CHƯƠNG XV. TÁI SINH

15. RebirthCHƯƠNG XV. TÁI SINH
WE have seen how a soul’s decision to come forward into the next life at a specific time and place on Earth involves an ordered progression of spiritual planning.Chúng ta đã thấy, trước khi một linh hồn quyết định tình nguyện tái sinh về Cõi Trần, ở một thời điểm và nơi chốn nhất định, thì nó đã trải qua một quá trình tiệm tiến, với những trù hoạch có trật tự.
As I bring the soul consciousness of my subjects nearer to the moment of their exit from the spirit world, most become quietly introspective, while others engage in light bantering with their friends. Trong khi tôi mang “ý thức” của linh hồn các chủ thể đến gần hơn cái khoảnh khắc mà nó đi ra khỏi thế giới linh hồn, thì đa số trở nên lặng lẽ, trầm tư [hướng nội], trong khi những linh hồn khác tham gia vào việc đùa giỡn vô tư với bạn của chúng.
These reactions toward what lies ahead depend more upon the individual soul than on the length of time since a last incarnation. Những phản ứng này trước những gì nằm đằng trước mặt, tùy thuộc vào mỗi linh hồn cá nhân, hơn là [tùy thuộc vào] khoảng thời gian kể từ lần đầu thai vừa qua.
Rebirth is a profound experience.Tái sinh là một kinh nghiệm sâu xa.
Those souls getting ready for embarkation to Earth are like battle-hardened veterans girding themselves for combat. Những linh hồn chuẩn bị sẵn sàng cho việc xuống tàu về Cõi Trần, giống như những cựu chiến binh dày dạn, nai nịt gọn gàng cho cuộc chiến đấu.
This is the last chance for souls to enjoy the omniscience of knowing just who they are before they must adapt to a new body. Đây là cơ hội cuối cùng cho những linh hồn sắp rời bỏ sự “toàn trí” [omniscience] của thế giới linh hồn – nơi mà chúng biết mình là ai – trước khi chúng phải thích nghi với một cơ thể mới.
My last case involves the soul of a woman who offers us a well-defined description of her most recent passage to Earth. Ca cuối cùng của tôi với linh hồn của một phụ nữ, cung cấp cho chúng ta một mô tả chính xác về cuộc du hành trở lại Cõi Trần gần đây nhất của cô.
- Case 29
- Ca 29
Dr. N: Has the time arrived for you to be reborn into your next life?TS N: Có phải đã đến thời điểm cô tái sinh vào kiếp sắp tới của mình?
S: Yes, it has.CT: Vâng, đến rồi.
Dr. N: What is uppermost in your mind about returning to Earth?TS N: Cái gì nổi bật nhất trong tâm trí cô về việc trở lại Cõi Trần?
S: The opportunity to live in the twentieth century.CT: Cơ hội sống trong thế kỷ 20.
It’s an exciting time of many changes. Đó là một thời đại hào hứng, có nhiều thay đổi.
Dr. N: And have you seen this life, or at least parts of it, in advance?TS N: Và cô đã “thấy trước” kiếp sống này, hay ít nhất, một phần của nó?
S: Yes … I’ve been through that … (subject seems distracted)CT: Vâng tôi đã từng duyệt qua nó…[chủ thể có vẻ bị chia trí]
Dr. N: Is there something else you want to talk to me about concerning your next incarnation?TS N: Có cái gì khác mà cô muốn nói với tôi, về lần đầu thai kế tiếp của cô?
S: I am having a last talk with Pomar (subject’s guide) on all the alternatives to my project (life).CT: Tôi đang có một cuộc trao đổi cuối cùng với Pomar [vị hướng đạo của chủ thể] về tất cả những “phương án thay thế” trong cái dự án [kiếp sống] của tôi.
Dr. N: Might this be considered a final exit interview with Pomar?TS N: Có thể, đây được xem là buổi tham vấn cuối cùng với Pomar?
S: Yes, I suppose it would.CT: Tôi cho rằng như vậy.
Dr. N: Would it help you to talk to me about the contingency plans you have for the next life?TS N: Nó sẽ giúp cô vạch ra những kế hoạch “lâm thời” [contingen] cho kiếp sắp tới?
S: (voice is dry and rather thin) I … think I have them straight …CT: [giọng khô khan và hơi nhỏ] Tôi…nghĩ tôi đã giải thích chúng rõ ràng …
Dr. N: How did your recognition class go?TS N: Lớp học nhận diện của cô diễn ra như thế nào?
I assume that phase of your preparation is complete? Tôi cho rằng, giai đoạn đó trong sự chuẩn bị của cô đã hoàn tất, đúng không?
S: (still distracted) Uh-huh … I’ve met with the rest (of the participants) for my project.CT: [vẫn còn ngơ ngác] Uh-hu…Tôi đã gặp những người còn lại [trong số những tham dự viên](154) cho dự án của tôi.
Dr. N: Are the recognition signs clear in your mind for meeting the right souls at the right time?TS N: Những “dấu hiệu nhận diện” có rõ ràng trong tâm trí cô, để gặp đúng những linh hồn, vào đúng thời điểm?
S: (nervous laugh) Ah … the signals … my compacts with people … yes, that’s all done.CT: [cười một cách bồn chồn] À…những tín hiệu…những “đàm phán” của tôi với những con người…vâng, tất cả xong rồi.
Dr. N: Without analyzing or censoring your impressions in any way, tell me what you are feeling at this moment.TS N: Không phân tích hay “kiểm duyệt” những ấn tượng của cô trong bất cứ cách nào, hãy nói cho tôi biết, cô đang cảm thấy gì vào khoảnh khắc này?
S: I’m … just … gathering myself for … the big jump into a new life … there is apprehension … but I am excited, too …CT: Tôi chỉ đang…thu hết sức lực cho…cú nhảy quan trọng vào trong một kiếp sống mới…có sự lo âu…nhưng tôi cũng hào hứng nữa.
Dr. N: Are you a little scared and perhaps wondering if you should go to Earth at all?TS N: Cô có thấy đôi chút sợ hãi, hay có lẽ, đang tự hỏi, có nên trở lại Cõi Trần hay không?
S: (pause and then more cheerfully) A little … concern … for what lies ahead of me … leaving my home here … but happy, too, at the opportunity.CT: [ngừng và vui vẻ hơn] Một chút…lo ngại…về cái nằm đằng trước mặt tôi…rời bỏ “ngôi nhà” [home] của tôi ở đây…nhưng cũng hạnh phúc trước cơ hội này.
Dr. N: So you have mixed emotions about leaving the spirit world?TS N: Như vậy, cô có những cảm xúc lẫn lộn về việc rời bỏ thế giới linh hồn?
S: Most of us do, as our time draws near.CT: Phần lớn chúng tôi đều như vậy, khi thời gian đến gần.
I have second thoughts before some lives … but Pomar knows when I am lagging behind my schedule—you can’t hide anything here, you know. Trước vài kiếp sống, tôi có những “suy nghĩ lại”…nhưng Pomar biết khi nào tôi đang tụt hậu so với kế hoạch của mình – ở đây, chúng ta không thể che giấu bất cứ cái gì, ông biết đó.
Dr. N: Okay, let’s assume it’s a go situation for your next life.TS N: Tốt, chúng ta hãy giả định rằng, cô đã quyết định tái sinh.
On the count of three, your decision to return at an appointed time is firm and you are in the final stage to leave the spirit world. Khi tôi đếm 3, thì cô đã dứt khoát quyết định trở lại Cõi Trần vào một thời điểm nhất định, và cô đang ở chặng cuối cùng, sắp rời thế giới linh hồn.
 One, two,three! Describe to me what happens to you now. Một, hai, ba! Hãy mô tả cho tôi cái gì xảy ra cho cô bây giờ.
S: I say goodbye to everyone. This can be … difficult.CT: Tôi nói lời tạm biệt với mọi người…việc này có thể…khó khăn.
(tosses her head back with resolution) Anyway, they all wish me well and I move away from them … drifting alone. [hất đầu ra sau với sự cương quyết] Dù sao đi nữa, tất cả họ chúc tôi mọi điều tốt đẹp, và tôi di chuyển ra xa họ…trôi dạt một mình.
There is no great rush … Pomar allows me to collect my thoughts. Không có sự vội vàng hối hả, Pomar để cho tôi tập hợp những ý nghĩ của mình.
When I am quite ready he comes to escort me … to offer encouragement … reassurance … and he knows when I am prepared to go. Khi tôi hoàn toàn sẵn sàng, ông ấy hộ tống tôi…cho tôi sự động viên…sự trấn an…và ông ấy biết khi nào tôi sẵn sàng đi.
Dr. N: I sense that you are now more upbeat about the prospect of rebirth.TS N: Tôi cảm nhận rằng, bây giờ cô lạc quan nhiều hơn về cái viễn tượng tái sinh.
S: Yes, it’s a period of inspiration and expectations … a new body … the course ahead …CT: Vâng, đó là giai đoạn đầy cảm hứng và kỳ vọng…một cơ thể mới và con đường trước mặt.
I now prepare this subject to leave the spirit world for the last time before her current life.CHÚ THÍCH: Bây giờ là lần cuối cùng tôi chuẩn bị cho chủ thể này rời thế giới linh hồn, trước kiếp sống hiện nay của cô.
I am as careful here as when I brought her into the spirit world for the first time following normal age-regression. Tôi cẩn thận ở đây, cũng như khi tôi đưa cô vào trong thế giới linh hồn lần đầu tiên, theo sau việc hồi nhớ bình thường về thời thơ ấu.
Starting with a reinforcement of the protective energy shield already placed around this subject, I apply additional conditioning techniques to keep her soul in proper balance with the mind of the child she is joining on Earth. Bắt đầu với một sự củng cố cái “lá chắn bảo vệ,”(155) đặt xung quanh chủ thể này, tôi áp dụng thêm một số kỹ thuật khác, để giữ cho linh hồn này cân bằng thích đáng với tâm trí của đứa bé mà cô đang kết nối ở Cõi Trần.
Dr. N: All right, you and Pomar are together for your exit from the spirit world.TS N: Được rồi, Pomar đang ở đây để hỗ trợ cô rời bỏ thế giới linh hồn.
I want you to go deep inside yourself and explain to me what you do next as if it were happening in slow motion. Tôi muốn cô đi sâu vào trong chính mình và giải thích cho tôi những gì xảy ra kế tiếp cho cô, như thể nó đang xảy ra chầm chậm.
 Go! Hãy lên đường!
S: (pause) We … begin to move … at a greater speed. Then I am aware of Pomar … detaching from me … and I am alone.CT: [ngừng] Chúng tôi…bắt đầu di chuyển…với tốc độ cực lớn…Rồi tôi ý thức rằng Pomar…tách khỏi tôi…tôi đang ở một mình.
Dr. N: What do you see and feel?TS N: Cô thấy và cảm thấy những gì?
S: Oh, I …CT: Ồ, tôi…
Dr. N: Stay with it! You are alone and moving faster.TS N: Hãy lưu lại với nó! Cô đang một mình và đang di chuyển nhanh hơn.
Then what? Rồi sao nữa?
S: (in a faint voice) … Away … slanting away … through pillows of whiteness … moving away …CT: [khe khẽ] Đi ra xa…theo chiều xuống dốc…thoai thoải…xuyên qua những cái gối màu trắng…đi ra xa…
Dr. N: Stay with it! Keep going and report back to me.TS N: Hãy lưu lại với nó! Hãy tiếp tục đi và tường thuật cho tôi.
S: Oh, I’m … passing through … folds of silky cloth … smooth … I’m on a band … a pathway … faster and faster …CT: Ồ, tôi đang…băng qua…những nếp gấp của tấm vải óng mượt…phẳng phiu…tôi đang ở trên một dải băng [band]…một lối đi…mỗi lúc một nhanh hơn.
Dr. N: Keep going! Don’t stop talking to me.TS N: Hãy tiếp tục đi! Hãy ngừng nói chuyện với tôi.
S: Everything is blurred … I’m sliding down … down into a long, dark tube … a hollow feeling … darkness … then … warmth!CT: Mọi sự bị mờ đi…Tôi đang trượt xuống…một cái ống dài, tối om, rỗng…bóng tối…rồi…hơi ấm!
Dr. N: Where are you now?TS N: Bây giờ cô đang ở đâu?
S: (pause) I’m aware of being inside my mother.CT: [ngừng] Tôi nhận biết rằng, tôi đang ở bên trong mẹ tôi.
Dr. N: Who are you?TS N:: Cô là ai vậy?
S: (chuckles) I’m in a baby—I’m a baby.CT: [cười khúc khích] Tôi đang ở trong một hài nhi – tôi là một hài nhi.
The hollow tube effect described by my cases is apparently not the mother’s birth canal.CHÚ THÍCH: Cái hiệu ứng về một cái ống lõm được mô tả bởi những ca của tôi, rõ ràng không phải là cái “cửa sinh” [birth canal] của người mẹ.
It is similar to the tunnel souls pass through at physical death and may be the same route. Nó giống như cái đường hầm mà những linh hồn băng qua ở cái chết vật lý, và có thể là cùng một lộ trình.
The reader might wonder why I would take more care with the act of birthing when I have already brought my subjects in and out of a number of past lives during a session.Bạn đọc có thể tự hỏi, tại sao tôi muốn quan tâm nhiều hơn đến hành vi ra đời [act of birthing], mặc dù tôi đã mang chủ thể đi vào và ra khỏi nhiều kiếp sống quá khứ trong một phiên thôi miên.
There are two reasons.Có 2 lý do.
First, reliving a past life does not need to involve the birthing process. Thứ nhất, việc sống lại một kiếp quá khứ không cần phải bao gồm quá trình ra đời.
I help my clients go straight from the spirit world into the next life, usually as adults. Tôi giúp những thân chủ đi thẳng từ thế giới linh hồn vào trong kiếp sống kế tiếp, lúc họ đã trưởng thành.
Second, if I return subjects to their current body and decide to command them to relive the birthing experience, I want to remove any minor discomforts felt by some people after they wake up. Thứ hai, nếu tôi đưa chủ thể trở lại cơ thể hiện nay của họ, và quyết định ra lệnh họ sống lại kinh nghiệm vào lúc họ ra đời, thì tôi muốn loại bỏ bất cứ sự khó chịu nhỏ bé nào mà người ta cảm thấy sau khi họ thức dậy.
Before continuing with this case, I should offer a little more general information about souls and babies.Trước khi tiếp tục với ca này, tôi sẽ cung cấp thêm một chút thông tin tổng quát về những linh hồn và những hài nhi.
All my subjects tell me the transition of their souls from the spirit world to the mind of a baby is relatively more rapid than the passage back. Tất cả thân chủ của tôi đều bảo rằng, sự chuyển tiếp của linh hồn họ từ thế giới linh hồn sang tâm trí của một hài nhi, là tương đối nhanh hơn con đường trở lại [thế giới linh hồn].
What is the reason for this difference?Đâu là lý do cho sự khác biệt này?
After physical death our souls travel through the time tunnel and move past a gateway into the spirit world in a progressive way. Sau cái chết vật lý, linh hồn chúng ta du hành xuyên qua đường hầm thời gian và di chuyển nhanh ngang qua cánh cổng vào trong thế giới linh hồn một cách tiệm tiến.
We have seen how the outward passage is intended to be more gradual than our return to Earth in order to allow for acclimatization of a newly freed soul. Chúng ta đã thấy, con đường đi ra [khỏi cơ thể, sau cái chết vật lý], được dự định là từ từ nhiều hơn, so với cuộc du hành trở về Cõi Trần – sở dĩ như vậy, là để cho linh hồn có đủ thời gian thích nghi với môi trường mới.
Nói chính xác, thì Cõi Trần cũng là một “môi trường mới,” nhưng việc thích nghi tương đối nhanh hơn.(156) Tại sao vậy?
However, as souls who enter babies, we come from a state of all-knowing and thus are mentally able to adjust more quickly to our surroundings than at the end of a physical life. Bởi vì, với tư cách là những linh hồn “đi vào” [nhập xác] những hài nhi, chúng ta đến từ một tình trạng “biết tất cả” [all-knowing], và như thế, có thể thích nghi [về tâm trí] nhanh hơn với môi trường của chúng ta, so với ở khoảnh khắc chết của cơ thể vật ly.
Then too, we are given additional time for adaptation while in our mother’s womb. Vả lại, chúng ta cũng được dành cho thêm thời gian để thích nghi, trong khi ở trong bụng mẹ.
Nevertheless, having this time inside our mother does not mean we are fully prepared for the jarring paroxysm of birth, with blinding hospital lights, having to suddenly breathe air, and being physically handled for the first time.Tuy nhiên, việc có thêm thời gian này bên trong bụng mẹ, không có nghĩa là chúng ta hoàn toàn được chuẩn bị cho cái biến cố kịch phát khó chịu của việc ra đời – với những ngọn đèn chói mắt của bệnh viện, phải đột nhiên thở không khí, và lần đầu tiên tiếp nhận sự xúc chạm vật lý.
My subjects say if they were to compare the moment of birth with that of death, the physical shock of being born is much greater. Những thân chủ tôi nói rằng, nếu so sánh khoảnh khắc ra đời với khoảnh khắc chết, thì cú sốc của việc ra đời lớn hơn rất nhiều.
At some point prior to birth, the soul will carefully touch and join more fully with the impressionable, developing brain of a baby.Ở một thời điểm nào đó trước lúc đứa bé ra đời, linh hồn sẽ cẩn thận xúc chạm và kết nối [join] đầy đủ hơn với cái bộ não đang phát triển, nhạy cảm của một hài nhi.
When a soul decides to enter a baby, apparently that child has no free choice in accepting or rejecting the soul. Hiển nhiên là đứa bé đó không có tự do chọn lựa việc chấp nhận hay khước từ linh hồn đó.
At the moment of first entry, chronological time begins for the soul. Ở khoảnh khắc đầu tiên đứa bé ra khỏi bụng mẹ, thì linh hồn bắt đầu trải nghiệm thời gian tính theo đồng hồ.(157)
Depending upon the inclinations of the particular soul involved, the connection may be early or late in the mother’s pregnancy.Tùy thuộc khuynh hướng của từng linh hồn, mà sự kết nối có thể sớm hay muộn trong khoảng thời gian thai nghén của người mẹ.
I have had cases where souls timed their arrival at the last minute during delivery, but this is unusual. Tôi có những ca, mà trong đó linh hồn “nhập” vào cơ thể đứa bé trong phút cuối cùng trước khi nó chào đời,(158) nhưng điều này thì không bình thường.
My findings indicate even those souls who join the baby early seem to do a lot of traveling outside the mother’s womb during her term. Những phát hiện của tôi cho thấy rằng, ngay cả những linh hồn “nhập vào” [join] đứa hài nhi sớm, thì có vẻ như chúng làm nhiều cuộc du hành ra ngoài bụng mẹ trong thời gian bà ở cử.(159)
Once birth has taken place, the union of spirit and flesh has been fully solidified into a partnership.Một khi hài nhi đã ra đời, thì sự hợp nhất giữa linh hồn và thể xác [cơ thể] đã được củng cố đầy đủ thành một quan hệ đối tác.
The immortal soul then becomes the seat of perception for the developing human ego. Lúc đó, linh hồn bất tử trở thành cái “tổng hành dinh” [seat] của sự tri giác cho cái “bản ngã con người” [human ego] đang phát triển.
The soul brings a spiritual force which is the heritage of infinite consciousness. Linh hồn mang đến một sức mạnh tâm linh, vốn là cái di sản [heritage] của ý thức vô hạn [infinite consciousness].
Although I have said souls can be confined by a human in trauma, they are never trapped.Mặc dù tôi đã nói rằng, những linh hồn có thể bị hạn chế bởi một cơ thể người trong cơn chấn thương, nhưng chúng không bao giờ bị đánh bẫy [trapped].
Besides leaving at the moment of death, souls may also come and go when the body is sleeping, in deep meditation, or under an anesthetic in surgery. Ngoài việc rời thể xác ở khoảnh khắc chết, linh hồn có thể đến và đi khi cơ thể ngủ, trong thiền định sâu, hay dưới một cơn gây mê [toàn phần] trong phẫu thuật.
The soul’s absences are much longer in cases of severe brain damage and coma. Trong những ca bị chấn thương não trầm trọng, hay trong tình trạng hôn mê, thì linh hồn vắng mặt [ra khỏi xác] lâu hơn.
Ca 29 tiếp tục bằng cách giải thích cái đẹp sáng tạo của một linh hồn đang nối kết với một [cơ thể] con người mới.
This coupling of an intelligent life force before birth brings us full circle from the death scene described in Case 1. Sự nối kết với một lực sống thông minh [intelligent life force] trước sự ra đời, cùng với cảnh chết được mô tả trong ca 1, sẽ cho chúng ta một chu kỳ trọn vẹn.
Dr. N: Well, I’m glad you arrive safe and sound in your new body.TS N: Tôi vui mừng khi biết rằng, cô đã đến bình an trong một cơ thể mới.
Tell me, how old is the baby? Hãy nói cho tôi biết, đứa hài nhi bao nhiêu tuổi rồi?
S: Five months have passed (since conception).CT: 5 tháng đã trôi qua [từ khi mẹ có thai].
Dr. N: Is this your usual arrival time as far as the maturation of a child?TS N: [linh hồn] Cô vẫn thường “đến” vào khoảng này, trong sự phát triển của một hài nhi?
S: In my lives … I have arrived at different times … depending on the baby, the mother, and my life-to-be.CT: Trong những kiếp sống của tôi…Tôi đã đến vào những thời điểm khác nhau…tùy thuộc vào đứa bé, người mẹ, và cuộc sống tương lai của tôi.
Dr. N: As a soul, are you in distress if the baby is aborted from the mother’s womb for any reason before full term?TS N: Như là một linh hồn, cô có phiền muộn nếu người mẹ bị sẩy thai vì bất cứ lý do nào trước khi đúng kỳ sinh nở?
S: We know if a baby is going to full term or not.CT: Chúng tôi biết một đứa bé có bị sẩy hay không.
Not being born comes as no surprise to us. Không có gì ngạc nhiên với chúng tôi, nếu người mẹ sẩy thai.
We may be around to just comfort the child. Chúng tôi có thể ở gần đó, chỉ để an ủi đứa bé.(160)
Dr. N: Well, if the child does not go to term, is your life assignment as a soul aborted as well?TS N: Vậy, nếu đứa bé bị sẩy, thì linh hồn cô cũng bị sẩy theo?
S: No, there never was a full life assignment as far as that child was concerned.CT: Không, đối với một hài nhi chưa ra đời, thì [linh hồn] chúng tôi không bao giờ có nhiệm vụ với nó trọn đời.
Dr. N: Might some babies who are aborted never have souls?TS N: Có thể nào, vài đứa bé bị sẩy thai, không bao giờ có linh hồn?
S: That depends on how far along they are.CT: Cái đó tùy thuộc vào việc, chúng đã phát triển bao xa.
The ones who die very early often don’t need us. Những đứa bé chết quá sớm, thường không cần [linh hồn] chúng tôi.
Note: This issue was as hotly debated in the past as it is today.CHÚ THÍCH: Vấn đề này được tranh cãi sôi nổi trong quá khứ, cũng như ngày nay.
During the thirteenth century, the Christian church found it necessary to establish guidelines for the existence of souls with regard to an aborted fetus. Trong thế kỷ 13, Giáo Hội Ki tô giáo thấy cần phải thiết lập những đường lối chỉ đạo [guidelines] cho sự hiện hữu của linh hồn đối với một cái phôi bị sẩy.
St. Thomas Aquinas and other medieval theologians arbitrarily decided en-soulment took place forty days after conception. St Thomas Aquinas và những nhà thần học Trung cổ khác võ đoán [arbitrarily] đưa ra phán quyết rằng, linh hồn “nhập xác” 40 ngày sau khi người mẹ có thai.
Dr. N: Assuming a baby is going to full term, do you know about the convergence habits of other souls with these children?TS N: Giả dụ rằng, nếu một đứa bé ra đời đúng kỳ hạn, thì những linh hồn khác có đến “chào đón” đứa bé này không?
S: (offhandedly) Oh, some float around more than others, going in and out of the baby until birth because they get bored.CT: [tự nhiên, không khách sáo] Ồ, vài linh hồn trôi bồng bềnh xung quanh đứa bé nhiều hơn, so với những linh hồn khác – vào và ra khỏi đứa bé cho đến khi nó ra đời, bởi vì họ trở nên chán.
Dr. N: What do you usually do?TS N: Cô thường làm gì?
S: I’m average, I guess.CT: Tôi thuộc loại trung bình, tôi đoán thế.
Actually, I don’t spend a long time at any one stretch with babies because it can get pretty dull. Thực ra, tôi không một mạch trải qua thời gian dài với những hài nhi, bởi vì việc đó có thể trở nên khá buồn tẻ.
Dr. N: All right, let’s take this current situation inside your mother and allow some time to pass.TS N: Được rồi, chúng ta hãy đơn cử tình huống hiện thời trong bụng mẹ cô, và để cho một khoảng thời gian trôi qua.
What do you do when you are not with the unborn baby? Cô làm gì khi cô không ở cùng đứa bé chưa ra đời[unborn]?
S: (laughs with delight) You want the truth?CT: [cười thích thú] Ông muốn biết sự thực ư?
I’ll tell you. Tôi sẽ nói cho ông biết.
Me—I play! It’s a fine time to leave and purely goof off … when the baby is less active. Tôi – tôi chơi đùa! Đó là một thời gian thuận lợi để rời đứa bé và hoàn toàn rong chơi…khi đứa bé bớt năng động.
I have fun with my friends who are doing the same thing. Tôi vui đùa với các bạn, họ cũng đang làm cái tương tự.
We bounce around Earth to visit with each other … and go to interesting places … where we have once lived together in former lives. Chúng tôi nhún nhảy xung quanh Cõi Trần để viếng thăm nhau…và đi tới những nơi thú vị…nơi mà chúng tôi đã từng sống cùng nhau trong những kiếp trước.
Dr. N: Don’t you and these other souls feel leaving the unborn baby for long periods is shirking the responsibilities of your assignment on Earth?TS N: Cô và [linh hồn] bạn cô không cảm thấy rằng, rời những hài nhi chưa ra đời một giai đoạn dài, là chểnh mảng những nhiệm vụ của cô ở Cõi Trần?
S: (defensively) Oh, lighten up! Who said anything about long periods?CT: [tự vệ] Ồ, hãy vui lên [lighten up]! Ai nói là chúng tôi rời đứa bé những giai đoạn dài?
I don’t do that! Anyway, our tough exercises haven’t begun yet. Tôi không làm cái đó! Dù sao đi nữa, thì những công việc khó khăn của chúng tôi chưa bắt đầu.
Dr. N: When you leave the baby for a while, what astral plane are you on in relation to Earth?TS N: Khi cô rời đứa bé trong một lát, cô ở tầng trung giới nào trong quan hệ với Cõi Trần?
S: We are still on the Earth plane … and we try not to get too distracted, either.CT: Chúng tôi vẫn ở trong không gian Cõi Trần…chúng tôi cũng cố gắng không trở nên quá “ham chơi,” nữa.
A lot of our fooling around is in the neighborhood of the baby. Bình thường, chúng tôi chơi đùa trong vùng lân cận gần đứa bé.
I don’t want you to get the idea there is nothing for us to do with unborn babies. Tôi không muốn ông có ý tưởng rằng, chúng tôi không có gì để làm với những đứa bé chưa ra đời.
Dr. N: Oh …?TS N: Ồ, cô làm những gì?
S: (continues) I’m busy with this new mind, even though it’s not fully ready.CT: [tiếp tục] Tôi bận rộn với cái tâm trí non nớt này, cho dù nó không hoàn toàn sẵn sàng.
Dr. N: Why don’t we talk more about that?TS N: Tại sao chúng ta không nói thêm về chuyện đó?
When your soul enters a baby to remain with this new body for a lifetime, give me the scope of this undertaking. Khi linh hồn cô “bước vào” đứa bé để lưu lại với cơ thể mới này suốt một đời người, hãy cho biết tôi cái qui mô của cái nhiệm vụ này.
S: (takes a deep sigh) Once I attach to a child it is necessary to bring my mind into synchronization with the brain.CT: [thở dài sâu] Một khi tôi gắn bó với một đứa bé, thì cần phải đồng bộ hóa tâm trí [của linh hồn] tôi với bộ não của nó.
We have to get used to each other as partners. Chúng tôi phải trở nên quen với nhau như những đối tác.
Dr. N: This is what other people tell me, but do you and the baby have an affinity for each other right away?TS N: Đây là điều mà những người khác đã bảo tôi, nhưng cô và đứa bé có một ái lực với nhau ngay lập tức?
S: Well … I am in the mind of the child but separate, too.CT: Vâng…Tôi ở trong tâm trí của đứa bé nhưng cũng tách rời nữa.
I go slowly at first. Ban đầu tôi tiến hành chầm chậm.
Dr. N: Okay, why don’t you explain what you do with the mind of the baby.TS N: Được rồi, tại sao cô không giải thích, cô làm gì với tâm trí của đứa bé.
S: It’s delicate and can’t be hurried.CT: Nó còn non nớt và không thể bị hối thúc.
I start with a gentle probe … defining connections … gaps … every mind is different. Tôi bắt đầu với một thăm dò nhẹ nhàng …xác định sự nối kết…nối liền những chỗ gián đoạn…mọi tâm trí đều khác nhau.
Dr. N: Is there any conflict within the child against you?TS N: Có sự xung đột nào bên trong đứa bé, chống lại cô?
S: (softly) Ah … there is a slight resistance in the beginning … not full acceptance while I trace the passages … that’s usual … until there is familiarization (stops for a moment and laughs quietly). I keep bumping into myself!CT: [nói khẽ] À .ban đầu, có một kháng cự nhỏ…không hoàn toàn chấp nhận trong khi tôi tiến hành…thông thường là như vậy…cho đến khi quen dần [ngừng một chút và cười khẽ] Tôi cứ va vào chính mình! [ I keep bumping into myself]
Dr. N: As you integrate with the baby, when does it become receptive to the force of your identity as a soul?TS N: Trong khi cô “hợp nhất” với đứa bé, thì bao giờ nó bắt đầu tiếp nhận cái “sức mạnh” của cái “bản sắc linh hồn” của cô?
S: I’m disturbed by your word “force.”CT: Tôi không thích cái từ “sức mạnh” của ông.
We never force ourselves when entering an unborn baby. My tracing is done carefully. Chúng tôi không bao giờ “cưỡng bức” khi bước vào một hài nhi chưa ra đời. Tôi tiến hành một cách thận trọng.
Dr. N: Did it take you many lives to learn to trace a human brain?TS N: Có phải mất nhiều kiếp sống, cô mới học được cách “thăm dò” một bộ não người?
S: Uh … a while … new souls are assisted with their tracing.CT: Uh…một thời gian…những linh hồn “non tay nghề” được trợ giúp với việc thăm dò của chúng.
Dr. N: Since you represent pure energy, are you tracing electrical brain connections such as neurotransmitters, nerve cells, and the like?TS N: Bởi vì [linh hồn] cô là năng lượng thuần túy, có phải cô đang kết nối với những dòng điện của não bộ, chẳng hạn những chất dẫn truyền thần kinh [neurotransmitters],những tế bào thần kinh, và đại loại như thế?
S: (pause) Well, something like that … I disrupt nothing, though …while I learn the brain wave patterns of the baby.CT: [ngừng] Vâng, một cái gì như thế…Tôi không làm xáo trộn bất cứ cái gì, trong khi tôi khám phá những mẫu sóng não của đứa bé.
Dr. N: Are you referring to the thought-regulation circuitry of the mind?TS N: Có phải cô đang nói đến “hệ điều hành tư tưởng” [thoughtregulation circuitry] của tâm trí đứa bé?
S: How this person translates signals.CT: Cách đứa bé này “dịch” những tín hiệu.
Its capacity. Năng lực của nó.
No two children are the same. Không có 2 đứa trẻ nào giống hệt nhau.
Dr. N: Be completely frank with me.TS N: Hãy hoàn toàn thẳng thắn với tôi.
Isn’t your soul taking over this mind and subjugating it to your will? Há chẳng phải linh hồn cô “tiếp quản” tâm trí này và buộc nó tuân phục ý chí của cô?
S: You don’t understand.CT: Ông không hiểu.
It’s a melding. Nó là một sự kết hợp.
There is an … emptiness before my arrival which I fill to make the baby whole. Có một…sự trống rỗng trước khi tôi đến, mà tôi lấp đầy để làm cho đứa bé trở thành toàn bộ.
Dr. N: Do you bring intellect?TS N: Có phải cô có mang đến trí năng?
S: We expand what is there.CT: Chúng tôi mở rộng cái [đã có sẵn] ở đó.
Dr. N: Could you be more specific about what your soul actually provides the human body?TS N: Cô có thể nói cụ thể hơn về những gì mà linh hồn cô thực sự cung cấp cho cơ thể người?
S: We bring a … comprehension of things … a recognition of the truth of what the brain sees.CT: Chúng tôi mang đến một…sự lĩnh hội [comprehension] về những sự vật…một sự “nhận ra” [recognition] về những gì mà bộ não thấy.
Dr. N: Are you sure this child doesn’t think of you at first as an alien entity in her mind?TS N: Cô có chắc, ban đầu, đứa bé này không nghĩ rằng cô là một thực thể xa lạ trong “tâm trí”(161) nó?
S: No, that’s why we unify with undeveloped minds.CT: Không, đó là lý do tại sao chúng tôi hợp nhất hóa [unify] với những tâm trí chưa phát triển.
She recognizes me as a friend … a twin … who is going to be part of her. Nó nhận ra tôi như là một người bạn…một cặp song sinh…mà sẽ là một phần của nó.
It’s as if the baby was waiting for me to come. Như thể là đứa bé đang đợi tôi đến.
Dr. N: Do you think a higher power prepares the baby for you?TS N: Cô có nghĩ, một sức mạnh cao hơn chuẩn bị đứa bé cho cô?
S: I don’t know, it would seem so.CT: Tôi không biết, có vẻ như thế.
Dr. N: Is your work at unification completed before birth?TS N: Có phải việc hợp nhất hóa của cô đã hoàn tất trước khi đứa bé ra đời?
S: Not really, but at birth we have started to complement each other.CT: Không thực sự như vậy, nhưng vào lúc nó ra đời, chúng tôi đã bắt đầu bổ túc cho nhau.
Dr. N: So, the unification process does take some time?TS N: Như vậy, quá trình hợp nhất hóa thực sự mất một khoảng thời gian?
S: Sure, while we adjust to each other.CT: Chắc chắn rồi, trong khi chúng tôi thích nghi với nhau.
And, like I told you, I leave the unborn baby at intervals. Và, như tôi đã nói với ông, nhiều lúc tôi rời [cơ thể] đứa bé chưa ra đời.
Dr. N: But what about those souls who join babies at the last minute before birth?TS N: Nhưng nếu linh hồn “nhập vào” [join] đứa bé vào phút cuối cùng trước khi nó ra đời, thì sao?
S: Humph! That’s their style, not mine.CT: Humh! Đó là “phong cách” của những linh hồn đó, không phải của tôi.
They have to start their work in the crib. “Họ” phải khởi đầu công việc của họ trong nôi.
Dr. N: How far along in age is the body by the time your soul stops leaving the child altogether?TS N: Cô ngừng việc rời đứa bé vào lúc nó bao nhiêu tuổi?
S: At about five or six years of age.CT: Vào khoảng 5-6 tuổi.
Usually we get fully operational when the child starts school. Thường thường, chúng tôi khởi sự hoạt động có nề nếp khi đứa bé bắt đầu đi học.
Children under this age can be left to their own devices a lot. Những đứa trẻ dưới tuổi này có thể được phép làm theo ý thích của chúng.
Dr. N: Don’t you have a duty to always be with your body?TS N: Cô không có bổn phận phải luôn ở cùng cơ thể đứa bé chứ?
S: If things get bad in a physical way—then I’m back inside like a shot.CT: Nếu có gì bất ổn với cơ thể đứa bé, thì tôi trở lại bên trong như một mũi tên.
Dr. N: How would you know this if you were off fooling around with other souls?TS N: Làm thế nào cô biết điều này, nếu cô bỏ đi chơi đùa vớ vẩn với những linh hồn khác?
S: Every brain has a wave pattern—it’s like a fingerprint.CT: Mọi bộ não đều có một mẫu sóng – nó giống như một dấu vân tay.
We know immediately if the baby assigned to us is in trouble.(162) Tôi biết ngay lập tức, nếu đứa hài nhi [là tôi] gặp rắc rối.
Dr. N: So, you are watching the baby assigned to you all the time— both inside and out—during the early stages of growth?TS N: Như vậy, trong mọi lúc, cô đang canh chừng đứa bé được giao cho cô, bên trong và bên ngoài – trong những giai đoạn phát triển đầu tiên của nó?
S: (with pride) Oh yes, and I watch the parents.CT: [tự hào] Ồ, vâng, và tôi cũng canh chừng những người bố, người mẹ nữa.
They might be having squabbles around the baby which sets up disturbing vibrations. Họ có thể đang có những trận cãi vã xung quanh đứa bé, vốn tạo ra những rung động gây nhiễu loạn.(163)
Dr. N: If this happens to the child, what do you do as its soul?TS N: Nếu việc này xảy ra cho đứa bé, thì cô làm gì, với tư cách là linh hồn của nó?
S: Quiet the child as best I can.CT: Xoa dịu đứa bé một cách tốt nhất như tôi có thể.
Reach out to the parents through the baby to calm them. Vươn ra tới bố mẹ đứa bé thông qua nó, để làm cho họ bình tĩnh lại.
Dr. N: Give me an example of how you can reach out to your parents?TS N: Cô làm thế nào để vươn ra tới bố mẹ đứa bé?Hãy cho một thí dụ.
S: Oh, make the baby laugh in front of them by poking my parents’ faces with both hands.CT: Ồ, làm cho đứa bé [là tôi] cười với họ và thúc nhẹ khuôn mặt bố mẹ tôi với hai bàn tay.
This sort of thing further endears babies to parents. Cử chỉ này khiến cho bố mẹ yêu mến đứa bé hơn.
Dr. N: As a soul, you can control motor movements of the baby?TS N: Với tư cách là một linh hồn, cô có thể kiểm soát những cử động của đứa bé?
S: I’m … me.CT: Tôi là…tôi.
I can push a little on that part of the brain which controls movements. Tôi có thể đẩy một chút trên cái phần của não vốn kiểm soát những cử động.
I can tickle the kid’s funny bone sometimes, too … I’ll do whatever it takes to bring harmony to my assigned family. Đôi khi, tôi có thể cù vào cái khuỷu tay của đứa bé…Tôi sẽ làm bất cứ cái gì cần thiết để mang lại sự hòa điệu cho gia đình tôi.
Dr. N: Tell me what it is like being inside a mother’s womb.TS N: Hãy nói cho tôi biết, cô cảm thấy thế nào khi ở trong bụng mẹ?
S: I like the warm comfortable feeling of love.CT: Tôi thích cảm giác ấm áp, thoải mái của tình yêu.
Most of the time there is love … sometimes there is stress. Phần lớn thời gian, có tình yêu; đôi khi có sự căng thẳng.
Anyway, I use this time to think and plan what I am going to do after birth. Dù sao, tôi dùng thời gian này để suy nghĩ và hoạch định những gì mà tôi sắp làm sau khi ra đời.
I think about my past lives and missed opportunities with other bodies and this gives me incentive.(164) Tôi nghĩ về những kiếp quá khứ của mình – mà trong đó, tôi bỏ mất những cơ hội với những cơ thể khác – và điều này cho tôi sự khích lệ.
Dr. N: And you haven’t yet had the memories of all your past lives and your life in the spirit world blocked out by amnesia?TS N: Và cô chưa có những ký ức về tất cả những kiếp quá khứ của mình,(165) và cuộc sống của cô trong thế giới linh hồn bị ngăn chặn do bệnh mất trí nhớ?
S: That starts after birth.CT: Cái đó bắt đầu sau khi [đứa bé] ra đời.(166)
Dr. N: When the baby is born, does it have any conscious thoughts of who its soul is and the reasons for the attachment?TS N: Khi đứa bé ra đời, nó có biết linh hồn của nó là ai không? – và tại sao nó phải gắn bó với linh hồn đó?
S: (pause) The child mind is so undeveloped it does not reason out this information.CT: [ngừng một chút] Tâm trí đứa bé chưa phát triển, cho nên nó không thể lý luận để hiểu thông tin này.
It does have parts of this knowledge as a means of comfort, which then fades. Nhưng nó thực sự mơ hồ cảm nhận điều này [linh hồn nó là ai] – cảm nhận này khiến đứa bé dễ chịu, nhưng chẳng bao lâu, nó sẽ phai mờ đi.
By the time I speak, this information is locked deep inside me and that’s the way it’s supposed to be. Vào lúc tôi biết nói, thì thông tin này bị chặn lại bên trong tôi và đó là cách nó phải vậy.(167)
Dr. N: So, will you have fleeting thoughts of other lives as a child?TS N: Như thế, cô sẽ có những ý tưởng thoáng qua về những kiếp sống khác mà trong đó, cô là một đứa trẻ không?
S: Yes … we daydream … the way we play as children … creating stories … having imaginary friends who are real …but it fades.CT: Vâng…[lúc còn là một đứa trẻ] chúng tôi mơ mộng [daydream]…chơi đùa…phịa ra những câu chuyện…có những người bạn…có những người bạn “tưởng tượng,” nhưng lại là thực(168)…nhưng rồi ký ức đó phai nhạt đi.
In the first few years of life babies know more than they are given credit for.Trong vài năm đầu tiên, những hài nhi biết nhiều điều hơn người ta tưởng.(169)
Dr. N: All right, now it is the time right before your birth in this life.TS N: Được rồi, bây giờ là thời điểm ngay trước khi cô ra đời trong kiếp này.
Tell me what you are doing. Hãy nói cho tôi biết, cô đang làm gì.
S: I’m listening to music.CT: Tôi đang [lắng] nghe âm nhạc.
Dr. N: What music?TS N: Âm nhạc gì vậy?
S: I’m listening to my father play records—very relaxing for him—it helps him to think—I’m a bit anxious for him …CT: Tôi đang cùng bố tôi [lắng] nghe những đĩa nhạc – chúng làm cho tâm hồn ông thư dãn – chúng giúp ông suy nghĩ – tôi hơi lo lắng cho ông.
Dr. N: Why?TS N: Tại sao vậy?
S: (giggles) He thinks he wants a boy, but I’ll change his mind in a hurry!CT: [cười khúc khích] Ông nghĩ, ông muốn có một đứa con trai, nhưng tôi sẽ làm cho ông đổi ý ngay thôi mà!
Dr. N: So, this is a productive time for you?TS N: Vậy, đối với cô, đây là một thời gian “có năng suất cao”[productive]?
S: (with determination) Yes, I’m busy planning for the approaching time when I will enter the world as a human and take that first breath.CT: [quyết tâm] Vâng, tôi đang bận rộn hoạch định cho thời gian sắp đến, khi tôi bước vào thế giới như một con người và thở hơi thở đầu tiên.
This is my last chance for quiet contemplation of the next life. Giai đoạn này [ở trong bụng mẹ] là cơ hội sau cùng của tôi, để lặng lẽ suy niệm về kiếp sống sắp tới.
When I come out—I’ll be running. Khi tôi ra ngoài, tôi sẽ chạy.