
I tried to fend them off with the umbrella I carried to protect me against the blazing sun. Tôi cố gắng xua đuổi chúng bằng cây dù tôi mang theo để bảo vệ tôi khỏi ánh nắng mặt trời thiêu đốt.
But I was never very successful. Nhưng tôi khó mà thành công.
Sometimes I tried to run away from the dogs, but with a heavy bowl hanging around my neck, that wasn’t easy.   Đôi khi tôi cố gắng chạy trốn lũ chó, nhưng với chiếc bình bát nặng treo quanh cổ, điều đó không dễ dàng.
Invariably I would fall, spilling food in the dust. Không thể tránh được tôi bị vấp ngã, đổ thức ăn ra đất.
The dogs would rush me, snarling and snapping.  Lũ chó sẽ rượt theo tôi, gầm gừ cắn táp.
Many times I returned to the temple with bleeding legs and a half-empty alms bowl.  Nhiều khi tôi trở về chùa với đôi chân chảy máu và một bình bát chỉ còn một nửa đồ ăn.
Some of the villagers seemed to feel sorry for me.   Vài người dân làng hình như cảm thấy tội nghiệp cho tôi.
Whenever a particular dog had bitten me, they would come to the temple a few days later and announce that that dog had “died.” Bất cứ khi nào có một con chó nào đó cắn tôi, vài ngày sau họ sẽ đến chùa và tuyên bố rằng con chó đó đã “chết”.
This outcome was not at all something I would have wished for, but it was nonetheless what happened. Kết cục như thế không phải là điều tôi muốn xảy ra chút nào, nhưng dù sao nó cũng đã xảy ra.
Every day after lunch, I helped the two temple boys clean the kitchen, then I left for a two-mile walk to a temple in the next village, where the head monk would drill me in Pali lessons.   Mỗi ngày sau bữa ăn, tôi phụ hai cậu bé ở chùa dọn dẹp nhà bếp, rồi tôi phải đi bộ gần ba cây số để đến một ngôi chùa ở làng kế bên, nơi vị trụ trì ở đó sẽ dạy tiếng Pali cho tôi.
I was able to memorize the verses easily, so this monk liked me very much. Tôi có thể học thuộc kinh một cách dễ dàng, vì thế vị thầy này rất thích tôi.
Then, after my lessons, I would rush back to my temple for evening chores and devotions, a ritual of reciting the qualities of the Buddha, Dhamma, and Sangha. Rồi sau buổi học, tôi lại nhanh chóng trở về chùa của tôi, để làm các công việc trong chùa và công phu chiều, một nghi lễ tán tụng các phẩm chất của Phật, Pháp, và Tăng.
After that service, we had tea and I studied some more.   Sau buổi lễ, chúng tôi dùng trà và tôi phải học tiếp nữa.
We were usually in bed by 9:30 P.M. Thường chúng tôi đi ngủ lúc chín giờ ba mươi tối.
 The wake-up gong sounded at four o’clock the next morning. Chuông đánh thức sẽ nổi lên lúc bốn giờ sáng hôm sau.
Like my father, Venerable Sonuttara had a temper.   Giống như cha tôi, Sư Sonuttara rất nóng tính.
He used abusive language to insult me and the temple boys. Sư dùng ngôn ngữ không tế nhị để chửi rủa tôi và mấy cậu bé trong chùa.
If we broke any rules or strayed from the daily schedule in the slightest, he didn’t hesitate to hit us with whatever he could lay his hands on: rocks, sticks, bricks, a broom, even a knife.  Nếu chúng tôi phạm bất cứ điều luật gì, hay xao lãng công việc hàng ngày, dù chỉ chút ít, Sư cũng không ngần ngại gì để đánh chúng tôi với bất cứ thứ gì trong tầm tay: đá, roi, gạch, chổi, hay ngay cả dao.
So I tried hard to follow the rules.   Vì thế tôi hết sức cố gắng để tuân theo các luật lệ.
As soon as I got up at 4:00 every morning, I would begin to cook breakfast and heat water. Ngay khi vừa thức dậy lúc bốn giờ mỗi sáng, tôi bắt đầu chuẩn bị điểm tâm và đun nước.
By 5:00, my teacher expected the water, so he could wash his face. Đến năm giờ, thầy tôi cần nước để rửa mặt.
Then I had to pick fresh flowers and arrange them on the altar for morning devotions at 5:30. Sau đó tôi phải đi hái hoa tươi và chưng trên bàn thờ, chuẩn bị cho công phu buổi sáng lúc năm giờ rưỡi.
Breakfast was to be ready precisely at 6:00.   Điểm tâm sẽ phải sẵn sàng đúng sáu giờ.
Venerable Sonuttara wanted the dogs’ plates placed next to where he sat, so he could feed them with his own hands. Sư Sonuttara muốn mấy cái đĩa cho chó ăn phải để cạnh bên chỗ sư ngồi, để chính tay sư có thể cho chúng ăn.
We could not eat until he finished, then we had to gulp our food in order to get to our next chores quickly. Chúng tôi không được ăn cho đến khi sư đã dùng xong, rồi chúng tôi phải ngốn vội thức ăn để có thể nhanh chóng bắt tay vào các nhiệm vụ khác.
After I was ordained a novice, I was allowed to eat near my teacher, but he sat on a chair and put his plate on a table. Sau khi đã thọ giới làm sadi, tôi được phép ngồi cạnh sư để ăn, nhưng sư ngồi trên ghế với đĩa thức ăn trên bàn.
I was nearby, sitting on the floor, with my plate on a low bench in front of me. Tôi ở gần bên, ngồi trên sàn nhà, với đĩa đồ ăn để trên một chiếc ghế đẩu thấp trước mặt tôi.
When I returned from alms round at 11:00, we went through a similar ritual of serving lunch and gobbling our own meals.   Khi tôi đi khất thực về lúc mười một giờ, chúng tôi lại trải qua một nghi lễ tương tự để phục vụ buổi trưa, rồi ngốn vội bữa ăn của chính mình.
At 1 P.M. our teacher expected his tea on a special table.   Một giờ trưa là lúc thầy chúng tôi phải có trà trên một chiếc bàn đặc biệt.
Then I went to the other temple for my Pali lessons, returning no later than three in the afternoon. Sau đó tôi đi qua chùa kia để học tiếng Pali, và không được về trễ hơn ba giờ chiều.
By 5:30, the flowers and garden were to be watered and then I had time for a quick bath before evening devotional chanting at 6:00.   Vườn cây và hoa phải được tưới xong lúc năm giờ rưỡi, sau đó tôi có thì giờ để vội vã đi tắm, trước thời khóa tụng kinh buổi chiều lúc sáu giờ.
At 6:30, I was expected to serve the Venerable his tea. Sáu giờ rưỡi, tôi châm trà cho Sư.
At 7:00 I recited my memorized verses for him.  Bảy giờ tôi trả bài thuộc lòng cho sư.
Afterward, I prepared his betel chewing mixture, to be served at 7:30. Sau đó, tôi chuẩn bị trầu cau cho sư ăn lúc bảy giờ rưỡi.
Then there was final cleanup and bed. Rồi là dọn dẹp lần cuối trước khi đi ngủ.
On full-moon and new-moon days, we enjoyed a break from the routine.   Vào ngày rằm và mùng một, chúng tôi rất thích được khỏi làm những công việc hàng ngày nầy.
Instead of manual laborers, we were hosts to the villagers who would come to spend that special day at the temple.  Thay vì là các lao động chân tay, chúng tôi trở thành chủ đối với những người dân làng đến để ở lại chùa vào ngày đặc biệt đó.
Most of them were elderly and could not read or write. Phần đông họ là những người già cả, không biết đọc hay viết.
In most temples, monks would read Jataka tales to the laypeople and explain their significance. Ở hầu hết các chùa, quý sư sẽ đọc các câu chuyện Jataka và giải thích về ý nghĩa quan trọng của chúng cho các cư sĩ nghe.
The whole collection of Jataka tales is 550 stories, each one illustrating how the Buddha in a previous rebirth manifested a certain noble quality: generosity, say, or moral integrity, renunciation, wisdom, effort, patience, truthfulness, determination, loving-friendliness, and equanimity.   Jataka là những câu chuyện về tiền thân của Đức Phật. Cả bộ sách có khoảng 550 câu chuyện.  Mỗi câu chuyện biểu hiện lại cho ta thấy  Đức Phật trong những kiếp sống trước đã có các phẩm chất cao thượng như thế nào: rộng lượng, đạo đức, xả ly, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, kiên quyết, từ bi, và hỷ xả.
Sometimes in the Jataka tales, the Buddha is some kind of animal; always he is a bodhisattva, or one who is in the preparatory phases of becoming a Buddha. Đôi khi trong các câu chuyện nầy, Đức Phật có thể ở trong kiếp thú; nhưng Ngài luôn là một vị Bồ Tát, hay người ở trong giai đoạn chuẩn bị thành Phật.
Because I had a fourth-grade education, I was something of a hero to the uneducated villagers who came to our temple.   Vì đã học đến lớp bốn, tôi trở thành như là một người hùng đối với những người dân làng thất học đến chùa.
They loved to listen to me recite the tales in my girlish, prepubescent voice. Họ thích lắng nghe tôi đọc các câu chuyện bằng cái giọng mới lớn, như con gái.
One day I remember telling a story from the human life of the Buddha.   Một ngày kia, tôi nhớ đang kể một câu chuyện từ tiền thân của Đức Phật.
I said that after leaving his father’s palace and cutting off his hair, Prince Siddhattha became an ascetic. Tôi nói rằng sau khi rời cung điện của vua cha và cắt tóc, hoàng tử Siddhattha trở thành một nhà tu khổ hạnh.
He wrapped a length of yellow cloth around himself and collected food in an alms bowl. Ngài quấn y vàng quanh người và khất thực trong bình bát.
One of the villagers listening, an old man who reminded me of my grandfather, said, “Little monk, I think you are wrong.   Một trong những người dân làng đang lắng nghe, một ông lão giống như ông nội tôi, nói, “Này chú tiểu, tôi nghĩ chú sai rồi.
I think the yellow robe and alms bowl were not introduced to the world until Siddhattha became the Buddha and began his order of monks.” Y vàng và bình bát chưa có mặt trên thế gian này cho đến khi thái tử Siddhattha trở thành Phật và bắt đầu thiết lập Tăng đoàn.”
I answered him: “Sir, the Sanskrit word for bowl is patra, which literally means any kind of container open at the top.   Tôi trả lời ông: “Thưa ông, cái bình bát trong tiếng Phạn là patra, có nghĩa là bất cứ một đồ chứa gì có nắp ở trên.
Certainly such items were in use prior to the Buddha’s coming. Chắc chắn rằng những vật dụng như thế đã được sử dụng trước khi Đức Phật có mặt.
They were commonly used by mendicants. Những người ăn xin thường sử dụng chúng.
And the Sanskrit word for yellow cloth is kashaya vastra, which refers to any piece of yellow cloth. Và tiếng Phạn cho y vàng là kashaya vastra, để chỉ bất cứ mảnh vải vàng nào.
Why couldn’t Siddhattha wrap himself in a length of yellow cloth?” Vậy tại sao thái tử Sidhattha không thể quấn y áo màu vàng?”
As I recall, my answer pleased the old man very much.   Theo tôi nhớ, câu trả lời của tôi đã làm ông lão rất vừa lòng.
But not everything that took place at the temple was so lofty.    Nhưng không phải mọi thứ ở chùa đều trôi chảy như thế.
One day the temple boys, who were older than I was, invited me to smoke tobacco with them.  Một ngày kia mấy cậu bé trong chùa, chúng đều lớn hơn tôi, mời tôi hút thuốc với chúng.
I did, and thus an addiction was born. Tôi hút, và thế là một thói quen nghiện hút đã thành hình.
We could not afford to buy cigarettes, so we stole tobacco from the head monk’s room, where he kept a supply of it to mix with betel and areca nuts, for chewing. Chúng tôi không có tiền để mua thuốc lá, vì thế chúng tôi đã lấy cắp thuốc lá từ phòng của sư trưởng, nơi sư cất để khi nhai trầu, sư trộn với trầu cau.
We’d wrap the tobacco in scraps of newspaper and smoke secretly.   Chúng tôi cuộn thuốc lá trong những mảnh giấy báo và bí mật hút.
Every once in a while our teacher would discover us smoking and beat us for it. Thỉnh thoảng sư bắt gặp chúng tôi hút thuốc và đánh chúng tôi vì tội đó.
But that didn’t deter us; we just became more and more careful about not getting caught. Nhưng điều đó cũng không làm chúng tôi suy chuyển; chúng tôi chỉ trở nên cẩn thận hơn để không bị bắt gặp.
One day after returning from alms round, I lit a small roll of tobacco in the kitchen and began to smoke it.   Một ngày kia sau khi khất thực trở về, tôi đốt một điếu thuốc ve tròn nhỏ trong nhà bếp và bắt đầu hút.
My teacher appeared, carrying a bucket, on his way to bathe in the well. Thầy tôi xuất hiện, đang bưng một cái thau trên đường ra giếng tắm.
He stopped and looked directly at me: I was caught red-handed.   Sư dừng lại, nhìn thẳng vào tôi: tôi đã bị bắt quả tang.
“I’m not going to beat you this time,” he said.  “Sư sẽ không đánh con lần này,” ông nói.
“But what should I do to you if I catch you doing this again? You tell me.” “Nhưng nếu Sư bắt gặp con hút lần nữa thì sư sẽ phải làm gì với con?  Con nói cho sư nghe đi.”
I swallowed hard.   Tôi nghẹn lời.
My teacher’s anger was intimidating. Sự giận dữ của thầy tôi rất đáng sợ.
I knew there was only one answer to that question.  Tôi biết là chỉ có một câu trả lời cho câu hỏi đó.
“If you see me smoking again, you should beat me as much as you wish,” I said.   “Nếu Sư thấy con hút thuốc lần nữa, Sư đánh con bao nhiêu cũng được,” tôi trả lời.
But I didn’t stop smoking; I was thoroughly addicted.   Nhưng tôi không bỏ thuốc được; tôi đã bị ghiện mất rồi.
A couple of weeks later I was caught in the act again. Vài tuần sau tôi lại bị sư bắt gặp.
Venerable Sonuttara beat me with his bare hands. Sư Sonuttara đánh tôi bằng tay không.
After that, he locked up his tobacco so we couldn’t get at it.   Sau đó, sư khoá thuốc lại để chúng tôi không thể lấy cắp.
Again, we were undeterred and simply became more resourceful: We sold coconuts, towels, handkerchiefs, and rice, whatever we had on hand — usually gifts from laypeople — to buy our tobacco. Lần nữa, chúng tôi cũng không nản lòng mà chỉ trở nên mưu chước hơn: chúng tôi bán dừa, khăn lông, khăn tay, và gạo, bất cứ thứ gì đến tay chúng tôi -thường là vật thực của cư sĩ cúng dường- để mua thuốc lá.
As I got nearer to my teenage years I felt stirrings of independence.   Khi gần đến tuổi dậy thì, tôi cảm thấy rất muốn được độc lập.
I was no longer so afraid of Venerable Sonuttara’s unpredictable rage. Tôi không còn quá sợ những cơn giận không đoán trước được của Sư Sonuttara.
His extreme punishments seemed unfair and cruel and I began to resent him. Những hình phạt quá khắt khe của Sư dường như bất công và tàn nhẫn quá nên tôi bắt đầu oán hận sư.
I also began to feel that my education was lacking.   Tôi cũng bắt đầu cảm thấy tôi không được học hành đầy đủ.
I was thirteen years old and I had only completed the fourth grade — an accomplishment in those days, but still not enough for me. Tôi đã mười ba tuổi mà chỉ mới học xong lớp bốn -một thành đạt trong những ngày đó, nhưng đối với tôi vẫn chưa đủ.
Neither my teacher nor the monk in the neighboring temple who taught me Pali had any formal education. Cả thầy tôi lẫn vị sư ở chùa làng bên, người dạy tôi tiếng Pali, đều không được học hành đàng hoàng.
I wanted to learn more, a desire that would stay with me for my entire life.  Tôi muốn học thêm nữa, một ước muốn theo tôi suốt đời.
The temple began to feel like a prison.   Tôi bắt đầu cảm thấy ở chùa giống như ở tù.
This was not the luminous religious life I had dreamed of. Đây không phải là đời sống tôn giáo huy hoàng mà tôi đã mơ tưởng đến.
One day, after lunch, Venerable Sonuttara went to take a nap.   Một ngày, sau khi thọ trai, Sư Sonuttara đi nghỉ trưa.
One of the other boys decided he wanted an orange from the tree outside our teacher’s room. Một trong mấy cậu bé kia muốn hái trái cam trên cây bên ngoài phòng Sư.
He started throwing rocks into the tree to knock down an orange. Nó bắt đầu chọi đá lên cây để trái cam rụng xuống.
The noise woke our teacher.   Tiếng động đánh thức thầy chúng tôi.
He came out of his room, furious, and demanded to know who had been making such a racket. Sư bước ra khỏi phòng, giận dữ muốn biết ai là người đã làm huyên náo.
One of the other boys said it was me, that I was throwing rocks. Cậu bé bảo đó là tôi, là tôi đã chọi đá.
And now suddenly I was furious, too.   Và bỗng nhiên lúc đó tôi cũng nổi giận.
I asked the boy, in very unpleasant language, why he was lying to our teacher. Tôi hỏi cậu bé, bằng thứ ngôn ngữ rất khó nghe, tại sao nó nói dối Sư.
Venerable Sonuttara turned on me.  Sư Sonuttara quay qua tôi.
He said I was disrespectful. Sư bảo tôi vô lễ.
He said he didn’t care who had been throwing rocks and that because I was being disrespectful, I was the one to be punished. Sư bảo sư không cần biết ai đã chọi đá, nhưng vì tôi vô lễ, tôi là người phải bị phạt.
He seized a broomstick and hit me over and over until I fell to the floor.   Sư với lấy cây chổi và đánh tôi tới tấp, cho tới lúc tôi ngã ra sàn nhà.
I could hardly breathe. Tôi không còn thở nổi.
That was the last straw for me.   Đó là giọt nước tràn ly cho tôi.
Later in the afternoon, I gathered my books as usual. It was time to go to Kebilitigoda temple for my Pali lessons.   Chiều hôm đó, tôi thu gom sách vở như thường lệ khi tôi phải đến chùa Kebilitigoda học tiếng Pali.
I started out the door just as my teacher and the other boys headed toward the back of the compound to dig a new latrine. Tôi bắt đầu ra cửa, đúng lúc thầy tôi và những đứa trẻ khác đi về hướng phía sau chùa, để đào một nhà vệ sinh mới.
I watched them go, then I quietly went back inside and threw down my books. Tôi canh cho họ đi qua, rồi tôi lặng lẽ trở vào bên trong, vứt sách xuống.
I went into the room where the temple boys kept their clothes and grabbed a white shirt and a sarong.   Tôi vào phòng nơi mấy cậu bé ở chùa để đồ, tóm lấy một cái áo chemise và xà rông trắng.
Without a pang of regret, I took off my robes and put on the shirt and sarong. Không một chút nuối tiếc, tôi cởi y ra rồi mặc áo chemise và xà rông vào.
Exhilaration rising inside me, I slipped out the front door of the temple, through the barbed-wire gate, and onto the hard-packed road.   Một niềm hưng phấn trỗi dậy trong lòng, tôi lẻn ra cửa trước chùa, bước qua cổng hàng rào dây thép, đi trên con đường gồ ghề.
I was no longer a novice monk.   Tôi không còn là một chú tiểu nữa.
I was free. Tôi đã được tự do.