CHƯƠNG IX. LINH HỒN SƠ CẤP

9. The Beginner SoulCHƯƠNG IX. LINH HỒN SƠ CẤP
THERE are two types of beginner soulS: souls who are truly young in terms of exposure to an existence out of the spirit world, and souls who have been reincarnating on Earth for a long period of relative time, but still remain immature. I find beginner souls of both types in Levels I and II.Có 2 loại linh hồn sơ cấp: a/những linh hồn thực sự “trẻ,” vì chúng có rất ít kinh nghiệm về Cõi Trần, b/ và những linh hồn vốn đã tái sinh ở Cõi Trần trong những giai đoạn dài, nhưng vẫn còn chưa phát triển. Tôi tìm thấy những linh hồn sơ cấp ở trong cấp độ I và II.
I believe almost three-quarters of all souls who inhabit human bodies on Earth today are still in the early stages of development.Tôi tin rằng, trong tổng số linh hồn “sống trong” những cơ thể người ở Cõi Trần hôm nay, có gần ¾ vẫn ở trong những giai đoạn đầu tiên của sự phát triển.
I know this is a grossly discouraging statement because it means most of our human population is operating at the lower end of their training. Tôi biết, đây là một tuyên bố hết sức bi quan, bởi vì nó có nghĩa là, phần lớn dân số con người trên thế giới đang có “trình độ” ở mức thấp nhất.
On the other hand, when I consider a world population beset by so much negative cross-cultural misunderstanding and violence, I am not inclined to change my opinion about the high percentage of lower level souls on Earth. Mặt khác, khi tôi xem xét một số lượng lớn dân số thế giới bị bao vây bởi quá nhiều sự hiểu lầm tiêu cực và bạo động giữa các nền văn hóa khác nhau, thì tôi không muốn thay đổi quan niệm của mình về số phần trăm cao của những linh hồn “sơ cấp” ở Cõi Trần.
However, I do think each century brings improvement of awareness in all humans. Tuy nhiên, tôi thực sự nghĩ rằng, mỗi thế kỷ đều mang đến sự cải thiện về sự nhận thức trong mọi con người.
Over a number of years, I have maintained a statistical count of client soul levels in my case files.Qua một số năm, trong những hồ sơ bệnh án của mình, tôi đã thiết lập một bản thống kê về những cấp độ của linh hồn.
Undoubtedly, the figures are weighted to some extent at the lower levels because these subjects were not selected at random. Không nghi ngờ gì, những con số, tới mức độ nào đó, nghiêng về những cấp độ thấp hơn, bởi vì những chủ thể này không được lựa chọn một cách ngẫu nhiên.
My cases could be over-represented by souls at the lower levels of development because they are the very people who require assistance in life and might come to me seeking information. Có thể, con số phần trăm trong những ca của tôi không phản ánh đúng hiện thực – bởi vì những thân chủ đến với tôi đều là những người cần đến sự trợ giúp trong đời, và có lẽ, họ đến để tìm kiếm thông tin. Do vậy, đương nhiên là họ thường rơi vào loại linh hồn có mức phát triển khá thấp.
For those who are curious, the percentages by soul level of all my cases are as followS:Đối với những ai hiếu kỳ, thì số phần trăm về cấp độ linh hồn của những ca của tôi là như sau:
Level I, 42%;+ Cấp độ I: 42%.
Level II, 31%;+ Cấp độ II: 31%.
Level III, 17%;+ Cấp độ III: 17%.
Level IV, 9%;+ Cấp độ IV: 9%.
Level V, 1%.+ Cấp độ V: 1%.
Projecting these figures into a world population of five billion souls would be unreliable, using my small sample.Nếu áp dụng những con số thống kê này vào dân số thế giới, với 5 tỷ linh hồn, thì chúng không đáng tin cậy.
Nevertheless, I see the possibility we may have only a few hundred thousand people on Earth at Level V.Tuy nhiên, tôi thấy khả tính rằng, có lẽ, chúng ta chỉ có vài trăm ngàn người ở Cõi Trần ở cấp độ V.
My subjects state that souls end their incarnations on Earth when they reach full maturity.Những thân chủ của tôi tuyên bố rằng, những linh hồn chấm dứt những cuộc đầu thai của chúng ở Cõi Trần khi chúng đạt tới sự trưởng thành trọn vẹn.
What is significant about the high percentage of souls in the early stages of development is our rapidly multiplying population and the urgency babies have for available souls. Cái có ý nghĩa về số phần trăm cao của những linh hồn ở trong những giai đoạn đầu của sự phát triển, là dân số đang tăng nhanh theo cấp số nhân, và luôn có những hài nhi cho những linh hồn “sẵn sàng” đầu thai.
We are increasing by 260,000 children per day. Hiện nay, mỗi ngày có 260.000 đứa trẻ ra đời, và chúng cần có linh hồn.
This human necessity for souls means they must normally be drawn from a spiritual pool of less advanced entities who require more incarnations to progress and are, therefore, more available to return to another life. Sự cần thiết này có nghĩa là, bình thường, linh hồn phải được lấy ra từ cái “ao tâm linh” của những thực thể kém tiến hóa hơn, vốn cần những cuộc đầu thai để tiến bộ, và do vậy, sẵn sàng tái sinh để sống một kiếp sống khác.
I am sensitive to the feelings of clients whom I know to be in the early stages of development.Tôi rất hiểu tình cảm của những thân chủ mà tôi biết, đang ở trong những giai đoạn phát triển đầu tiên.
I cannot count the number of times a new client has come into my office and said, “I know I am an old soul, but I seem to have problems coping with life.” Tôi không thể đếm số lượng những lần mà một thân chủ đã vào trong phòng mạch của tôi, và nói: “Tôi biết, tôi là một linh hồn “cao tuổi” [old], nhưng dường như tôi có nhiều khó khăn trong việc đương đầu với cuộc đời.”
We all want to be advanced souls because most people hate to be considered a beginner in anything.Tất cả chúng ta đều muốn mình là những linh hồn phát triển cao, bởi vì phần lớn người ta không thích bị xem là một “kẻ sơ cơ” trong bất cứ cái gì.
Every case is unique. Mọi ca đều có tính độc nhất [unique].
There are many variables within each soul’s character, individual development rate, and the qualities of the guides assigned to them. Có nhiều biến số bên trong tính cách của mỗi linh hồn, tốc độ phát triển cá nhân, và những phẩm chất của những vị hướng đạo phụ trách chúng.
I see my task as offering interpretations of what subjects report to me about the progression of their souls. Tôi thấy nhiệm vụ của tôi, là cung cấp những thuyết minh về những gì mà những thân chủ tường thuật cho tôi về sự phát triển của linh hồn họ.
I have had many cases where a client has been incarnating for up to 30,000 years on Earth and is still in the lower levels of I and II.Tôi có nhiều ca mà trong đó một thân chủ đã tái sinh trong gần 30.000 năm ở Cõi Trần, và vẫn còn ở cấp độ I và II.
The reverse is also true with a few people, although rapid acceleration in spiritual development is uncommon. Cái ngược lại cũng đúng, với một vài người, mặc dù sự tăng tốc trong sự phát triển tâm linh là điều bất thường.
As with any educational model, students find certain lessons more difficult than others.Như với bất cứ mô hình giáo dục nào, học sinh thấy một số bài học nào đó là khó khăn hơn những bài học khác.
One of my clients has not been able to conquer envy for 850 years in numerous lives, but she did not have too much trouble overcoming bigotry by the end of this same period. Một trong những thân chủ của tôi đã không thể chế ngự được lòng đố kỵ trong 850 năm, trong vô số kiếp sống, nhưng cô ấy không gặp nhiều khó khăn trong việc khắc phục sự cố chấp, ở cuối chính giai đoạn đó.
Another has spent nearly 1700 years off-and-on seeking some sort of authoritative power over others. Một người khác, đã trải qua gần 1700 năm, một cách gián đoạn, tìm kiếm loại quyền lực nào đó trên những người khác.
However, he has gained compassion.
The next case represents an absolute beginner soul. Ca kế tiếp, đại diện cho một linh hồn hoàn toàn sơ cơ.
This novice shows no evidence of having a spiritual group assignment as yet, because she has lived too few past lives. Cho tới nay, không có bằng bằng chứng nào cho thấy rằng, cô có một nhóm linh hồn, bởi vì cô đã trải qua quá ít kiếp sống quá khứ.
In her first life she was killed in 1260 ad in Northern Syria by a Mongol invasion. Trong kiếp đầu tiên của mình, cô bị giết vào năm 1260 CN tại phía Bắc Syria, bởi một cuộc xâm lăng Mông Cổ.
Her name was Shabez, and her settlement was sacked, resulting in a terrible massacre of the inhabitants when she was five years old. Tên cô là Shabez. Khu định cư bị cướp phá, và những cư dân bị tàn sát khủng khiếp khi cô mới 5 tuổi.
- Case 20
- Ca 20
Dr. N: Shabez, now that you have died and returned to the spirit world, tell me what you feel?TS N: Shabez, bây giờ cô đã chết, và trở lại thế giới linh hồn, hãy nói cho tôi biết, cô cảm thấy gì?
S: (shouts) Cheated! That life was so cruel! I couldn’t stay. I was only a little girl unable to help anybody. What a mistake!CT: [quát lên] Bị lừa gạt! Cuộc đời đó quá tàn nhẫn! Tôi không thể lưu lại đó. Tôi chỉ là một cô gái nhỏ, không thể giúp đỡ ai. Thật là một sai lầm!
Dr. N: Who made this mistake?TS N: Ai phạm sai lầm này?
S: (in a conspiratorial tone) My leader. I trusted his judgment, but he was wrong to send me into that cruel life to be killed before my life got started.CT: [bằng giọng bí ẩn] Vị “thủ lĩnh” (106) [leader] của tôi. Tôi tin cậy sự phán đoán của ông ấy, nhưng ông ấy sai lầm khi gửi tôi vào trong kiếp sống tàn nhẫn đó để bị giết trước khi đời tôi khởi sự.
Dr. N: But you did agree to come into the body of Shabez?TS N: Nhưng cô có thực sự đồng ý đi vào cơ thể của Shabez không?
S: (upset) I didn’t know Earth would be such an awful place full of terror—I wasn’t given all the facts—the whole stupid life was a mistake and my leader is responsible.CT: [bực mình] Tôi không biết rằng Cõi Trần sẽ là một nơi chốn khủng khiếp, hãi hùng như thế. Toàn bộ kiếp sống ngu xuẩn đó là một sai lầm, và thủ lĩnh của tôi phải chịu trách nhiệm.
Dr. N: Didn’t you learn anything from this life?TS N: Há chẳng phải là cô đã học được cái gì đó từ kiếp sống này?
S: (pause) I started to learn to love … yes, that was wonderful … my brother … parents … but it was so short …CT: [ngừng một lát] Tôi bắt đầu học cách thương yêu…vâng, cái đó tuyệt vời…anh tôi…bố mẹ tôi…nhưng nó quá ngắn…
Dr. N: Did anything good come out of this life?TS N: Có cái gì tốt đẹp từ kiếp sống này?
S: My brother Ahmed … to be with him …CT: Anh tôi, Ahmed…được ở cùng anh…
Dr. N: Is Ahmed in your present life?TS N: Ahmed có mặt trong kiếp hiện tại của cô không?
S: (suddenly my subject rises out of her chair) I can’t believe it! Ahmed is my husband Bill—the same person—how can …?CT: [bất ngờ, thân chủ đứng lên ra khỏi ghế] Tôi không thể tin điều đó! Ahmed là Bill, chồng tôi – cùng một người – làm thế nào có thể…?
Dr. N: (after calming subject, I explain the process of soul transference to a new body and then continue) Do you see Ahmed on your return to the spirit world after dying as Shabez?TS N: [sau khi xoa dịu thân chủ, tôi giải thích quá trình thuyên chuyển của linh hồn tới một cơ thể mới và rồi tiếp tục] Cô có thấy Ahmed khi cô trở lại thế giới linh hồn sau khi chết như là Shabez?
S: Yes, our leader brings us together here … where we stay.CT: Vâng, thủ lĩnh của chúng tôi mang chúng tôi đến đây…nơi mà chúng tôi lưu lại.
Dr. N: Does Ahmed emit the same energy color as yourself or are there differences?TS N: Ahmed có phóng ra cùng màu năng lượng như của cô, hay có những khác biệt?
S: (pause) We … are all white.CT: [ngừng] Chúng tôi…đều màu trắng.
Dr. N: Describe what you do here.TS N: Hãy mô tả, cô làm gì ở đây.
S: While our leader comes and goes, Ahmed and I … just work together.CT: Trong khi vị thủ lĩnh đến và đi, thì Ahmed và tôi…làm việc cùng nhau.
Dr. N: Doing what?TS N: Làm cái gì?
S: We search out what we think about ourselves—our experience on Earth. I’m still sore about us being killed so soon … but there was happiness … walking in the sun … breathing the air of Earth … love.CT: Chúng tôi lục lọi những gì mà chúng tôi nghĩ về chính mình, về nhau – kinh nghiệm của chúng tôi ở Cõi Trần. Tôi vẫn tức tối về việc bị giết chết quá sớm như thế…nhưng có niềm hạnh phúc…đi dạo dưới nắng…thở không khí của Trái Đất…tình yêu.
Dr. N: Go back further to the time before you and Ahmed had your life together, perhaps when you were alone. What was it like being created?TS N: Hãy trở lại xa hơn, đến thời gian trước khi cô và Ahmed sống chung với nhau, có lẽ, khi cô đang độc thân. Khi linh hồn cô được sáng tạo ra, cô có cảm giác ra sao?
S: (disturbed) I don’t know … I was just here … with thought …CT: [bối rối] Tôi không biết…tôi chỉ đơn giản ở đây…với ý nghĩ…
Dr. N: Do you remember during your own creation when you first began to think as an intelligent being?TS N: Trong khi linh hồn cô được sáng tạo, cô có nhớ, lần đầu tiên cô bắt đầu suy nghĩ như là một hữu thể thông minh, là khi nào không?
S: I realized … I existed … but I didn’t know myself as myself until I was moved into this quiet place alone with Ahmed.CT: Tôi nhận thức rằng…tôi hiện hữu…nhưng tôi không biết mình là ai, cho đến khi tôi được di chuyển vào trong cái nơi yên tĩnh này với Ahmed.
Dr. N: Are you saying your individual identity came more into focus when you began interacting with another soul entity besides your guide?TS N: Có phải cô đang nói rằng, cái “bản sắc” [identity] cá nhân của cô bắt đầu rõ nét hơn, khi cô bắt đầu tương tác với một thực thể linh hồn khác ngoài vị hướng đạo của cô?
S: Yes, with Ahmed.CT: Vâng, với Ahmed.
Dr. N: Keep to the time before Ahmed. What was it like for you then?TS N: Hãy nói về thời gian trước khi cô gặp Ahmed. Lúc bấy giờ, cô như thế nào?
S: Warm … nurturing … my mind opening … she was with me then.CT: Ấm áp…được yêu thương, chiều chuộng, trí óc tôi mở ra… lúc ấy bà ở cùng tôi.
Dr. N: She? I thought your leader displayed a male gender to you?TS N: Bà? Tôi nghĩ, vị hướng đạo của cô hiện ra với cô như là một nam nhân.
S: I don’t mean him … someone was around me with the presence of a … mother and father … mostly mother …CT: Tôi không có ý nói về ông ấy, mà về một ai đó đang ở xung quanh tôi…sự có mặt của một…người mẹ và người cha…chủ yếu là người mẹ.
Dr. N: What presence?TS N: Sự có mặt nào vậy?
S: I don’t know … a soft light … changing features … I can’t grasp it … loving messages … encouragement …CT: Tôi không biết…một làn ánh sáng mát dịu…những đường nét biến đổi…tôi không thể chụp bắt nó…những thông điệp đầy yêu thương…sự động viên…
Dr. N: This was at the time of your creation as a soul?TS N: Đây là vào thời điểm mà linh hồn cô được tạo ra?
S: Yes … it’s all hazy … there were others … helpers … when I was born.CT: Vâng…nó hoàn toàn mơ hồ…có những người khác…những người trợ giúp…khi tôi ra đời.
Dr. N: What else can you tell me about the place of your creation?TS N: Cô có thể kể cho tôi cái gì khác về cái nơi mà [linh hồn] cô được tạo ra?
S: (long pause) Others … love me … in a nursery … then we left … and I was with Ahmed and our leader.CT: [ngừng lâu] Những người khác…yêu thương tôi… trong một ký nhi viện [nursery]…rồi chúng tôi rời nơi đó và tôi ở cùng Ahmed và thủ lĩnh của chúng tôi.
Dr. N: Who actually created you and Ahmed?TS N: Ai đã thực sự tạo ra cô và Ahmed?
S: The One.CT: “Đấng ấy” [The One].(107)
I have learned there seems to be a kind of spirit world maternity ward for newborn souls.Tôi đã học được rằng, dường như có một “phòng hộ sinh” của thế giới linh hồn cho những linh hồn mới sinh.
One client told me, “This place is where infantile light is arranged in a honeycomb fashion as unhatched eggs, ready to be used.” Một thân chủ bảo tôi: “Nơi này là nơi mà “ánh sáng bé bỏng” [infantile light] được sắp xếp theo cách của một tổ ong, như những cái trứng chưa ấp, sẵn sàng để sử dụng.
In Chapter Four, on displaced souls, we saw how damaged souls can be “remodeled.”Trong chương 4, về những linh hồn “lưu vong,” chúng ta đã thấy, những linh hồn bị tàn phá có thể được “thiết kế lại” như thế nào.
My conjecture is these creation centers described by Shabez have the same function. Tôi đoán rằng, những trung tâm “sáng tạo linh hồn” [creation centers] được mô tả bởi Shabez, có cùng chức năng.
In the next chapter, Case 22 will explain more about spiritual areas of ego creation where raw, undefined energy can be manipulated into a genesis of Self. Trong chương kế tiếp, ca 22 sẽ giải thích thêm về những khu vực tâm linh tạo ra ego [ego creation] nơi mà năng lượng thô, chưa xác định, có thể được “nhào nặn” thành một “Bản Ngã” [Self].
Case 20 has some obvious traits of the immature soul.Ca 20 có vài nét hiển nhiên của linh hồn non nớt.
The subject is a sixty-seven-year-old woman who has had a lifetime of getting into disastrous ruts. Chủ thể là một phụ nữ 67 tuổi, đã có một đời người bị kẹt trong những vũng lầy thảm khốc.
She does not demonstrate a generosity of spirit toward others, nor does she take much personal responsibility for her actions. Bà ta không biểu lộ một tâm hồn rộng lượng đối với những người khác, cũng không muốn nhận trách nhiệm cá nhân về những hành động của mình.
This client came to me searching for answers as to why life had “cheated me out of happiness.”Thân chủ này đến với tôi để tìm những câu trả lời cho câu hỏi: “Tại sao cuộc đời đã lừa gạt tôi, đuổi tôi ra khỏi hạnh phúc”.
In our session we learned Ahmed was her first husband, Bill. Trong phiên thôi miên, chúng tôi biết được rằng Ahmed là Bill, người chồng đầu tiên của bà.
She left him long ago for another man, whom she also divorced, because of her inability to bond with people. Cách đây đã lâu, bà bỏ ông để lấy một người đàn ông khác, mà bà cũng ly hôn, bởi vì bà không có khả năng gắn bó với người khác.
She does not feel close to any of her children. Bà không cảm thấy gần gũi với bất cứ đứa con nào của bà.
The beginner soul may live a number of lives in a state of confusion and ineffectiveness, influenced by an Earth curriculum which is different from the coherence and supportive harmony of the spirit world.Linh hồn sơ cấp có thể sống một số kiếp sống trong tình trạng hỗn độn và không hiệu quả, bị ảnh hưởng bởi một “chương trình học” [curriculum] của Cõi Trần, vốn khác với sự mạch lạc [coherence], và sự hòa điệu của thế giới linh hồn.
Less developed souls are inclined to surrender their will to the controlling aspects of human society, with a socio-economic structure which causes a large proportion of people to be subordinate to others. Xã hội con người – với một cấu trúc kinh tế xã hội mà dễ khiến cho một tỷ lệ dân số lớn lệ thuộc vào những người khác.
The inexperienced soul tends to be stifled by a lack of independent thinking. Do thiếu tư duy độc lập, những linh hồn thiếu kinh nghiệm có khuynh hướng bị trấn áp, và quy phục những sức mạnh có ảnh hưởng đến cuộc sống vật lý của chúng.
They also lean towards being self-centered and don’t easily accept others for who they are. Chúng cũng có khuynh hướng quy-ngã [self-centered] và không dễ chấp nhận những người khác như họ đang là.
It is not my intention to paint a totally bleak portrait of souls who comprise so much of our world population—if my estimates of the high numbers of this category of soul are accurate. Tôi không có ý định vẽ một bức tranh hoàn toàn ảm đạm về những linh hồn vốn chiếm đa số dân số thế giới của chúng ta – nếu ước tính của tôi về tỷ lệ cao của phạm trù này là chính xác.
Lower level souls are also able to lead lives which have many positive elements. Những linh hồn ở cấp độ thấp cũng có thể sống cuộc sống có nhiều yếu tố tích cực.
Otherwise, no one would advance. Nếu không như vậy, thì không ai có thể tiến bộ.
No stigma should be attached to these souls, since every soul was once a beginner. Không nên gán điều ô nhục nào cho những linh hồn này, bởi vì mọi linh hồn đều đã từng là linh hồn sơ cấp.
If we become angry, resentful, and confused by our life situations, this does not necessarily mean we possess an underdeveloped spirit. Nếu chúng ta trở nên giận dữ, oán trách, và bị bối rối bởi những tình huống trong cuộc đời mình, thì điều này không có nghĩa là nhất thiết chúng ta có một linh hồn kém phát triển.
Soul development is a complex matter where we all progress by degrees in a variety of areas in an uneven manner. Sự phát triển linh hồn là một vấn đề phức tạp: tất cả chúng ta đều tiến bộ từ từ trong nhiều khu vực khác nhau, một cách không đều.
The important thing is to recognize our faults, avoid self-denial, and have the courage and self-sufficiency to make constant adjustments in our lives. Điều quan trọng, là nhận ra những lỗi lầm của ta, tránh sự phủ nhận mình,(108) và có lòng can đảm và sự độc lập [self-sufficiency] để làm những điều chỉnh thường trực trong đời ta.
One of the clear indications that souls are coming out of novice status is when they leave their spiritual existence of relative isolation.Một trong những dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng những linh hồn đang ra khỏi tình trạng “tập việc,” là khi chúng rời bỏ sự cô lập tương đối trong hiện hữu tâm linh của mình.
They are removed from small family cocoons with other novices and placed in a larger group of beginner souls. Chúng được di chuyển – cùng với những “kẻ tập việc” khác – ra khỏi những chiếc kén nhỏ của chúng, và được đặt vào trong một nhóm lớn hơn, dành cho những linh hồn sơ cấp.
At this stage they are less dependent upon close supervision and special nurturing from their guides.Ở giai đoạn này, chúng ít lệ thuộc hơn vào sự giám sát chặt chẽ và sự nuôi nấng đặc biệt từ những vị hướng đạo của chúng.
For the younger souls, the first realization that they are part of a substantial group of spirits like themselves is a source of delight. Đối với những linh hồn “trẻ hơn,” thì nhận thức đầu tiên rằng, chính chúng là một phần của một nhóm linh hồn lớn, là một nguồn phúc lạc.
Generally, I find this important spiritual event has occurred by the end of a fifth life on Earth, regardless of the relative length of time the novice soul was in semi-isolation. Nhìn chung, tôi nhận thấy, biến cố tâm linh quan trọng này xảy ra vào khoảng cuối kiếp sống thứ 5 ở Cõi Trần, bất kể linh hồn sơ cấp trải qua tình trạng bán-cô lập trong thời gian dài bao lâu.
Some of the entities of these new spiritual groups are the souls of relatives and friends with whom the young soul was associated in their few past lives on Earth. Vài trong số những thực thể của những nhóm linh hồn mới này, là linh hồn của những thân thích và bạn hữu mà với họ, những linh hồn trẻ có quan hệ trong vài kiếp quá khứ của chúng ở Cõi Trần.
What is especially significant about the formation of a new cluster group is that other peer group members are also newer souls who find themselves together for the first time. Cái đặc biệt có ý nghĩa về sự hình thành một “cụm” mới, là những thành viên nhóm [cùng mức phát triển] này, cũng là những linh hồn mới hơn, thấy mình ở cùng nhau lần đầu tiên.
In Chapter Seven on placement, we saw how a soul group appeared when Case 16 rejoined them, and the manner in which life experiences were studied through pictorial scenes, as reported by this subject.Trong chương 7 về việc “xếp lớp,” chúng ta thấy, như thế nào mà một nhóm xuất hiện khi [chủ thể] ca 16 tái gia nhập nó, và cái cách thức mà trong đó những kinh nghiệm sống được nghiên cứu thông qua những cảnh sống động, như được tường thuật bởi chủ thể này.
Case 21 will offer a more detailed account of spiritual group dynamics and how members impact on each other. Ca 21 sẽ cung cấp thêm một bản tường thuật chi tiết về sự tương tác của nhóm linh hồn, và những thành viên của nhóm ảnh hưởng đến nhau ra sao.
The capacity of souls to learn certain lessons may be stronger or weaker between one another depending upon inclination, motivation, and prior incarnation experience. Xét về năng lực học tập, thì linh hồn này có thể “giỏi” hơn hay “dở” hơn linh kia, tùy thuộc vào khuynh hướng, động cơ, và kinh nghiệm về đầu thai trước đây.
Cluster groups are carefully designed to give peer support through a sensitivity of identity traits between all members.Những cụm được thiết kế cẩn thận, để mang đến sự hỗ trợ của nhóm, mà ở đó, mọi thành viên đều hiểu rõ những “nét tính cách” của nhau.
This cohesiveness is far beyond what we know on Earth. Sự kết dính này vượt rất xa khỏi những gì mà chúng ta biết ở Cõi Trần.
Although the next case is presented from the perspective of one group member, his superconscious mind provides an objectivity into the process of what goes on in groups.Mặc dù ca kế tiếp được trình bày từ điểm nhìn của một thành viên nhóm, nhưng tâm trí siêu thức của anh ta cung cấp một khách quan tính về những gì diễn ra trong những nhóm.
My subject will describe a grandiose, male-oriented spiritual group. Chủ thể sẽ mô tả một nhóm linh hồn to lớn, gồm có những thực thể thuộc nam giới.
The raucous entities of this group are linked by exhibitionism which could be labeled narcissistic. Những thực thể “lắm mồm” của nhóm này được kết nối với nhau bởi tính khoe khoang, mà có thể được dán nhãn là có tính ái-kỷ [narcistic].
The common approaches these souls use in finding personal value is one indication why they are working together. Những phương pháp phổ biến mà những linh hồn này sử dụng trong việc tìm ra giá trị cá nhân, là một chỉ định cho thấy tại sao mà chúng đang làm việc cùng nhau.
The extravagant behavior modes of these souls is offset, to some extent, by their spiritual prescience.Những kiểu hành vi thái quá của những linh hồn này được bù trừ, tới mức nào đó, bởi linh tính [spiritual prescience].
Since the complete truth is known by all group members about each other in a telepathic world, humor is indispensible. Bởi vì trong một thế giới thần giao cách cảm, thì mọi thành viên nhóm đều biết toàn bộ sự thật của nhau, nên sự hài hước là không thể thiếu.
Some readers may find it hard to accept that souls do joke with each other about their failings, but humor is the basis upon which self-deception and hypocrisy are exposed. Vài bạn đọc có thể thấy khó mà chấp nhận rằng, những linh hồn thực sự trêu chọc nhau về những khuyết điểm của chúng, nhưng sự hài hước là cái cơ sở mà dựa vào đó, sự tự lừa gạt và tính giả hình được phanh phui.
Ego defenses are so well understood by everyone in spiritual groups that evidence of a mastery of oneself among peers is a strong incentive for change.Việc tự bảo vệ “cái tôi” [ego] được mọi người trong những nhóm linh hồn hiểu quá rõ, đến nỗi, bằng chứng về sự làm chủ bản thân giữa những kẻ cùng mức phát triển, là một động lực mạnh mẽ cho sự thay đổi.
Spiritual “therapy” occurs because of honest peer feedback, mutual trust, and the desire to advance with others over eons of time.“Liệu pháp” tâm linh xảy ra do sự phản hồi trung thực của thành viên nhóm, sự tin cậy lẫn nhau, và niềm mơ ước muốn tiến lên với những kẻ khác qua những kỷ nguyên thời gian.
Souls can hurt, and they need caring entities around them. Những linh hồn có thể bị tổn thương, và chúng cần những thực thể ân cần xung quanh chúng.
The curative power of spiritual group interaction is quite remarkable. Sự tương tác của nhóm linh hồn có sức mạnh chữa trị rất đáng kể.
Soul members network by the use of criticism and acclaim as each strives toward common goals.Những linh hồn thành viên liên kết với nhau bằng cách dùng sự phê bình và sự tán thưởng, trong khi mỗi linh hồn phấn đấu để đạt tới những mục tiêu chung.
Some of the best help I am able to give my clients comes from information I receive about their soul group. Vài trong số những trợ giúp tốt nhất, mà tôi có thể mang đến cho những thân chủ của tôi, đến từ thông tin mà tôi nhận được về nhóm linh hồn của họ.
Spiritual groups are a primary means of soul instruction. Nhóm linh hồn là phương tiện hàng đầu của sự giáo dục linh hồn.
Learning appears to come as much from one’s peers as from the skill of guides who monitor these groups. Nhóm cùng-mức-phát-triển giúp cho linh hồn tiến bộ, có hiệu quả không kém so với kỹ năng của những vị hướng đạo vốn giám sát, chỉ đạo những nhóm này.
In the case which follows, my client has finished reliving his last past life as a Dutch artist living in Amsterdam.Trong ca kế tiếp, thân chủ tôi đã hoàn tất việc sống lại kiếp quá khứ vừa qua của anh ta như là một họa sỹ người Hà Lan, sống tại Amsterdam.
He died of pneumonia at a young age in 1841, about the time he was gaining recognition for his painting. Anh ta chết trẻ vì lao phổi, năm 1841, vào thời điểm khi mà sự nghiệp hội họa của anh ta bắt đầu được công nhận.
We have just rejoined his spiritual group when my subject bursts out laughing. Khi vừa tái gia nhập nhóm linh hồn của mình, thì thân chủ tôi bật cười.
- Case 21
- Ca 21
Dr. N: Why are you laughing?TS N: Tại sao anh cười?
S: I’m back with my friends and they are giving me a hard time.CT: Tôi đang trở lại với các bạn tôi, và họ đang “làm khó” tôi.
Dr. N: Why?TS N: Tại sao vậy?
S: Because I’m wearing my fancy buckled shoes and the bright green velvet jacket—with yellow piping down the sides—I’m flashing them my big floppy painter’s hat.CT: Bởi vì tôi đang mang đôi giày cầu kỳ, cài móc khóa, và mặc cái áo khoác ngoài bằng nhung, màu xanh lá cây, với đường viền vàng chạy xuống hai cạnh sườn – tôi đang khoe với họ cái mũ họa sỹ rộng vành của tôi.
Dr. N: They are kidding you about projecting yourself wearing these clothes?TS N: Họ đang trêu chọc anh, vì đã hiện ra trong y phục này?
S: You know it! I was so vain about clothes and I cut a really fine figure as an artist in Amsterdam cafe society. I enjoyed this role and played it well. I don’t want it to end.CT: Ông biết điều đó! Tôi quá tự đắc về y phục và tôi thực sự được ái mộ như là một họa sỹ ở những quán café tại Amsterdam. Tôi ưa thích và diễn tốt vai diễn này. Tôi không muốn nó chấm dứt.
Dr. N: What happens next?TS N: Cái gì xảy ra kế tiếp?
S: My old friends are around me and we are talking about the foolishness of life. We rib each other about how dramatic it all is down there on Earth and how seriously we all take our lives.CT: Các bạn cũ đang ở xung quanh tôi và chúng tôi đang nói chuyện về cái nực cười của cuộc đời. Chúng tôi trêu ghẹo nhau về mọi thứ ở Cõi Trần – chúng đầy “kịch tính” ra sao – và tất cả chúng tôi đều “quan trọng hóa” đời mình như thế nào.
Dr. N: You and your friends don’t think it is important to take life on Earth seriously?TS N: Anh và các bạn anh không nghĩ, là quan trọng, khi xem trọng cuộc sống ở Cõi Trần?
S: Look, Earth is one big stage play—we all know that.CT: Hãy nhìn xem, Cõi Trần là một vở kịch sân khấu lớn – tất cả chúng ta đều biết điều đó.
Dr. N: And your group is united in this feeling?TS N: Và nhóm của anh đều nhất trí về cảm nhận này?
S: Sure, we see ourselves as actors in a gigantic stage production.CT: Chắc chắn rồi, chúng tôi thấy chính mình như là những diễn viên trong một vở kịch lớn trên sân khấu.
Dr. N: How many entities are in your particular cluster group in the spirit world?TS N: Có bao nhiêu thực thể trong nhóm của anh, trong thế giới linh hồn?
S: (pause) Well, we work with … some others … but there are five of us who are close.CT: [ngừng] Vâng, chúng tôi làm việc với…vài người khác…nhưng có 5 người trong chúng tôi thân thiết với nhau.
Dr. N: By what name do they call you?TS N: Họ gọi anh bằng cái tên gì?
S: L … Lemm—no that’s not right—it’s Allum … that’s me.CT: Lemmm…không, không phải – đó là Allum…đó là tôi.
Dr. N: All right, Allum, tell me about your close friends.TS N: Được rồi, Allum, hãy nói cho tôi biết về những bạn thân của anh.
S: (laughs) Norcross … he is the funniest … at least he is the most boisterous.CT: [cười] Norcross…anh ấy ngộ nghĩnh nhất…ít ra, anh ấy “ồn ào” nhất.
Dr. N: Is Norcross the leader of your group?TS N: Norcross có phải là “thủ lĩnh” [leader] của nhóm anh?
S: No, he is just the loudest. We are all equal here, but we have our differences. Norcross is blunt and opinionated.CT: Không, anh ấy chỉ là kẻ to mồm nhất. Ở đây chúng tôi đều bình đẳng, nhưng chúng tôi có những khác biệt. Norcross thì cố chấp và thẳng thừng.
Dr. N: Really, then how would you characterize his Earth behavior?TS N: Vậy sao? Anh sẽ đặc trưng hóa cách hành xử của anh ta ở Cõi Trần như thế nào?
S: Oh, as being rather unscrupulous—but not dangerous.CT: Ồ, khá thiếu trung thực, nhưng không nguy hiểm.
Dr. N: Who is the quietest and most unassuming member of your group?TS N: Ai là thành viên ít nói nhất và nhũn nhặn nhất trong nhóm anh?
S: (quizzical) How did you guess—it’s Vilo.CT: [hơi bối rối] Làm thế nào ông đoán ra – đó là Vilo.
Dr. N: Does this attribute make Vilo the least effective contributing member of your group?TS N: Có phải thuộc tính này khiến cho Vilo trở nên thành viên đóng góp ít hiệu quả nhất của nhóm anh?
S: Where did you get that idea? Vilo comes up with some interesting thoughts about the rest of us.TS N: Ông lấy đâu ra cái ý tưởng đó? Vilo đưa ra vài ý tưởng thú vị về những người còn lại trong chúng tôi.
Dr. N: Give me an example.TS N: Hãy cho tôi một thí dụ.
S: In my life in Holland—the old Dutch couple who adopted me after my parents died—they had a beautiful garden.CT: Trong kiếp sống của tôi tại Hà Lan, thì một đôi vợ chồng Hà Lan đã nhận tôi làm con nuôi sau khi bố mẹ tôi mất. Họ có một khu vườn đẹp.
Vilo reminds me of my debt to them—that the garden triggered my painting—to see life as an artist … and what I didn’t do with my talent. Vilo nhắc tôi về món nợ đối với họ – rằng khu vườn gợi hứng cho hội họa của tôi – nhìn đời như một họa sỹ…và với tài năng của tôi, tôi chưa làm được những gì.
Dr. N: Does Vilo convey any other thoughts to you about this?TS N: Vilo có phát biểu ý tưởng nào khác về điều này?
S: (sadly) That I should have done less drinking and strutting around and painted more. That my art was … reaching the point of touching people … (subject pulls his shoulders back) but I wasn’t going to stay cooped up painting all the time!CT: [buồn] Rằng, lẽ ra, tôi nên bớt rượu chè, bớt đi vênh vang, và vẽ nhiều hơn. Rằng nghệ thuật của tôi…đạt tới chỗ làm xúc động lòng người…[chủ thể kéo hai vai ra sau]nhưng tôi cũng không nên “nhốt mình trong chuồng,” vẽ trong mọi lúc!
Dr. N: Do you have respect for Vilo’s opinions?TS N: Anh có tôn trọng những ý kiến của Vilo?
S: (with a deep sigh) Yes, we know he is our conscience.CT: [thở dài sâu] Vâng, chúng tôi biết, anh ấy là lương tâm chúng tôi.
Dr. N: So, what do you say to him?TS N: Như vậy, anh nói gì với anh ta?
S: I say, “Innkeeper, mind your own business—you were having fun, too.”CT: Tôi nói: “Chủ quán trọ, hãy lo công việc của chính anh – anh cũng đang vui chơi đó thôi.”
Dr. N: Vilo was an innkeeper?TS N: Vilo là chủ quán trọ?
S: Yes, in Holland. Engaged in a business for profit, I might add.CT: Vâng, tại Hà Lan. Làm kinh doanh để kiếm lợi nhuận, tôi có thể nói thêm.
Dr. N: Do you feel this was wrong of Vilo?TS N: Anh có nghĩ đây là điều sai trái của Vilo?
S: (contrite) No … not really … we all know he took losses to help those poor people on the road who needed food and shelter. His life was beneficial to others.CT: [hối hận] Không…không hẳn thế…tất cả chúng tôi biết, anh ấy chấp nhận lỗ lã để giúp những người nghèo trên đường, họ cần thức ăn và chỗ trọ. Đời anh ấy hữu ích cho những người khác.
Dr. N: I would guess telepathic communication makes it hard to sustain your arguments when the complete truth is known by everyone?TS N: Tôi đoán, sự truyền thông thần giao cách cảm, khiến cho anh khó bênh vực những luận cứ của mình, khi toàn bộ sự thật được mọi người hiểu rõ. Phải thế không?
S: Yes, we all know Vilo is progressing—damn!CT: Vâng, tất cả chúng tôi đều biết rằng, Vilo đang tiến bộ – mẹ kiếp!
Dr. N: Does it bother you that Vilo may be advancing faster than the rest of you?TS N: Anh có bận lòng khi thấy rằng, có thể Vilo đang tiến bộ nhanh hơn những người còn lại trong nhóm anh?
S: Yes … we have had such fun … (subject then recalls an earlier life with Vilo where they traveled together as brothers in India)CT: Vâng…chúng tôi đã từng rong chơi với nhau…[rồi chủ thể hồi tưởng một kiếp sống trước đây với Vilo, mà trong đó, họ du lịch cùng nhau như là anh em tại Ấn Độ]
Dr. N: What will happen to Vilo?TS N: Cái gì sẽ xảy ra cho Vilo?
S: He is going to leave us soon—we all know that—to have associations with the others who have also gone.CT: Chẳng bao lâu nữa, anh ấy sẽ rời chúng tôi – tất cả chúng tôi đều biết điều đó – để giao kết với những người khác, mà cũng đã ra đi.
Dr. N: How many souls have left your original group, Allum?TS N: Bao nhiêu linh hồn đã rời “nhóm gốc” của anh, Allum?
S: (A long pause, and then ruefully) Oh … a couple have moved on … we will eventually catch up to them … but not for a while. They haven’t disappeared—we just don’t see their energy as much.CT: [ngừng lâu, và rồi, nuối tiếc] Ồ…2 người đã tiến lên…sau cùng, chúng tôi sẽ bắt kịp họ…nhưng không phải trong chốc lát. Họ chưa biến đi – chỉ có điều là chúng tôi không thấy năng lượng của họ nhiều như trước.
Dr. N: Name the others of your immediate group for me besides Vilo and Norcross.TS N: Hãy kể tên những người khác trong nhóm của anh, ngoài Vilo và Norcross.
S: (brightening) Dubri and Trinian—now those two know how to have a good time!CT: [tươi tỉnh] Dubri và Trinian – bây giờ 2 người này đã biết cách vui chơi!
Dr. N: What is the most obvious identifying characteristic of your group?TS N: Đâu là đặc điểm của nhóm anh?
S: (with relish) Adventure! Excitement! We have some real pioneer types around here.CT: [thích thú] Sự mạo hiểm! Sự hào hứng! Chúng tôi có vài kẻ tiên phong thực thụ ở quanh đây.
(subject rushes on happily) [chủ thể nói một hơi, tỏ vẻ vui sướng].
Dubri just came off a wild life as a sea captain. Dubri vừa ra khỏi một kiếp sống hoang dã như là một thuyền trưởng.
Norcross was a free-wheeling trading merchant. Norcross là một thương gia tự do.
We live life to its fullest because we are talented at taking what life has to offer. Chúng tôi sống hết mình, bởi vì chúng tôi có khả năng nhận lấy những gì mà cuộc đời có để hiến tặng.
Dr. N: I’m hearing a lot of self-gratification here, Allum.TS N: Nói như thế, có tự mãn lắm không, Allum?
S: (defensively) And what’s wrong with that? Our group is not made up of shrinking violets, you know!CT: [tự vệ] Và có gì sai nào? Nhóm chúng tôi không phải là những “bông hoa mắc cỡ,” ông biết đó.
Dr. N: What’s the story on Trinian’s last life?TS N: Câu chuyện về kiếp vừa qua của Trinian ra sao?
S: (reacts boisterously) He was a Bishop! Can you believe it? What hypocrisy.CT: [phản ứng ầm ĩ] Anh ấy là một Giám mục. Ông có thể tin được không? Thật là đạo đức giả.
Dr. N: In what way?TS N: Nó như thế nào?
S: What self-deception! Norcross, Dubri, and I tell Trinian his choice to be a churchman had nothing to do with goodness, charity, or spirituality.CT: Một sự từ lừa dối! Norcross, Dubri và tôi bảo Trinian rằng, sự lựa chọn làm giáo sỹ của anh ấy không dính dáng gì đến sự thiện, lòng bác ái, và tính tâm linh.
Dr. N: And what does Trinian’s soul mentally project to you in self-defense?TS N: Và linh hồn Trinian nói gì để tự bào chữa?
S: He tells us he gave solace to many people.CT: Anh ấy bảo chúng tôi rằng, anh ấy mang sự an ủi đến cho nhiều người.
Dr. N: What do you, Norcross and Dubri, tell him in response?TS N: Anh, Norcross và Dubri nói gì để trả lời anh ta?
S: That he is going soft. Norcross tells him he wanted money or otherwise he would have been a simple priest. Ha—that’s telling him— and I’m saying the same thing. You can guess what Dubri thinks about all this!CT: Rằng anh ấy đang đánh mất sự quyết tâm. Norcross bảo Trinian rằng, anh ấy muốn có tiền bạc, nếu không, thì anh ấy đã là một giáo sỹ giản dị. Tôi đồng ý. Và tôi cũng đang nói với Triniam như vậy. Ông có thể đoán, Dubri nghĩ gì về mọi cái này!
Dr. N: No, tell me.TS N: Tôi không đoán ra. Hãy nói cho tôi biết.
S: Humph—that Trinian picked a large city with a rich cathedral— spilling a ton of money into Trinian’s fat pockets.CT: Humph – rằng Trinian chọn một thành phố lớn với một thánh đường giàu có – đổ một tấn tiền bạc vào cái túi “bự” [fat] của anh ấy.
Dr. N: And what do you tell Trinian yourself?TS N: Và chính anh, anh nói gì với Trinian?
S: Oh, I’m attracted to the fancy robes he wore—bright red—the finest of cloth—his Bishop’s ring which he loved—and all the gold and silver around.CT: Ồ, tôi bị hấp dẫn bởi những cái áo thụng cầu kỳ mà anh ấy mặc – màu đỏ tươi, loại vải tốt nhất – cái nhẫn Giám mục mà anh ấy yêu thích và tất cả vàng bạc xung quanh.
I also mention his desire to bask in adulation from his flock. Tôi cũng nói đến lòng ham muốn của anh ấy – muốn tắm mình trong sự nịnh hót từ đám con chiên của anh ấy.
Trinian can hide nothing from us—he wanted an easy, cushy life where he was well-fed. Trinian không thể giấu chúng tôi cái gì – anh ấy muốn một cuộc sống dễ dãi, nhẹ nhàng, được “vỗ béo.”
Dr. N: Does he try to explain his motivations for choosing this life?TS N: Anh ta có cố gắng giải thích những động cơ cho việc chọn cuộc sống này?
S: Yes, but Norcross reproaches him. He confronts Trinian on seducing a young girl in the vestry. (jovially) Yes, it actually happened!CT: Vâng, nhưng Norcross trách mắng anh ấy. Đối chất Trinian về việc quyến rũ một cô gái trẻ tại phòng họp nhà thờ. [cởi mở] Vâng, nó thực sự xảy ra!...
… So much for providing solace to parishioners. We know Trinian for who he really is—an outright rogue!Cái đó gọi là “mang lại sự an ủi cho giáo dân”! Chúng tôi biết con người thực của Trinian – một tên đểu cáng từ đầu đến chân!
Dr. N: Does Trinian offer any excuses to the group for his conduct?TS N: Trinian có đưa ra lời bào chữa nào về cách hành xử của anh ta không?
S: (subject becomes quieter) Oh, the usual.CT: [trở nên điềm đạm hơn] Ồ, như thường lệ.
He got carried away with the girl’s need for him—she had no family—he was lonely in his choice of a celibate church life. Rằng anh ấy bị lôi đi, bởi vì cô gái cần anh ấy – cô ta không có gia đình – còn anh ấy thì cô đơn khi chọn đời giáo sỹ, độc thân.
He says he was trying to get away from the customary lives we all choose by going into the church— that he fell in love with the girl. Anh ấy nói, đang cố tránh xa cuộc sống quen thường mà tất cả chúng ta chọn bằng cách đi vào trong nhà thờ – rằng anh ấy yêu cô gái.
Dr. N: And how do you, Norcross and Dubri, feel about Trinian now?TS N: Bây giờ, anh, Norcross và Dubri cảm thấy thế nào về Trinian?
S: (severely) We think he is trying to follow Vilo (as an advancing soul), but he failed. His pious intentions just didn’t work for him.CT: [nghiêm khắc] Chúng tôi nghĩ, anh ấy đang cố bắt chước Vilo [như là một linh hồn đang tiến hóa], nhưng anh ấy thất bại. Những ý định tốt lành của anh ấy không đưa tới kết quả mong muốn.
Dr. N: Allum, you sound rather cynical about Trinian’s attempts to improve himself and make changes. Tell me honestly, how do you feel about Trinian?TS N: Allum, anh có vẻ khinh bạc [cynical] về những nỗ lực của Trinian trong việc tự cải thiện và làm những thay đổi. Hãy nói thành thật, anh cảm thấy thế nào về Trinian?
S: Oh, we are just teasing him … after all…CT: Ồ, chúng tôi chỉ trêu chọc anh ấy thôi…dù sao đi nữa…
Dr. N: Your amusement sounds as if you are scornful over what may have been Trinian’s good intentions.TS N: Có vẻ như các anh đang chế nhạo cái mà có thể là ý định định tốt lành của Trinian.
S: (sadly) You’re right … and we all know that … but, you see … Norcross, Dubri, and I … well, we don’t want to lose him from the group, too …CT: [buồn bã] Ông nói đúng…và tất cả chúng tôi cũng biết điều đó…Norcross, Dubri và tôi…ờ, chúng tôi cũng không muốn mất anh ấy trong nhóm chúng tôi.
Dr. N: What does Vilo say about Trinian?TS N: Vilo nói gì về Trinian?
S: He defends Trinian’s original good intentions and tells him that he fell into a trap of self-gratification during this life in the church.CT: Vilo bênh vực những ý định tốt lành nguyên thủy của Trinian, và bảo Trinian rằng, anh ấy đã rơi vào cái bẫy của sự tự-mãn trong kiếp sống của anh ấy trong nhà thờ.
Trinian wants too much admiration and attention. Trinian cũng quá khao khát sự ngưỡng mộ và sự trọng vọng.
Dr. N: Forgive me for passing judgment on your group, Allum, but it seems to me this is something you all want, except perhaps Vilo?TS N: Allum, hãy tha thứ cho tôi, về việc phán đoán nhóm của anh. Nhưng tôi thấy, có vẻ như tất cả các anh – có lẽ, trừ ra Vilo – đều muốn được ngưỡng mộ. Đúng không?
S: Hey, Vilo can be pretty smug.CT: Ồ, có lẽ, Vilo khá tự mãn.
Let me tell you, his problem is conceit and Dubri tells him that in no uncertain terms. Có thể nói, vấn đề của anh ấy là tính tự cao và Dubri nói thẳng thừng với anh ấy như thế.
Dr. N: And does Vilo deny it?TS N: Và Vilo có phủ nhận điều đó không?
S: No, he doesn’t … he says at least he is working on it.CT: Không, anh ấy không phủ nhận…anh ấy nói, ít ra, anh ấy đang tìm cách cải thiện nó.
Dr. N: Who among you is the most sensitive to criticism?TS N: Trong số các anh, ai là người nhạy cảm nhất trước sự chỉ trích?
S: (pause) Oh, I guess it would be Norcross, but it’s hard for all of us to accept our faults.CT: [ngừng một lát] Ồ, tôi đoán, đó sẽ là Norcross, nhưng tất cả chúng tôi đều thấy khó mà tự nhận lỗi của mình.
Dr. N: Level with me, Allum. Does it bother the members of your soul group when things can’t be hidden from the others—when all your shortcomings in a past life are revealed?TS N: Hãy thành thật với tôi, Allum. Như anh cho biết, trong thế giới linh hồn, không ai có thể che giấu ai điều gì – và mọi khuyết điểm trong một kiếp quá khứ đều bị tiết lộ. Các anh có bận tâm về điều đó không?
S: (pause) We are sensitive about it—but not morbid.CT: [ngừng một lát] Chúng tôi nhạy cảm về điều đó – nhưng không bệnh hoạn.
There is great understanding here among us. Ở đây, chúng tôi đều hiểu rõ nhau.
I wanted to give artistic pleasure to people and grow through the meaning of art. Tôi muốn mang đến lạc thú nghệ thuật cho người khác và phát triển tâm linh thông qua ý nghĩa của nghệ thuật.
So, what did I do? I ran around the Amsterdam canals a lot at night and got caught up in the fun and games. Như thế, tôi đã làm gì? Vào ban đêm, tôi thường chạy quanh những con kênh đào của Amsterdam, và bị kẹt trong những trò chơi và sự ham vui.
My original purpose was pushed aside. Mục đích nguyên thủy của tôi bị đẩy sang một bên.
Dr. N: If you admit all this to the group, what kind of feedback do you get? For example, how do you and Norcross regard each other?TS N: Nếu anh thừa nhận điều này trước nhóm, thì anh nhận được loại phản hồi nào? Thí dụ, anh và Norcross xem nhau như thế nào?
S: Norcross often points out I hate to take responsibility for myself and others. With Norcross it’s wealth … he loves power … but we are both selfish … except that I am more vain. Neither of us gets many gold stars.CT: Norcross thường hay vạch ra rằng, tôi không ưa nhận trách nhiệm về chính mình và những kẻ khác. Còn tôi, thì tôi thấy Norcross yêu sự giàu sang, quyền lực…cả hai chúng tôi đều ích kỷ…nhưng tôi tự phụ tự đắc nhiều hơn. Không ai trong chúng tôi đạt nhiều “ngôi sao vàng.”
Dr. N: How does Dubri fit into your group with his faults?TS N: Với những lỗi lầm của anh ta, làm thế nào Dubri có thể phù hợp với nhóm của anh?
S: He enjoys controlling others by leadership. He is a natural leader, more than the rest of us.CT: Anh ấy ưa kiểm soát và lãnh đạo những người khác. Anh ấy là một “lãnh tụ” bẩm sinh, so với những người còn lại trong nhóm tôi.
He was a sea captain—a pirate—one tough individual. You wouldn’t want to cross him.Anh ấy đã từng là một thuyền trưởng – một tên cướp biển – một tên đầu gấu. Không ai muốn chống đối anh ấy.
Dr. N: Was he cruel?TS N: Anh ta đã từng tàn nhẫn?
S: No, just hard.CT: Không, chỉ cứng rắn thôi.
He was respected as a captain. Anh ấy được kính trọng như là một thuyền trưởng.
Dubri was merciless against his opponents in sea battles, but he took care of his own men. Dubri tàn nhẫn với những đối thủ trong những trận hải chiến, nhưng anh ấy chăm sóc thuộc hạ của mình.
Dr. N: You have told me that Vilo assisted people who were in need on the road, but you haven’t said much about the positive side of your lives.TS N: Anh đã nói với tôi rằng, Vilo giúp đỡ những người lỡ bước trên đường, nhưng anh chưa nói nhiều về khía cạnh tích cực của đời các anh.
Is anyone in your group given any gold stars for unselfish acts? Có ai trong nhóm được tặng những” ngôi sao vàng” cho những hành vi vị tha?
S: (intently) There is something else about Dubri …CT:: [sôi nổi] Có một cái gì khác về Dubri ...
Dr. N: What is that?TS N: Cái gì vậy?
S: He did one outstanding thing. Once, during heavy seas, a sailor fell off the mast into the ocean and was drowning. Dubri tied a line around his waist and dove off the deck. He risked his life and saved a shipmate.CT: Anh ấy đã làm một điều nổi trội. Một lần, trong cơn biển động, một thủy thủ rơi từ cột buồm xuống biển, và sắp chết đuối. Anh ấy cột một sợi dây xung quanh thắt lưng mình và nhảy xuống. Anh ấy liều mình và đã cứu sống thủy thủ đó.
Dr. N: When this incident is discussed in your group, how do you all respond to Dubri?TS N: Khi việc này được thảo luận trong nhóm anh, thì mọi người đáp ứng thế nào với Dubri?
S: We praise him for what he did with admiration in our minds. We came to the same conclusion that none of us could match this single act of courage in our last lives.CT: Chúng tôi khen ngợi anh ấy, với sự ngưỡng mộ trong tâm hồn. Chúng tôi đi tới cùng một kết luận rằng, trong những kiếp quá khứ của mình, không ai trong chúng tôi có được hành vi dũng cảm như vậy.
Dr. N: I see. Yet, Vilo’s life at the inn, feeding and housing people who could not pay him, may represent acts of unselfishness for a longer term and therefore is more praiseworthy?TS N: Tôi hiểu. Thế nhưng, cuộc đời của Vilo tại quán trọ – cung cấp thức ăn và chỗ trọ cho những người khác, vốn không có đủ tiền để trả – có thể đại diện cho những hành vi vị tha trong thời gian lâu hơn, và do vậy, đáng khen hơn?
S: Granted, and we give him that. (laughs) He gets more gold stars than Dubri.CT: Đồng ý. Và chúng tôi ca ngợi anh ấy. [cười] Anh ấy có nhiều ngôi sao vàng hơn Dubri.
Dr. N: Do you get any strokes from the group for your last life?TS N: Trong kiếp sống vừa qua của mình, anh có hành vi nào bị nhóm anh chỉ trích nặng nề không?
S: (pause) I had to scramble for patrons to survive as a painter, but I was good to people … it wasn’t much … I enjoyed giving pleasure. My group recognizes I had a good heart.CT: [ngừng] Cũng không nhiều lắm. Tôi đã phải chạy vạy kiếm những nhà bảo trợ để sống sót như là họa sỹ, nhưng tôi đối xử tốt với mọi người…tôi thích mang lại niềm vui thú. Nhóm tôi công nhận rằng, tôi có tâm địa tốt.
Every one of my clients has special attachments to their soul group, regardless of character makeup.CHÚ THÍCH: Mọi người trong số những thân chủ của tôi đều có những gắn bó đặc biệt với nhóm linh hồn của mình, bất kể tính cách của họ ra sao.
People tend to think of souls in the free state as being without human deficiencies. Người ta có khuynh hướng nghĩ rằng, những linh hồn trong tình trạng tự do [không bị thể xác ràng buộc], thì không có những thiếu sót vốn có của con người.
Actually, I think there are many similarities between groups of souls close to each other and human family systems. Thực ra, tôi nghĩ, có nhiều tương tự giữa những nhóm linh hồn thân thiết với nhau và những [hệ thống] gia đình của con người [ở Cõi Trần].
For instance, I see Norcross as the rebellious scapegoat for this group of souls, while he and Allum are the inventory takers for everyone’s shortcomings. Chẳng hạn, tôi thấy Norcross như là kẻ nổi loạn của nhóm linh hồn này, trong khi anh ta và Allum là “người kiểm kê” những khuyết điểm của mọi người trong nhóm.
Allum said Norcross is usually the first to openly scrutinize any rationalizations or self-serving justifications of past life failures offered by the other members. Allum nói rằng, Norcross thường là người đầu tiên công khai xem xét kỹ bất cứ lý lẽ nào do những thành viên khác đưa ra để biện minh cho những thất bại của họ trong kiếp quá khứ.
He appears to have the least self-doubt and emotional investment over standards of conduct. Anh ta có vẻ như có ít lòng tự-nghi và ít “sự đầu tư cảm xúc”(109) [emotional investment] nhất đối với những tiêu chuẩn hành vi.
This may define his own insecurity, because Norcross is probably fighting the hardest to keep up with the advancing group. Điều này có thể nói lên nỗi bất an của chính anh ta, bởi vì rất có thể, Norcross đang chiến đấu cam go nhất để bắt kịp nhóm của mình, nó đang tiến lên.
I suspect Allum himself could be the group’s mascot (often the youngest child in human families), with all his clowning around, preening, and making light of serious issues.Tôi ngờ rằng, Allum, chính anh ta, có thể là “bùa hộ mạng”[mascot](110) của nhóm [thường là đứa con út trong gia đình] – ưa đùa cợt, hài lòng về chính mình, và xem nhẹ những vấn đề nghiêm trọng.
Some souls in spiritual groups do seem to me to be more fragile and protected than other group members.Tôi thấy, vài linh hồn trong những nhóm linh hồn thực sự có vẻ như dễ bị tổn thương và được che chở hơn những thành viên khác.
Vilo’s conduct demonstrates he is the current hero (or eldest family member), with his drive for excellence. Cách hành xử của Vilo cho thấy rằng, hiện nay, anh ta là “nhân vật chính” [hay niên trưởng] của nhóm, đang phấn đấu đạt tới sự xuất chúng.
I have the impression from Allum that Vilo is the least defiant of the group, partly because he has the best record of achievement in recent past lives. Qua tường thuật của Allum, tôi có ấn tượng rằng, Vilo là kẻ ít ương ngạnh [defian] nhất của nhóm, một phần bởi vì anh ta có thành tích tốt nhất trong những kiếp quá khứ gần đây.
Just as in human family systems, the roles of spiritual group members can be switched around, but I was told Vilo’s kinetic energy is turning pink, signaling his growth into Level II.Giống như trong những hệ thống gia đình, những vai trò của những thành viên nhóm linh hồn có thể được luân chuyển, nhưng tôi được cho biết rằng, năng lượng của Vilo đang chuyển sang màu hồng, tín hiệu cho thấy sự phát triển của anh ta sang cấp độ II.
I attach human labels on ethereal spirits because, after all, souls who come to Earth do show themselves through human characteristics.Tôi dán những cái nhãn con người cho những linh hồn, bởi vì, nói gì đi nữa, thì những linh hồn về Cõi Trần thực sự tự biểu hiện chính mình thông qua những đặc điểm con người.
However, I don’t see hatred, suspicion, and disrespect in soul groups. Tuy nhiên, tôi không thấy sự thù hận, nghi ngờ, và sự bất kính trong những nhóm linh hồn.
In a climate of compassion, there are no power struggles for control among these peer groups whose members are unable to manipulate each other or keep secrets. Trong bầu không khí của lòng từ bi, không có những cuộc tranh giành quyền lực giữa những nhóm cùng mức phát triển này, mà trong đó, những thành viên của chúng không thể “điều khiển” nhau, hay giữ bí mật.
Souls distrust themselves, not each other.Những linh hồn nghi ngờ chính mình, chứ không nghi ngờ nhau.
I do see fortitude, desire, and the will to keep trying in their new physical lives.Tôi thực sự thấy sự ngoan cường, ước mơ, và ư chí tiếp tục cố gắng trong những cơ thể vật lý của chúng.
In an effort to confirm some of my observations about the social dynamics among spiritual group members in this case, I ask Allum a few more questions.Trong một nỗ lực để xác nhận một vài trong số những quan sát của tôi – về sự tương tác giữa những thành viên nhóm trong ca này – tôi hỏi Allum thêm vài câu hỏi.
Dr. N: Allum, do you believe your criticism of each other is always constructive?TS N: Allum, anh có tin rằng, sự phê bình lẫn nhau là luôn luôn bổ ích?
S: Sure, there is no real hostility. We have fun at each other’s expense— I admit that—but it’s just a form of … acknowledgement of who we really are, and where we should be going.CT: Chắc chắn rồi. Không có sự thù địch thực sự. Chúng tôi đùa vui “trên sự đau khổ của nhau” – tôi thừa nhận điều đó – nhưng đó chỉ là một hình thức…công nhận con người thực của chúng tôi, và chúng tôi nên đang đi tới đâu.
Dr. N: Is any member of your soul group ever made to feel shame or guilt about a past life?TS N: Có bao giờ một thành viên bị làm cho xấu hổ hay cảm thấy tội lỗi về một kiếp sống quá khứ?
S: Those are … human weapons … and too narrow for what we feel.CT: Đó là…những vũ khí của con người…và quá hạn hẹp đối với những gì mà chúng tôi cảm thấy.
Dr. N: Well, let me approach your feelings as a soul in another way. Do you feel safer getting feedback from one of your group members more than another?TS N: Vậy, hãy cho phép tôi tiếp cận những cảm xúc của [linh hồn] anh trong một cách khác. Khi nhận phản hồi từ những thành viên nhóm, anh có cảm thấy an toàn hơn khi nó đến từ một thành viên nào đó, so với từ một thành viên khác?
S: No, I don’t. We all respect each other immensely. The greatest criticism comes from within ourselves.CT: Không, tất cả chúng tôi đều hết sức tôn trọng nhau. Sự chỉ trích lớn nhất đến từ bên trong chính mình.
Dr. N: Do you have any regrets for your conduct in any past life?TS N: Anh có hối tiếc về sự hành xử của anh trong một kiếp quá khứ nào không?
S: (long pause) Yes … I feel sorry if I have hurt someone … and … then have everyone here know all about my mistakes. But we learn.CT: [ngừng lâu] Vâng…nếu tôi đã làm tổn thương một ai đó, thì tôi hối hận, và nói cho mọi người biết về những sai lầm của mình. Nhưng chúng tôi rút ra những bài học.
Dr. N: And what do you do about this knowledge?TS N: Và các anh làm cái gì về sự hiểu biết này?
S: Talk among ourselves … and try to make amends the next time.CT: Trao đổi với nhau…và cố sửa chữa trong lần sau.
Dr. N: From what you told me earlier, I had the idea that you, Nor-cross, and Dubri might be releasing some pent-up feelings over your own shortcomings by dumping on each other.TS N: Từ những gì anh nói cho tôi biết trước đây, tôi có ý tưởng rằng, anh, Norcross và Dubri có thể đang giải tỏa những cảm xúc bị đè nén đối với những khuyết điểm của chính các anh, bằng cách đổ chúng lên nhau.
S: (thoughtfully) We make cynical remarks, but it’s not like being human anymore. Without our bodies we take criticism a little differently. We see each other for who we are without resentment or jealousy.CT: [trầm tư] Chúng tôi đưa ra những nhận xét khinh bạc, nhưng nó không còn giống như cách của con người. Không có cơ thể, chúng tôi xử lý sự chỉ trích hơi khác một chút. Chúng tôi nhìn nhau như con người thực đang là của mình, mà không oán hận hay ghen tỵ.
Dr. N: I don’t want to put words in your mouth, but I just wondered if all this flamboyance exhibited by your group might indicate underlying feelings of unworthiness?TS N: Tôi không muốn đặt những từ ngữ vào miệng anh, nhưng tôi chỉ tự hỏi, phải chăng tất cả mọi cái khoa trương được phô bày bởi nhóm của anh có thể biểu hiện mặc cảm về sự bất xứng [unworthiness]?
S: Oh, that’s something else again. Yes, we do get discouraged as souls, and feel unworthy about our abilities … to meet the confidence placed in us to improve.CT: Ồ, đó là một cái gì khác. Vâng, với tư cách là những linh hồn, chúng tôi trở nên nản lòng và cảm thấy khả năng của mình… không xứng đáng với sự tin cậy đặt vào chúng tôi – chúng tôi chưa cải thiện được bao nhiêu.
Dr. N: So, while you have self-doubts about yourselves, it’s okay to make cynical remarks about each other’s motivations?TS N: Như thế, mặc dù các anh có lòng tự-nghi [self-doubt] về chính mình, nhưng đưa ra những nhận xét khinh bạc về động cơ của nhau thì cũng tốt?
S: Of course, but we want to be recognized by one another for being sincere in working on our individual programs. Sometimes self-pride gets in the way and we use each other to move past this.CT: Dĩ nhiên, nhưng mỗi người trong chúng tôi đều muốn được công nhận rằng, mình thành khẩn trong việc tiến hành những chương trình [cải thiện] cá nhân. Đôi khi, lòng tự cao xen vào, và chúng tôi sử dụng nhau để vượt qua tật xấu này.
In the next passage of dialogue, I introduce another spiritual phenomenon relating to group healing. I have heard a number of variations about this activity which are supported by the interpretations of Case 21.GHI CHU: Trong đoạn đối thoại kế tiếp, tôi giới thiệu một hiện tượng tâm linh khác, liên hệ tới sự chữa trị của nhóm. Tôi đã nghe nhiều biến thể về hoạt động này, được xác nhận bởi những thuyết minh của ca 21.
Dr. N: Now Allum, as long as we are discussing how your group members relate to each other, I want you to describe the spiritual energy by which you all are assisted in this process.TS N: Bây giờ, Allum, bao lâu mà chúng ta còn đang thảo luận về sự tương tác của các thành viên trong nhóm, tôi muốn anh mô tả cái năng lượng tâm linh mà đã trợ giúp anh trong quá trình này.
S: (hesitant) I’m not sure I can tell you …CT: [lưỡng lự] Tôi không chắc là tôi có thể nói cho ông biết…
Dr. N: Think carefully. Isn’t there another means by which your group is brought into harmony with each other with intelligent energy?TS N: Hãy suy nghĩ kỹ. Há chẳng phải, có một phương tiện khác, một năng lượng thông minh nào đó, đã giúp nhóm của anh hòa điệu với nhau?
S: (long pause) Ah … you mean from the cones?CT:[ngừng lâu] À ... ông muốn nói, từ những “cái nón” [the cones](111)?
Dr. N: (the word “cone” is new to me, but I know I’m on the right track) Yes, the cones. Explain what you know about them relative to your group.TS N: [từ “the cone” là mới mẻ với tôi, nhưng tôi biết mình đang đi đúng đường] Vâng, những cái nón. Hãy giải thích những gì anh biết về chúng, trong quan hệ với nhóm anh.
S: (slowly) Well, the cones do assist us.CT: [chậm rãi] Vâng, những cái nón thực sự trợ giúp chúng tôi.
Dr. N: Please continue, and tell me what the cone does. I think I have heard about this before, but I want your version.TS N: Xin tiếp tục, và nói cho tôi biết, cái nón làm cái gì. Tôi nghĩ, tôi đã nghe nói về cái này trước đây, nhưng tôi muốn nghe “phiên bản” của anh.
S: It’s shaped to go around us, you know.CT: Nó được tạo hình để đi xung quanh chúng tôi, ông biết đó.
Dr. N: Shaped in what way? Try to be more explicit.TS N: Được tạo hình như thế nào? Hãy cố giải thích tường minh hơn.
S: It is cylindrical—very bright—it is above and all around us. The cone is small at the top and wide at the bottom, so it fits over all of us—like getting under a great white cap—we can float under the cone in order to use it.CT: Nó có hình lăng trụ – rất chói lọi – nó ở bên trên và xung quanh chúng tôi. Nó nhỏ ở chóp và rộng ở đáy, do vậy, nó vừa vặn với tất cả chúng tôi, giống như ở dưới một cái nón lớn màu trắng – tất cả chúng tôi có thể trôi bồng bềnh dưới cái nón để sử dụng nó.
Dr. N: Are you sure this isn’t the shower of healing you experienced right after your return to the spirit world?TS N: Anh có chắc rằng, cái này không phải là “vòi sen chữa trị” mà anh trải nghiệm ngay sau khi anh trở lại thế giới linh hồn?
S: Oh no, that was more individual purification—to repair Earth damage. I thought you knew …CT: Ồ, không, cái đó là sự thanh tẩy cá nhân nhiều hơn – để chữa trị những vết thương ở Cõi Trần. Tôi nghĩ, ông biết…
Dr. N: I do. I want you to explain how the cone is different from the shower of healing.TS N: Tôi biết. Nhưng tôi muốn anh giải thích, cái nón khác với vòi sen chữa trị như thế nào.
S: The top funnels energy down as a waterfall in a spreading circle around all of us and allows us to really concentrate on our mental sameness as a group.CT: Năng lượng từ cái chóp đổ xuống như một thác nước, trong một vòng tròn trải rộng xung quanh tất cả chúng tôi và cho phép chúng tôi thực sự tập trung trên sự nhất thể [sameness] của chúng tôi như là một nhóm.
Dr. N: And what do you feel when you are under the cone?TS N: Và anh cảm thấy gì, khi anh ở dưới cái nón?
S: We can feel all our thoughts being expanded … then drawn up … and returned back … with more knowledge added.CT: Chúng tôi có thể cảm thấy mọi ý tưởng của mình đang được nới rộng…rồi được sắp xếp một cách có trật tự…và được trả lại cho mỗi người…với nhiều kiến thức được thêm vào.
Dr. N: Does this intelligent energy help your unity as a group in terms of more focused thinking?TS N: Năng lượng thông minh này có giúp nhóm anh tư duy một cách tập trung hơn, khi nó biến nhóm thành một nhất thể [unity]?
S: Yes, it does.CT: Vâng, nó trợ giúp.
Dr. N: (deliberately confrontational) To be frank with you, Allum, I wonder if this cone is brainwashing your original thoughts? After all, the arguments and disagreements between you and the others of your group are what make you individuals.TS N: [cố tình vặn hỏi] Thành thật với anh, Allum, tôi tự hỏi, liệu cái nón này có đang tẩy não những ý tưởng nguyên thủy của anh? Nói gì thì nói, những tranh biện và những bất đồng giữa anh và những người khác trong nhóm anh, là những cái làm cho anh trở thành cá thể.
S: (laughs) We aren’t brainwashed! Don’t you know anything about the afterlife? It gives us more collective insight to work together.CT: [cười] Chúng tôi không bị tẩy não! Ông không biết gì về thế giới linh hồn sao? Nó cho chúng tôi thêm sự sáng suốt tập thể, để làm việc cùng nhau.
Dr. N: Is the cone always available?TS N: Có phải cái nón luôn luôn “có sẵn”?
S: It is there when we need it.CT: Nó ở đó khi nào chúng ta cần nó.
Dr. N: Who operates the cone?TS N: Ai điều hành cái nón?
S: Those who watch over us.CT: Những ai trông coi, giám sát chúng tôi.
Dr. N: Your guide?TS N: Vị hướng đạo của anh?
S: (bursts out laughing) Shato? I think he is too busy traveling around on his circuit.CT: [bật cười] Shato? Tôi nghĩ, ông ấy quá bận rộn du hành đó đây trên chuyến “kinh lý” của mình.
Dr. N: What do you mean?TS N: Anh muốn nói gì?
S: We think of him as a circus master—a stage manager—of our group.CT: Chúng tôi nghĩ về ông ấy như là một chủ gánh xiếc – một quản lý sân khấu – của nhóm chúng tôi.
Dr. N: Does Shato take an active part in your group deliberations?TS N: Có phải Shato đóng một vai trò tích cực trong nhóm anh trong những buổi thảo luận nhóm?
S: (shakes head) Not really—guides are above a lot of this stuff. We are left on our own quite a bit, and that’s fine.CT: [lắc đầu] Không thực sự như vậy. Những vị hướng đạo thì cao hơn nhiều so với cái thứ này. Chúng tôi được độc lập khá nhiều, và cái đó là tốt đẹp.
Dr. N: Do you think there is one specific reason for the absences of Shato?TS N: Anh có nghĩ, có một lý do đặc biệt cho những lần vắng mặt của Shato?
S: (pause) Oh, he probably gets bored with our lack of progress. He loves to show off as the master of ceremonies though.CT: [ngừng] Ồ, rất có thể, ông ấy trở nên chán, vì chúng tôi tiến bộ chậm như rùa. Mặc dù vậy, ông ấy thích xuất hiện như là MC.
Dr. N: In what way?TS N: Trong cách nào?
S: (chuckling) Oh, to suddenly appear in front of us during one of our heated debates—throwing off blue sparks—looking like a wizard who is an all-powerful moderator!CT: [cười khúc khích] Ồ, đột nhiên xuất hiện trước chúng tôi trong một trong những cuộc tranh luận sôi nổi của chúng tôi, ném ra những tia sáng màu thiên thanh – giống như một phù thủy. Ông ấy là một điều tiết viên [moderator] toàn năng!
Dr. N: A wizard?TS N: Một phù thủy?
S: (still laughing) Shato appears in long, sapphire-blue robes with a tall, pointed hat. With his flowing white beard he looks simply great, and we do admire him.CT:[vẫn đang cười] Shato xuất hiện trong áo thụng màu lam ngọcthiên thanh với một cái mũ cao, nhọn. Với bộ râu dài chảy xuống, ông ấy nom rất phong độ, và chúng tôi thực sự ngưỡng mộ ông ấy.
Dr. N: I get the picture of a spiritual Merlin.TS N: Tôi hình dung ra một Merlin(112) tâm linh.
S: An Oriental Merlin, if you will.CT: Có thể nói, ông ấy là một Merlin phương Đông.
Very inscrutable sometimes. Đôi khi rất bí hiểm.
He loves making a grand entrance in full costume, especially when we are about to choose another life. Ông ấy thích xuất hiện một cách uy nghi, trong bộ lễ phục trang trọng, nhất là khi chúng tôi sắp chọn một kiếp sống khác.
He knows how much we appreciate his act. Ông ấy biết, chúng tôi đánh giá cao hành vi của ông ấy ra sao.
Dr. N: With all this stage management, I am curious if Shato has much emotional connection to your group as a serious guide.TS N: Với mọi sự quản lý [theo kiểu sân khấu] này, tôi tò mò muốn biết, với tư cách là một vị hướng đạo nghiêm túc, liệu Shato có nhiều sự nối kết cảm xúc với nhóm của anh.
S: (scoffing at me) Listen, he knows we are a wild bunch, and he plays to that as a non-conformist himself—but he is also very wise.CT: [chế nhạo tôi] Nghe đây, Shato biết chúng tôi là một lũ hoang dã, nên ông ấy đóng vai một kẻ “không theo lề thói” [non-conformist]. Nhưng ông ấy cũng rất khôn ngoan.
Dr. N: Is Shato indulgent with your group? He doesn’t seem to limit your extravagance very much.TS N: Shato có nuông chiều nhóm của anh? Ông ta có vẻ như không câu thúc quá nhiều.
S: Shato gets results from us because he is not heavy-handed or preachy. That wouldn’t sit well with our people. We respect him.CT: Cách hành xử của ông ấy rất hiệu quả, bởi vì ông ấy không “nặng tay” và “giảng đạo.” Cái đó sẽ không phù hợp với nhóm chúng tôi. Chúng tôi kính trọng ông ấy.
Dr. N: Do you see Shato as a consultant who comes only once in a while to observe, or as an active supervisor?TS N: Anh thấy Shato như là một nhà tư vấn, chỉ thỉnh thoảng đến để quan sát, hay như là một giám thị năng nổ?
S: He will pop in unannounced to set up a problem for our discussions. Then he leaves, coming back later to listen to how we might solve certain things …CT: Ông ấy thường tạt vào không báo trước, để đưa ra một vấn đề cho chúng tôi thảo luận, rồi bỏ đi. Một thời gian sau, ông ấy trở lại để lắng nghe, xem chúng tôi có thể giải quyết những sự việc nào đó ra sao…
Dr. N: Give me an example of a major problem with your group.TS N: Hãy cho tôi một thí dụ về một vấn đề quan trọng với nhóm của anh.
S: (pause) Shato knows we identify too much as actors playing parts on Earth. He hits … on superficiality. He is trying to get us to cast ourselves from the inside out, rather than the reverse.CT: [ngừng một lát] Shato biết chúng tôi là những diễn viên tự đồng hóa mình quá nhiều với những “vai diễn” ở Cõi Trần. Ông ấy chỉ trích…sự hời hợt. Ông ấy đang cố làm cho chúng tôi ném mình từ trong ra ngoài, hơn là ngược lại.
Dr. N: So Shato’s instruction is serious, but he knows you all like to have fun along the way?TS N: Như thế, giáo huấn của Shato là nghiêm túc, nhưng ông ta biết tất cả các anh đều thích vui chơi dọc theo lối đi?
S: Yeah, that’s why Shato is with us, I think. He knows we waste opportunities. He assists us in interpreting the predicaments we get into in order to get the best out of us.CT:Vâng, tôi nghĩ, đó là lý do tại sao Shato đang ở với chúng tôi. Ông ấy biết, chúng tôi đã bỏ phí những cơ hội. Ông ấy trợ giúp chúng tôi trong việc thuyết minh những cảnh ngộ mà chúng tôi rơi vào, để chúng tôi có thể “chuyển họa thành phúc.”
Dr. N: From what you have told me, I have the impression that your spiritual group is run as a kind of workshop directed by your guide.TS N: Từ những gì mà anh đã nói với tôi, tôi có ấn tượng rằng, nhóm của anh được điều hành như một loại hội thảo, được chỉ đạo bởi vị hướng đạo của anh.
S: Yes, he builds up our morale and keeps us going.CT: Vâng, ông ấy bơm cho chúng tôi nhuệ khí, và giữ cho chúng tôi tiếp tục phấn đấu.
Unlike educational classrooms or therapy groups on Earth, I have learned teacher-counselors in the spirit world are not confined as group activity leaders on a continuous basis.CHÚ THÍCH: Không giống như những lớp học hay những nhóm trị liệu ở Cõi Trần, tôi đã học được rằng, vai trò của những giáo viên/cố vấn trong thế giới linh hồn không bị thu hẹp như là thủ lĩnh của hoạt động nhóm, một cách liên tục.
Although Shato and his students are a colorful family of souls, there is much here that is typical of all cluster groups. Mặc dù Shato và những học trò của ông ta là một gia đình linh hồn đầy màu sắc, ở đây có nhiều cái tiêu biểu cho mọi nhóm linh hồn.
A guide’s leadership is more parental than dictatorial. Một vị hướng đạo chỉ đạo bằng lòng yêu thương của bậc bố mẹ hơn bằng sự độc tài.
In this case, Shato is a directive counselor while not being possessive, nor does he pose a threat to the group. Trong ca này, Shato là một cố vấn chỉ đạo nhưng không có tính chiếm hữu, ông ta cũng không đưa ra sự đe dọa nào cho nhóm.
There is warm acceptance of these young souls by this empathic guide, who seems to cater to their masculine inclinations. Vị hướng đạo thấu cảm này dành cho những linh hồn trẻ này sự chấp nhận ấm áp: có vẻ như ông thỏa mãn [đáp ứng] những khuynh hướng nam giới của chúng.
I will close this case with a few final questions about the group as a spiritual unit. Tôi sẽ kết thúc ca này với vài câu hỏi sau cùng về nhóm như là một đơn vị tâm linh.
Dr. N: Why is your group so male-oriented on Earth?TS N: Tại sao, ở Cõi Trần, nhóm của anh quá nghiêng về giới tính nam?
S: Earth is an action planet which rewards physical exertion. We are inclined to male roles so we can grab hold and mold events … to dominate our surroundings … to be recognized.CT: Cõi Trần là một hành tinh năng động, vốn tặng thưởng cho nỗ lực thể xác. Chúng tôi có khuynh hướng nghiêng về những vai trò nam giới, để chúng tôi có thể nắm bắt và “uốn nắn” những biến cố…để thống trị môi trường chúng tôi…để được công nhận.
Dr. N: Women are also influential in society. How can your group hope to progress without more experience in female roles?TS N: Phụ nữ cũng có thế lực trong xã hội. Làm thế nào mà nhóm anh có thể hy vọng tiến bộ mà không có thêm kinh nghiệm trong những vai trò phụ nữ?
S: We know this, but we have such a fierce desire to be independent. In fact, we often expend too much energy for too little return, but the female aspects don’t interest us as much right now.CT:Chúng tôi biết thế, nhưng chúng tôi muốn có sự độc lập: đó là một ước vọng quá cuồng nhiệt. Thực ra, chúng tôi thường hay tiêu phí quá nhiều năng lượng nhưng kết quả chẳng được bao nhiêu; nhưng ngay bây giờ, thì những khía cạnh phụ nữ không hấp dẫn chúng tôi nhiều.
Dr. N: If you have no female counterparts in your immediate group, where do you go for those entities to complement your lives on Earth?TS N: Nếu các anh không có đối tác phụ nữ nào trong nhóm gần gũi của anh, thì anh đi đâu để tìm những thực thể đó, để bổ túc cho kiếp sống của anh ở Cõi Trần?
S: Nearby there are some who relate better to female roles. I get along with Josey—she has been with me in some of my lives—Trinian is attached to Nyala—and there are others …CT: Ở gần đây, có vài người có quan hệ tốt hơn với phụ nữ. Tôi hợp với Josey, cô ấy ở cùng tôi trong vài kiếp sống của tôi. Trinian gắn bó với Nyala – và có những người khác nữa.
Dr. N: Allum, I would like to end our conversation about your spiritual associations by asking you what you know about the origin of your group.TS N: Allum, tôi muốn kết thúc buổi đàm thoại của chúng ta về những kết giao của anh, bằng cách hỏi anh, anh biết gì về nguồn gốc của nhóm anh.
S: (long pause) I … can’t tell you … we just came together at one time.CT: [ngừng lâu] Tôi…không thể nói cho ông biết…chúng tôi chỉ đơn giản đến cùng nhau vào cùng một thời điểm.
Dr. N: Well, someone had to bring those of you with the same attributes together. Do you think it was God?TS N: Vậy, hẳn phải có một ai đó mang những người có cùng những thuộc tính trong các anh lại với nhau. Anh có nghĩ, đó là Thượng đế?
S: (puzzled) No, below the source … the higher ones …CT: [bối rối] Không, dưới “cội nguồn” [the source]... những vị có đẳng cấp cao …
Dr. N: Shato, or other guides like him?TS N: Shato, hoặc những vị hướng đạo giống như ông ta?
S: No, higher, I think … the planners … I don’t know any more.CT: Không, cao hơn, tôi nghĩ thế…những “kẻ hoạch định”…tôi không biết gì thêm.
Dr. N: A while back you told me some of your old friends were reducing their active participation in your group due to their development.TS N: Lúc nãy, anh cho tôi biết về một vài bạn cũ đang giảm bớt sự tham dự tích cực vào nhóm của anh, do sự phát triển của họ.
Do you ever get new members?Các anh có bao giờ có thêm thành viên mới?
S: Never.CT: Không bao giờ.
Dr. N: Is this because a new member might have trouble assimilating with the rest of you?TS N: Có phải vì một thành viên mới có thể có khó khăn trong việc “đồng hóa” với những người còn lại của nhóm?
S: (laughs) We aren’t that bad! It’s just we are too closely connected by thought for an outsider, and they would not have shared our past experiences.CT: [cười] Chúng tôi không quá tệ như thế! Chỉ có điều, chúng tôi quá gắn bó với nhau bằng tư tưởng, nên một người ngoài sẽ không thích hợp, và có lẽ họ cũng không chia sẻ những kinh nghiệm quá khứ của chúng tôi.
Dr. N: During your discussions about these past lives together, does your group believe it contributes to the betterment of human society?TS N: Nhóm của anh có tin rằng, những cuộc thảo luận của các anh về những kiếp quá khứ của nhau, đóng góp vào sự cải thiện xã hội con người?
S: (pause) We want our presence in a community to challenge conventions— to question basic assumptions. I think we bring nerve into our physical lives—and laughter, too …CT: [ngừng một lát] Chúng tôi muốn rằng, sự có mặt của chúng tôi trong một cộng đồng sẽ thách thức những quy ước – tra vấn những giả định căn bản. Tôi nghĩ, chúng tôi mang dũng khí vào trong kiếp sống vật lý của mình – và tiếng cười, nữa…
Dr. N: And when your spiritual group has finished discussing what is necessary to further your aims, do you look forward to a new life?TS N: Và khi nhóm của anh đã hoàn tất việc thảo luận về những gì cần thiết để đẩy mạnh [việc đạt tới] những mục tiêu của các anh, thì các anh có mong đợi một kiếp sống mới không?
S: (zestfully) Oh yeah! Every time I leave for a new role on Earth, I say goodbye with, “See you all back here A.D. (after death).”CT: [sôi nổi] Ồ, vâng! Lần nào rời thế giới linh hồn để đảm nhận một vai trò mới ở Cõi Trần, tôi đều nói lời tạm biệt: “Hẹn gặp tất cả các bạn ở đây, sau công nguyên (sau cái chết).”
This case is an example of like-minded souls with ego-inflating needs who support and validate each other’s feelings and attitudes.CHÚ THÍCH: Ca này là một thí dụ về những linh hồn “đồng thanh đồng khí,” có nhu cầu khẳng định và phát huy cái tôi. Những linh hồn này tán thành và “phê chuẩn” những tình cảm và thái độ của nhau.
Herein lies the key to understanding the formation of soul groups. Chìa khóa để hiểu sự hình thành của những nhóm linh hồn nằm ở đây.
I have learned that many spiritual clusters have sub-groups made up of entities whose identities are linked by similar issues blocking their advancement. Tôi đã học được rằng, nhiều nhóm có tiểu nhóm, cấu thành bởi những thực thể được nối kết với nhau bởi những vấn đề tương tự vẫn đang ngăn chặn sự tiến hóa của chúng.
Even so, these souls do have differences in strengths and weaknesses. Mặc dù vậy, những linh hồn này thực sự có những khác biệt về ưu, khuyết điểm của chúng.
Each group member contributes their best attributes toward advancing the goals of others in the family. Mỗi thành viên đóng góp cái thuộc tính tốt nhất của nó nhằm phát huy những mục tiêu của những người khác trong nhóm.
I do not want to leave the impression from case 21 that the few remaining souls in this inner circle of close friends represent the behavior traits of everyone in the original cluster.Tôi không muốn, với ca 21, để lại ấn tượng rằng, vài linh hồn còn lại trong “nhóm bạn thân thiết” này đại diện cho những nét hành vi của mọi người trong nhóm gốc.
When a primary group of, say fifteen or twenty souls is formed, there are marked similarities in talent and interests. Khi một nhóm chủ yếu – chẳng hạn, có 15 hay 20 linh hồn – được thành lập, có những tương tự rõ nét trong tài năng và những mối quan tâm của chúng.
But a support group is also designed to have differences in disposition, feelings, and reactions. Nhưng một nhóm hỗ trợ cũng được thiết kế sao cho có những khác biệt trong tính nết, cảm xúc, và những phản ứng.
Typically, my subjects report a male-female oriented mixture of one or more of the following character types in their groups: Một cách tiêu biểu, những thân chủ tường thuật rằng, nhóm của họ có nhiều loại tính cách – pha trộn giữa nam giới và nữ giới. Có thể liệt kê như sau:
1) Courageous, resilient, a tenacious survivor.1/ Can đảm, giỏi thích nghi, kiên quyết.
2) Gentle, quiet, devoted, and rather innocent.2/ Dịu dàng, ít nói, tận tụy, và hơi ngây thơ.
3) Fun-loving, humorous, a jokester and risk-taker.3/ Ham vui, hài hước, thích đùa và liều mạng.
4) Serious, dependable, cautious.4/ Nghiêm túc, đáng tin cậy, cẩn trọng.
5) Flamboyant, enthusiastic, frank.5/ Khoa trương, nhiệt tình, thẳng thắn.
6) Patient, steady, perceptive.6/ Kiên nhẫn, kiên trì, sáng suốt.
7) Thoughtful, calculating, determined.7/ Trầm tư, tính toán, cương quyết.
8) Innovative, resourceful, adaptable.8/ Có óc canh tân, cơ trí, thích nghi giỏi.
These differences give a group balance.Những khác biệt này mang đến cho một nhóm sự cân bằng.
However, if an entire group displays a strong tendency toward flamboyance or daring, the most cautious member would appear less so to another group of souls. Tuy nhiên, nếu toàn bộ một nhóm phô bày một khuynh hướng mạnh mẽ về sự khoa trương, hay sự liều lĩnh, thì thành viên cẩn thận nhất sẽ có vẻ bớt khoa trương và liều lĩnh, so với một nhóm linh hồn khác.
There is no question that the souls in Case 21 are in for a long development period. Không có chuyện những linh hồn trong ca 21 sẽ trải qua một giai đoạn phát triển dài.
Yet they do contribute to the vitality of Earth. Thế nhưng, chúng thực sự đóng góp vào cái sinh lực [vitality] của Cõi Trần.
Subsequent questioning of this subject revealed the paths of these souls continue to cross in the twentieth century. Sau khi “tra vấn” chủ thể này thêm, tôi phát hiện rằng, những linh hồn này tiếp tục con đường của chúng trong thế kỷ 20.
For instance, Allum is a graphic designer and part-time professional guitar player involved with Josey, who is a singer. Chẳng hạn, Allum là một nhà thiết kế đồ họa và một guitarist chuyên nghiệp bán thời gian, có quan hệ gắn bó với Josey, một ca sỹ.
The fact that the closely-knit souls in this case were so male-oriented in their physical lives does not take away from their ability to associate with young souls with predominantly female preferences.Sự kiện rằng, những linh hồn khắng khít trong ca này quá ưa thích chọn cơ thể nam giới trong những sống kiếp vật lý của chúng, không lấy mất khả năng của chúng – khả năng kết giao với những linh hồn mới mẻ thích chọn cơ thể nữ giới cho kiếp sống vật lý của chúng.
Cluster groups are gender-mixed. Nhóm thì trộn lẫn về giới tính.
As I have mentioned, truly advanced souls have balanced gender preferences in their physical life choices. Như tôi đã đề cập, những linh hồn nào thực sự phát triển cao, có những sở thích cân bằng về giới tính trong việc chọn lựa cơ thể vật lý của chúng.
The desire for expression of self-identity is an important motivating factor for souls choosing to come to Earth to learn practical lessons.Niềm mơ ước muốn biểu đạt “ý thức về bản sắc của mình” [selfidentity] là một yếu tố mang tính động cơ, thúc đẩy những linh hồn chọn việc trở lại Cõi Trần để học những bài học thực tiễn.
Sometimes a reason for discomfort with the lower level soul is the discrepancy in perception of Self in their free soul state, compared to how they act in human bodies. Đôi khi, một lý do khiến cho linh hồn ở cấp độ thấp cảm thấy bất an, là sự mâu thuẫn [discrepancy] giữa sự tri giác về “Bản ngã” [Self] trong trạng thái tự do của linh hồn, và cách mà chúng hành động trong cơ thể người.
Souls can get confused with who they are in life. Những linh hồn có thể trở nên bối rối với con người mà chúng đang là trong đời.
Case 21 did not seem to exhibit any conflict in this area, but I question the rate of growth achieved by Allum in recent past lives. Ca 21 có vẻ không biểu lộ sự xung đột nào trong khía cạnh này, nhưng tôi hoài nghi cái tốc độ của sự tăng trưởng mà Allum đạt tới trong những kiếp quá khứ gần đây.
However, the basic experience of living a life may compensate, to some extent, for the lack of insight gained from that life. Tuy nhiên, kinh nghiệm căn bản của một kiếp sống, có thể bù trừ, tới mức nào đó, cho sự thiếu sáng suốt trong kiếp sống đó.
Our shortcomings and moral conflicts are recognized as faults far more in the spirit world than on Earth.Trong thế giới linh hồn, chúng ta dễ thừa nhận những thiếu soát và xung đột nội tâm của mình hơn, so với khi còn ở Cõi Trần.
We have seen how the nuances of decision-making are dissected and analyzed in spiritual groups. Chúng ta đã thấy, như thế nào mà những sắc thái tế nhị [nuances] của việc lấy quyết định được “mổ xẻ” và phân tích trong những nhóm linh hồn.
Cluster members have worked together for such a long time in earth years that entities become accountable to each other and the group as a whole. Những thành viên nhóm đã làm việc cùng nhau trong thời gian quá dài trong những năm Cõi Trần, đến nỗi, những thực thể đó trở nên chịu trách nhiệm về nhau và về nhóm như là một toàn bộ.
This fosters a great sense of belonging in all spiritual groups, and can give the appearance of thought barriers between clusters, especially with souls in the lower levels. Điều này vun đắp một cảm thức sâu sắc về “sự thuộc về” trong mọi nhóm linh hồn, và có thể cho cảm tưởng rằng, có những “hàng rào tư tưởng” giữa những cụm, nhất là với những linh hồn ở những cấp độ thấp hơn.
Nevertheless, while rejection and loneliness is part of every soul’s life in human form, in the spirit world our individual ego-identity is contantly enhanced by warm peer group socialization. Tuy nhiên, mặc dù sự khước từ và nỗi cô đơn là thành phần của của mọi “sinh mệnh” của linh hồn trong hình dáng con người, nhưng trong thế giới linh hồn, thì cái “ngã tính” [ego identity] cá nhân của chúng ta thường trực được tôn lên bởi sự tương tác ấm áp giữa các thành viên nhóm.
The social structure of soul groups is not the same as groups of people on Earth.Cái cấu trúc xã hội của những nhóm linh hồn không giống hệt như [cấu trúc] của những nhóm người ở Cõi Trần.
Although there is some evidence of paired friendships, I don’t hear about cliques, stars of attraction, or isolated souls within clusters. Mặc dù có bằng chứng nào đó về “đôi bạn thân thiết,” nhưng tôi không nghe nói về hiện tượng bè phái, những ngôi sao chói sáng, hay những linh hồn bị cô lập bên trong nhóm.
I am told souls do spend time alone in the silence of personal reflection when attached to a group. Tôi được cho biết, khi gắn bó với nhóm, những hồn cũng thực sự trải qua thời gian một mình trong sự yên lặng của suy tư cá nhân.
Souls are intimate entities in their family relationships on Earth and engagement in group community life in the spirit world. Những linh hồn nào từng là những thực thể thâm tình trong những mối quan hệ gia đình của chúng ở Cõi Trần, thì khi trở lại thế giới linh hồn, chúng tham gia vào cuộc sống cộng đồng của nhóm.
And yet, souls do learn much from solitude. Và thế nhưng, những linh hồn thực sự học hỏi nhiều từ sự cô độc.
I understand from my white-light subjects that souls at the beginning levels are frequently separated from their groups to individually work on simple energy projects.Từ những thân chủ có năng lượng trắng, tôi hiểu rằng, những linh hồn ở những cấp độ sơ cấp thường xuyên bị ly cách khỏi những nhóm của chúng để làm việc một cách cá thể trên những dự án năng lượng đơn giản.(113) 
One rather young soul recalled being alone in an enclosure trying to put together a “moving puzzle” of dissembled geometric shapes of cylinders, spheres, cubes and squares with self-produced energy.Một linh hồn khá trẻ hồi tưởng rằng, nó ở trong một khu vực có hàng rào bao quanh, cố gắng ghép lại “một mảnh ghép di động” [moving puzzle] của những hình thể hình học tách rời: hình lăng trụ, hình cầu, hình vuông, hình khối, với năng lượng “tự sản xuất. ”
It was described as being “multi-dimensional, colorful, and holographic” in nature.Mảnh ghép này được mô tả như là đa chiều, nhiều màu sắc, và có 3 chiều [holographic] trong bản chất.
He said, “We have to learn to intensify our energy to bring the diffused and jumbled into focus to give it some kind of basic shape.” Anh ta nói, “Chúng tôi phải học cách tăng cường năng lượng của mình để quy tụ những cái phân tán và hỗn tạp vào một điểm, để mang lại cho chúng một loại hình thể căn bản nào đó.”
Another subject added, “These tests give the Watchers information about our imagination, creativity, and ingenuity, and they offer us encouragement rather than being judgmental.”Một chủ thể khác nói thêm: “Những bài trắc nghiệm này cho những kẻ giám sát thông tin về trí tưởng tượng, tính sáng tạo, và sự khéo léo của chúng ta, và họ mang đến cho chúng ta sự động viên, hơn là sự phán xét.”
Souls on all levels engage in another important activity when they are alone.Khi ở một mình, những linh hồn trên mọi cấp độ dấn mình vào một hoạt động rất quan trọng khác.
They are expected to spend time mentally concentrating on helping those on Earth (or other physical worlds) whom they have known and cared about. Chúng được mong đợi trải qua thời gian tập trung trên việc giúp [bằng thần thức] những ai ở Cõi Trần [hay những thế giới vật lý khác] mà chúng đã biết và quan tâm.
From what I can gather, they go to a space some call the place of protection. Từ những gì tôi có thể thu thập, thì chúng đi tới một không gian mà một vài người gọi là nơi để “phóng năng lượng. ”
Here they enter an “interdimensional field of floating, silvery-blue energy,” and project outward to geographical area of their choosing.Ở đây, chúng đi vào một “trường giao thoa các chiều kích” của năng lượng bồng bềnh, màu bạc-thiên thanh, phóng ra ngoài đến một khu vực địa lý do chúng chọn lựa.
I am told this is a mental exercise in “holding and releasing positive vibrational energy to create a territory.” Tôi được cho biết, đây là một bài tập tinh thần trong việc “nắm giữ và phóng thích năng lượng rung động tích cực, để tạo ra một lãnh thổ.”
This means souls ride on their thought waves to specific people, buildings, or a given area of land in an attempt to comfort or effect change.Điều này có nghĩa là, những linh hồn “cưỡi” trên những làn sóng tư tưởng của chúng, đến những người, những tòa nhà cụ thể, hay một vùng đất nhất định, trong một cố gắng để mang đến sự an ủi hay tạo ra sự thay đổi nào đó.