CHƯƠNG III. TRỞ VỀ NHÀ

3. HomecomingCHƯƠNG III. TRỞ VỀ NHÀ
SINCE encountering friendly spirits who meet us after death is so important, how do we recognize them? I find a general consensus of opinion among subjects in hypnosis about how souls look to each other in the spirit world.Việc gặp gỡ những linh hồn thân thiện của chúng ta sau cái chết là rất quan trọng, nhưng làm thế nào chúng ta nhận ra họ? Những linh hồn hiện ra với nhau ra sao, trong thế giới linh hồn? Tôi thấy, trong trạng thái bị thôi miên, thì những thân chủ của tôi đều có những ý kiến giống nhau về vấn đề này.
A soul may appear as a mass of energy, but apparently it is also possible for non-organic soul energy to display human characteristics. Một linh hồn có thể hiện ra như một khối năng lượng, nhưng rõ ràng, năng lượng linh hồn phi vật chất cũng có thể biểu lộ những đặc tính con người.
Souls often use their capacity to project former life forms when communicating with each other. Khi truyền thông với nhau, những linh hồn thường sử dụng năng lực của chúng để “biến thành” những hình thể kiếp trước của chúng.
Projecting a human life form is only one of an incalculable number of appearances which can be assumed by souls from their basic energy substance. Một hình thể con người, chỉ là một trong những trong số rất nhiều hình thể mà linh hồn biến thành, từ năng lượng căn bản của nó.
Later on, in Chapter Six, I will discuss another feature of soul identity—the possession of a particular color aura. Về sau, trong chương 6, tôi sẽ thảo luận một khía cạnh khác của “bản sắc” [soul identity] – việc sở hữu một màu hào quang đặc thù nào đó.
Most of my subjects report the first person they see in the spirit world is their personal guide.Phần lớn trong số những thân chủ của tôi tường thuật rằng, người đầu tiên mà họ thấy trong thế giới linh hồn, là vị hướng đạo riêng [personal] của họ.
However, after any life we can be met by a soulmate. Tuy nhiên, sau bất cứ kiếp sống nào, chúng ta có thể được chào đón bởi một “bạn linh hồn” [soul mate].
Guides and soulmates are not the same. Những vị hướng đạo và bạn linh hồn không phải là một.
If a former relative or close friend appears to the incoming soul, their regular guide might be absent from the scene. Nếu một kẻ thân thích hay người bạn thân trong kiếp trước hiện ra với linh hồn đang trở lại, thì vị hướng đạo “chính quy” của họ có thể vắng mặt.
I find that usually guides are somewhere in close proximity, monitoring the incomer’s arrival in their own way. Tôi phát hiện rằng, những vị hướng đạo thường ở một nơi nào đó rất gần, đang theo dõi đường đi nước bước của “kẻ mới đến” trong cách riêng của họ.
The soul in my next case has just come through the spiritual gateway and is met by an advanced entity who obviously has had close connections with the subject over a prolonged series of past lives. Trong ca kế tiếp của tôi, linh hồn vừa mới đến xuyên qua cánh cổng của thế giới linh hồn và được đón chào bởi một thực thể tiến hóa cao, mà hiển nhiên đã có những nối kết chặt chẽ với thân chủ qua một loạt liên tục của những kiếp quá khứ.
Although this soulmate entity is not my client’s primary guide, he is there to welcome and provide loving encouragement for her. Mặc dù thực thể “tri âm” này không phải là vị hướng đạo chủ yếu của thân chủ tôi, ông ta ở đó để chào đón và mang đến sự động viên trìu mến cho cô ấy.
- Case 6
- Ca 6
Dr. N: What do you see around you?* TS N: Cô thấy cái gì xung quanh cô?
S: It’s as if … I’m drifting along on … pure white sand … which is shifting around me … and I’m under a giant beach umbrella—with brightly colored panels—all vaporized, but banded together, too …CT: Như thể là…tôi đang trôi dạt về phía trước…cát trắng tinh…đang dịch chuyển xung quanh tôi…và tôi đang ở dưới một cái ô khổng lồ – với những tấm pa-nô sặc sỡ – tất cả tan thành hơi, nhưng cũng được niềng lại với nhau…
Dr. N: Is anyone here to meet you?TS N: Có ai ở đây để gặp cô không?
S: (pause) I … thought I was alone … but … (a long hesitation) in the distance … uh … light … moving fast towards me … oh, my gosh!CT: [im lặng một lát] Tôi nghĩ rằng…tôi cô độc…nhưng [lưỡng lự một hồi lâu] ở đằng xa...vâng…ánh sáng… đang di chuyển nhanh về phía tôi…ồ, Chúa ơi!
Dr. N: What is it?TS N: Nó là cái gì thế?
S: (excitedly) Uncle Charlie! (loudly) Uncle Charlie, I’m over here!CT: [bị kích động] Chú Charlie! [nói to] Chú Charlie, cháu đang ở đây nè!
Dr. N: Why does this particular person come to meet you first?TS N: Tại sao người này đến gặp cô đầu tiên?
S: (in a preoccupied far-off voice) Uncle Charlie, I’ve missed you so much.CT: [giọng xa vắng, bận rộn] Chú Charlie, cháu nhớ chú nhiều lắm.
Dr. N: (I repeat my question)* TS N: [Tôi lặp lại câu hỏi]
S: Because, of all my relatives, I loved him more than anybody. He died when I was a child and I never got over it. (on a Nebraska farm in this subject’s most immediate past life)CT: Bởi vì, trong số những thân thích của tôi, tôi yêu mến ông hơn bất cứ ai khác. Ông chết khi tôi còn là một đứa bé và tôi không bao giờ nguôi ngoai về sự ra đi của ông[trên một nông trại ở Nebraska trong kiếp quá khứ gần đây nhất của thân chủ này].
Dr. N: How do you know it’s Uncle Charlie? Does he have features you recognize?TS N: Tại sao cô biết đó là Chú Charlie? Có phải, ông ta có những nét mà cô nhận ra?
S: (subject is squirming with excitement in her chair) Sure, sure— just as I remember him—jolly, kind, lovable—he is next to me.(chuckles)CT: [thân chủ đang vặn vẹo một cách phấn chấn trong ghế] Chắc chắn rồi, chắc chắn vậy – hệt như ký ức của tôi về ông – vui vẻ, nhân ái, đáng yêu – ông ở sát bên tôi. [cười khúc khích]
Dr. N: What is so funny?TS N: Có cái gì buồn cười thế?
S: Uncle Charlie is just as fat as he used to be.CT: Chú Charlie vẫn mập như xưa kia ông vốn vậy.
Dr. N: And what does he do next?TS N: Và kế tiếp, ông ta làm gì?
S: He is smiling and holding out his hand to me …CT: Ông đang mỉm cười và đang chìa tay ra với tôi…
Dr. N: Does this mean he has a body of some sort with hands?TS N: Có phải điều này ngụ ý rằng, ông ta có một thân xác thuộc loại nào đó, với hai bàn tay?
S: (laughs) Well, yes and no. I’m floating around and so is he. It’s … in my mind … he is showing all of himself to me … and what I am most aware of … is his hand stretched out to me.CT: [cười to] Ồ, đúng và không đúng. Tôi đang trôi bồng bềnh và ông cũng vậy. Nó…ở trong tâm trí tôi…ông đang phô bày những đường nét của chính mình cho tôi…và cái mà tôi nhận biết rõ nhất…là bàn tay ông chìa ra với tôi.
Dr. N: Why is he holding out his hand to you in a materialized way?TS N: Tại sao ông ta đang chìa bàn tay ra với cô trong một thể cách có tính vật lý?
S: (pause) To … comfort me … to lead me … further into the light.CT: [im lặng một lát] Để…an ủi tôi…dẫn tôi đi xa hơn vào trong ánh sáng.
Dr. N: And what do you do?TS N: Và cô làm gì?
S: I’m going with him and we are thinking about the good times we spent together playing in the hay on the farm.CT: Tôi đang đi với ông và chúng tôi đang nghĩ về những thời gian vui vẻ mà chúng tôi đã trải qua cùng nhau – chơi đùa trên đống cỏ khô trên nông trại.
Dr. N: And he is letting you see all this in your mind so you will know who he is?TS N: Và ông ta đang để cho cô thấy mọi thứ này trong tâm trí cô, để cô sẽ biết ông ta là ai?
S: Yes … as I knew him in my last life … so I won’t be afraid. He knows I am still a little shocked over my death. (subject had died suddenly in an automobile accident)CT: Vâng…như tôi đã biết ông trong kiếp trước của tôi…nên tôi sẽ không sợ. Ông biết, tôi vẫn hơi bị sốc vì cái chết của tôi [thân chủ đã chết đột ngột trong một tai nạn ô tô].
Dr. N: Then, right after death, no matter how many deaths we may have experienced in other lives, it is possible to be a little fearful until we get used to the spirit world again?TS N: Vậy thì, ngay sau khi chết – bất luận bao nhiêu cái chết mà chúng ta có thể đã trải nghiệm trong những kiếp sống khác – cái chết vẫn có thể hơi đáng sợ, cho đến khi chúng ta trở nên quen với thế giới linh hồn một lần nữa?
S: It’s not really fear—that’s wrong—more like I’m apprehensive, maybe. It varies for me each time. The car crash caught me unprepared. I’m still a little mixed up.CT: Nó không thực sự là sợ hãi. Đúng hơn, có lẽ, tôi lo lắng. Với tôi, mỗi lần, nó mỗi khác. Vụ đụng xe xảy ra quá bất ngờ, tôi không kịp chuẩn bị. Tôi vẫn hơi bị lẫn lộn.
Dr. N: All right, let’s go forward a bit more. What is Uncle Charlie doing now?TS N: Được rồi, chúng ta hãy đi về phía trước thêm một chút. Bây giờ Chú Charlie đang làm gì?
S: He is taking me to the … place I should go …CT: Ông đang đưa tôi đến…nơi tôi phải đến…
Dr. N: On the count of three, let’s go there. One—two—three! Tell me what is happening.TS N: Khi tôi đếm đến 3, chúng ta hãy đi tới đó. Một, hai, ba! Hãy kể cho tôi, cái gì đang xảy ra?
S: (long pause) There … are … other people around … and they look … friendly … as I approach … they seem to want me to join them …CT: [im lặng lâu] Có…những người khác quanh đây…và họ nom có vẻ…thân thiện…khi tôi đến gần…dường như họ muốn tôi nhập bọn với họ…
Dr. N: Continue to move towards them. Do you get the impression they might be waiting for you?TS N: Hãy tiếp tục di chuyển về phía họ. Cô có ấn tượng rằng, có thể, họ đang đợi cô?
S: (recognition) Yes! In fact, I realize I have been with them before … (pause) No, don’t go!CT: Vâng! Thực vậy, tôi nhận thức rằng, tôi đã từng ở cùng họ trước đây…[im lặng] Không, xin đừng bỏ đi!
Dr. N: What’s happening now?TS N: Bây giờ cái gì đang xảy ra?
S: (very upset) Uncle Charlie is leaving me. Why is he going away?CT: [rất thất vọng] Chú Charlie đang rời bỏ tôi. Tại sao ông lại bỏ đi chứ?
Dr. N: (I stop the dialogue to use standard calming techniques in these circumstances, and then we continue.) Look deeply with your inner mind. You must realize why Uncle Charlie is leaving you at this point?* TS N: [Tôi ngừng cuộc đối thoại để dùng vài “kỹ thuật xoa dịu” trong những hoàn cảnh này, và rồi chúng tôi tiếp tục] Hãy nhìn sâu vào “tâm trí sâu kín” [inner mind] của cô. Chắc hẳn cô nhận biết tại sao Chú Charlie lại rời bỏ cô vào thời điểm này?
S: (more relaxed, but with regret) Yes … he stays in a … different place than I do … he just came to meet me … to bring me here.CT: [thư giãn hơn, nhưng tiếc rẻ] Vâng…ông thường trú trong một nơi chốn khác với nơi chốn của tôi…ông chỉ đến để gặp tôi…để đưa tôi đến đây.
Dr. N: I think I understand. Uncle Charlie’s job was to be the first person to meet you after your death and see you were okay. I’d like to know if you feel better now, and more at home.TS N: Tôi nghĩ rằng, tôi hiểu. Chú Charlie là người đầu tiên đến gặp cô sau cái chết của cô và xem cô có ổn không – công việc của ông chỉ có vậy. Tôi muốn biết, bây giờ cô có thấy dễ chịu hơn và thoải mái hiều hơn?
S: Yes, I do. That’s why Uncle Charlie has left me with the others.CT: Vâng, dễ chịu và thoải mái hơn. Đó là lý do tại sao Chú Charlie đã để tôi lại với những người khác.
A curious phenomenon about the spirit world is that important people in our lives are always able to greet us, even though they may already be living another life in a new body. This will be explained in Chapter Six. In Chapter Ten, I will examine the ability of souls to divide their essence so they can be in more than one body at a time on Earth.Một hiện tượng khó hiểu về thế giới linh hồn, là những người quan trọng trong đời chúng ta luôn luôn có thể chào đón chúng ta, cho dẫu họ có thể đang sống một kiếp sống khác, trong một cơ thể mới.(47) Điều này sẽ được giải thích trong chương 6. Trong chương 10, tôi sẽ xem xét khả năng của linh hồn trong việc “phân thân”: nó có thể, cùng một lúc, ở trong nhiều hơn một thân xác ở Cõi Trần.(48)
Usually at this juncture in a soul’s passage, the carry-on luggage of Earth’s physical and mental burdens are diminishing for two reasons. First, the evidence of a carefully directed order and harmony in the spirit world has brought back the remembrance of what we left behind before we chose life in physical form. Secondly, there is the overwhelming impact of seeing people we thought we would never meet again after they died on Earth. Here is another example.Thường khi, vào thời điểm quan trọng này trong sự di chuyển của linh hồn, thì hành lý, những gánh nặng tinh thần và thể xác của Cõi Trần đang giảm xuống, vì 2 lý do. Thứ nhất, bằng chứng về một trật tự và sự hài hòa được chỉ đạo cẩn thận trong thế giới linh hồn. Bằng chứng đó khiến chúng ta nhớ lại những gì mà chúng ta bỏ lại đằng sau [trong thế giới linh hồn] trước khi chúng ta chọn cuộc sống ở dạng thức vật lý. Thứ hai, việc thấy những người mà chúng ta nghĩ rằng mình sẽ không bao giờ gặp lại sau khi họ chết, có một tác động rất to lớn. Đây là một thí dụ khác.
- Case 7
- Ca 7
Dr. N: Now that you have had the chance to adjust to your surroundings in the spirit world, tell me what effect this place has on you.TS N: Bây giờ, cô đã có cơ hội để thích nghi với môi trường của cô trong thế giới linh hồn, hãy nói cho tôi biết, cái nơi này tác động lên cô như thế nào?
S: It’s so ... warm and comforting. I’m relieved to be away from Earth. I just want to stay here always. There is no tension, or worries, only a sense of well-being. I’m just floating ... how beautiful ...CT: Thật…ấm áp và dễ chịu. Thật là nhẹ nhõm khi được xa rời Cõi Trần. Tôi chỉ muốn lưu lại ở đây [thế giới linh hồn] mãi mãi. Không có sự căng thẳng, lo lắng, chỉ có một cảm thức an vui. Tôi đang trôi bồng bềnh…đẹp biết bao…
Dr. N: As you continue to float along, what is your next major impression as you pass the spiritual gateway?TS N: Khi cô tiếp tục trôi bồng bềnh, đâu là ấn tượng chủ yếu kế tiếp của cô, khi cô băng qua cổng vào thế giới linh hồn?
S: (pause) Familiarity.CT: [im lặng một lát] Sự quen thuộc.
Dr. N: What is familiar?TS N: Cái gì quen thuộc?
S: (after some hesitation) Uh mm … people … friends … are here, I think.CT: [sau một chút lưỡng lự] Nhiều người…những người bạn…đều ở đây, tôi nghĩ vậy.
Dr. N: Do you see these people as familiar people on Earth?TS N: Những người này là những người quen thuộc với cô ở Cõi Trần?
S: I … have a sensation of their presence … people I knew …CT: Tôi…có một cảm giác về sự hiện diện của họ… những người mà tôi biết…
Dr. N: All right, keep moving along. What do you see next?TS N: Tốt, hãy tiếp tục di chuyển vừa phía trước. Cô thấy cái gì kế tiếp?
S: Lights … soft … kind of cloudy-like.CT: Những làn ánh sáng…mềm…giống như mây.
Dr. N: As you are moving, does this light continue to look the same?TS N: Trong khi cô di chuyển, làn ánh sáng này có tiếp tục nom như cũ không?
S: No, they are growing … blobs of energy … and I know they are people!CT: Không, chúng đang phát triển…những giọt năng lượng…và tôi biết, đó là những con người!
Dr. N: Are you moving toward them, or are they coming toward you?TS N: Cô đang di chuyển về phía họ, hay họ đang tiến về phía cô?
S: We are drifting toward each other, but I am going slower than they are because … I’m uncertain what to do …CT: Chúng tôi đang trôi dạt về phía nhau, nhưng tôi đang trôi chậm hơn họ, bởi vì…tôi không biết chắc chắn phải làm cái gì…
Dr. N: Just relax and continue floating while reporting back to me everything you see.TS N: Hãy thư giãn và tiếp tục trôi trong khi tường thuật cho tôi mọi sự mà cô thấy.
S: (pause) Now I’m seeing half-formed human shapes—from the waist up only. Their outlines are transparent, too … I can see through them.CT: [im lặng một lát] Bây giờ tôi đang thấy những hình thể con người, một nửa người – chỉ từ thắt lưng trở lên. Hình dáng đại cương [outlines] của họ thì cũng trong suốt…tôi có thể thấy xuyên qua họ.
Dr. N: Do you see any sort of features to these shapes?TS N: Cô thấy loại đường nét nào trong những hình thể [shapes] này?
S: (anxiously) Eyes!CT: [bồn chồn] Những con mắt!
Dr. N: You see just eyes?TS N: Cô chỉ thấy những con mắt?
S: … There is only a trace of a mouth—it’s nothing. (alarmed) The eyes are all around me now … coming closer …CT: Chỉ có một dấu vết của một cái miệng – nó không là gì cả [hốt hoảng] Bây giờ, thì những con mắt đang ở khắp xung quanh tôi…đang đến gần hơn…
Dr. N: Does each entity have two eyes?TS N: Có phải mỗi thực thể có hai con mắt?
S: That’s right.CT: Đúng vậy.
Dr. N: Do these eyes have the appearance of human eyes with an iris and pupil?TS N: Những con mắt này có vẻ bề ngoài của mắt người, với một tròng đen và con ngươi?
S: No … different … they are … larger … black orbs … radiating light … towards me … thought … (then with a relieved sigh) oh!CT: Không…khác…chúng…lớn hơn…những hình cầu màu đen…ánh sáng phát xạ…về phía tôi…ý nghĩ… [rồi với một tiếng thở phào nhẹ nhõm] Ồ!
Dr. N: Go on.TS N: Hãy tiếp tục.
S: I’m starting to recognize them—they are sending images into my mind—thoughts about themselves and … the shapes are changing … into people!CT: Tôi đang bắt đầu nhận ra họ – họ đang gửi những hình ảnh vào trong tâm trí tôi – những ý tưởng về chính họ và… những hình thể đang thay đổi…thành những con người!
Dr. N: People with physical human features?TS N: Những con người với những đường nét của con người?
S: Yes. Oh … look! It’s him!CT: Vâng. Ồ…trông kìa! Đó là anh ấy!
Dr. N: What do you see?TS N: Cô thấy cái gì?
S: (begins to laugh and cry at the same time) I think it’s … yes—it’s Larry—he is in front of everybody else—he is the first one I really see … Larry, Larry!CT: [bắt đầu cười và khóc cùng một lúc] Tôi nghĩ, đó là…vâng, đó là Larry – anh ấy ở phía trước mọi người khác – anh ấy là người đầu tiên mà tôi thực sự thấy…Larry, Larry!
Dr. N: (after giving my subject a chance to recover a little) The soul entity of Larry is in front of an assortment of people you know?* TS N: [sau khi cho thân chủ một cơ hội để bình tĩnh lại một chút] Thực thể linh hồn gọi là Larry đang ở phía trước một nhóm người mà cô biết?
S: Yes, now I know the ones I want most to see are in front … some of my other friends are in the back.CT: Vâng, tôi biết rằng những người mà tôi muốn gặp nhất, thì đang ở phía trước…một vài người bạn khác của tôi, ở phía sau.
Dr. N: Can you see them all clearly?TS N: Cô có thể thấy tất cả họ một cách rõ ràng à?
S: No, the ones in back are … hazy … far off … but, I have the sensation of their presence. Larry is in front … coming up to me … Larry!CT: Không, những người ở phía sau thì…mờ mờ…xa xôi…nhưng, tôi có cảm giác về sự hiện diện của họ. Larry ở phía trước…đang đến gần tôi…Larry!
Dr. N: Larry is the husband from your last life you told me about earlier?TS N: Larry là người chồng trong kiếp vừa qua của cô, mà cô đã nói với tôi trước đây?
S: (subject rushes on) Yes—we had such a wonderful life together— Gunther was so strong—everyone was against our marriage in his family—Jean deserted from the navy to save me from the bad life I was living in Marseilles—always wanting me …CT: [sôi nổi] Vâng, chúng tôi đã có một cuộc đời tuyệt vời cùng nhau. Gunther thì quá mạnh mẽ – mọi người trong gia đình anh chống lại cuộc hôn nhân của chúng tôi. Jean đào ngũ khỏi hải quân để cứu tôi thoát khỏi cuộc sống tồi tệ mà tôi đang sống lúc ấy tại Marseilles – anh ấy luôn luôn muốn có tôi…
This subject is so excited her past lives are tumbling one on top of the other.Thân chủ này quá bị kích động, đến nỗi những kiếp sống quá khứ của cô xuất hiện liên tiếp, kiếp này chồng lên kiếp kia.
Larry, Gunther, and Jean were all former husbands, but the same soulmate. Larry, Gunther, và Jean đều là những người chồng trong những kiếp trước, nhưng họ đều là bạn linh hồn của cô.
I was glad we had a chance to review earlier who these people were in sessions before this interval of recall in the spirit world. May thay, trong những phiên thôi miên trước đây, tôi đã có một cơ hội để biết những người này là ai.
Besides Larry, her recent American husband, Jean was a French sailor in the nineteenth century and Gunther was the son of German aristocrats living in the eighteenth century. Ngoài Larry, người chồng Mỹ gần đây, thì Jean là một thủy thủ người Pháp trong thế kỷ 19 và Gunther là chàng trai thuộc dòng dõi quý tộc, sống trong thế kỷ 18.
Dr. N: What are the two of you doing right now?TS N: Cô và Larry đang làm gì ngay bây giờ?
S: Embracing.CT: Đang ôm nhau.
Dr. N: If a third party were to look at the two of you embracing at this moment, what would they see?TS N: Lúc này, nếu một người thứ ba nhìn hai người đang ôm nhau, thì họ sẽ thấy cái gì?
S: They would see … two masses of bright light whirling around each other, I guess … (subject begins to settle down and I help wipe the tears off her face with a tissue)CT: Họ sẽ thấy…hai khối ánh sáng rực rỡ đang xoay tít xung quanh nhau, tôi đoán thế…[thân chủ bắt đầu bình tĩnh lại và tôi giúp cô lau những giọt nước mắt trên mặt cô với một cái khăn giấy].
Dr. N: And what does this signify?TS N: Và cái này nói lên điều gì?
S: We are hugging … expressing love … connecting … it makes us happy …CT: Chúng tôi đang ôm ghì nhau…bày tỏ tình yêu…nối kết với nhau…nó khiến cho chúng tôi hạnh phúc…
Dr. N: After you meet your soulmate, what happens next?TS N: Sau khi cô gặp bạn linh hồn [soulmate] của mình, thì cái gì xảy ra kế tiếp?
S: (subject tightly grips the recliner arms) Oh—they are all here—I only sensed them before. Now more are coming closer to me.CT: [bám chặt vào ghế dựa] Ồ – tất cả họ đều ở đây – trước đây, tôi chỉ cảm nhận sự có mặt của họ. Bây giờ họ đang đến gần tôi hơn.
Dr. N: And this happens after your husband comes near you?TS N: Và điều này xảy ra sau khi chồng cô đến gần cô?
S: Yes … Mother! She is coming over to me … I’ve missed her so much … oh, Mom … (subject begins to cry again)CT: Vâng…Mẹ! Bà đang đến gần tôi…Tôi vô cùng nhớ bà … Ồ, Mẹ… [thân chủ tôi lại bắt đầu khóc]
Dr. N: All right …TS N: Được rồi …
S: Oh, please don’t ask me any questions now—I want to enjoy this … (subject appears to be in silent conversation with her mother of the last life)CT: Ồ, bây giờ xin đừng hỏi tôi câu hỏi nào – tôi muốn tận hưởng cuộc gặp gỡ này [thân chủ tôi có vẻ như đang trò chuyện thầm lặng với người mẹ của cô trong kiếp sống vừa qua]
Dr. N: (I wait for a minute) Now, I know you are enjoying this meeting, but I need you to help me know what is going on.* TS N: [tôi đợi một phút] Bây giờ, tôi biết cô đang tận hưởng cuộc gặp gỡ này, nhưng tôi cần cô giúp tôi biết, cái gì đang diễn ra.
S: (in a faraway voice) We … we are just holding each other … it’s so good to be with her again …CT: [giọng xa xôi] Chúng tôi…chỉ đang ôm nhau... thật dễ chịu lại được ở cùng bà…
Dr. N: How do you manage to hold each other with no bodies?TS N: Làm sao hai người có thể ôm nhau, mà không có thân xác?
S: (with a sigh of exasperation at me) We envelop each other in light, of course.CT: [với một tiếng thở dài bực bội về câu hỏi của tôi] Chúng tôi bao phủ nhau trong ánh sáng, dĩ nhiên.
Dr. N: Tell me what that is like for spirits?TS N: Hãy nói cho tôi biết, đối với những linh hồn, thì cái đó ra làm sao?
S: Like being wrapped in a bright-light blanket of love.CT: Giống như được bao phủ trong một tấm chăn ánh sáng rực rỡ của tình yêu.
Dr. N: I see, then ….TS N: Tôi hiểu, rồi...
S: (subject interrupts with a high pitched laugh of recognition) Tim! … it’s my brother—he died so young (a drowning accident at age fourteen in her last life). It’s so wonderful to see him here. (subject waves her arm) And there is my best girl friend Wilma—from next door—we are laughing together over boys like we did while sitting up in her attic.CT: [bất giác cười nắc nẻ] Tim!…đó là em trai tôi – em chết quá trẻ [bị chết đuối khi mới (14) tuổi, trong kiếp vừa qua của cô] Thật tuyệt vời được gặp lại em ở đây. [chủ thể vẫy cánh tay] Và có cô bạn gái thân nhất của tôi, Wilma – bạn láng giềng, ở sát cạnh nhà tôi – chúng tôi đang cùng nhau cười khi nói về bọn con trai, giống như chúng tôi đã làm trong khi ngồi trên căn gác xép của cô.
Dr. N: (after subject mentions her aunt and a couple of other friends) What do you think determines the sequence of how all these people come here to greet you?* TS N: [sau khi thân chủ nhắc đến bà dì của cô và vài người bạn khác] Mọi người này đến để chào đón cô theo một trình tự nhất định. Theo cô, cái gì quy định cái trình tự đó?
S: (pause) Why, how much we all mean to each other—what else?CT: [im lặng một lát] Tại sao à? Chúng tôi có ý nghĩa nhiều đối với nhau – cái gì khác nữa chứ?
Dr. N: And with some, you have lived many lives, while with others perhaps only one or two?TS N: Và với một số người, cô đã sống với họ nhiều kiếp sống, trong khi với những người khác, có lẽ, chỉ một hay hai kiếp sống?
S: Yes … I have been with my husband the most.CT: Vâng…Tôi đã sống với chồng tôi nhiều nhất.
Dr. N: Do you see your guide around anywhere?TS N: Cô có thấy vị hướng đạo của cô ở nơi nào đó gần đây không?
S: He is here. I see him floating off to the side.CT: Ông ấy ở đây. Tôi thấy ông trôi dạt sang một bên.
He knows some of my friends, too …Ông cũng biết vài trong số những người bạn của tôi…
Dr. N: Why do you call your guide a “him?”TS N: Tại sao cô gọi vị hướng đạo của mình là “ông”?
S: We all show what we want of ourselves. He always relates to me with a masculine nature. It’s right and very natural.CT: Tất cả chúng tôi phô bày tất cả những gì về chính mình mà chúng tôi muốn.(49) Trong quan hệ với tôi, ông luôn luôn muốn xuất hiện như một nam nhân. Nó phù hợp và tự nhiên.
Dr. N: And does he watch over you in all your lives?TS N: Và ông theo dõi, chăm sóc cô trong mọi kiếp sống của cô?
S: Sure, and after death too … here, and he is always my protector.CT: Chắc chắn rồi, và cả sau cái chết…ở đây, và ông luôn luôn là người che chở tôi.
Our reception committee is planned in advance for us as we enter the spirit world.Khi chúng ta bước vào thế giới linh hồn, “ban tiếp tân” được hoạch định trước để đón tiếp chúng ta.
This case demonstrates how uplifting familiar faces can be to the incoming younger soul. Ca này cho thấy, những khuôn mặt quen thuộc có thể mang đến niềm khích lệ to lớn ra sao, đối với một linh hồn trẻ mới bước vào thế giới linh hồn.
I find there are a different number of entities waiting in greeting parties after each life. Tôi phát hiện rằng, cứ sau mỗi kiếp sống, thì “ban tiếp tân” lại có một số thực thể khác nhau.
Although the meeting format varies, depending on a soul’s special needs, I have learned there is nothing haphazard about our spiritual associates knowing exactly when we are due and where to meet us upon our arrival in the spirit world. Mặc dù dạng thức [format] của ban tiếp tân này có thể thay đổi – tùy theo những nhu cầu đặc biệt của mỗi linh hồn – nhưng tôi đã học được rằng, không nghi ngờ gì, những thực thể này biết chính xác khi nào chúng ta đến và họ sẽ gặp chúng ta ở đâu, ngay khi chúng ta đến thế giới linh hồn.
Frequently, an entity who is significant to us will be waiting a little in front of the others who want to be on hand as we come through the gateway.Thường thường, một thực thể có ý nghĩa với chúng ta sẽ đang đợi phía trước những người khác một chút: họ muốn chờ sẵn khi chúng ta đến xuyên qua cánh cổng.
The size of welcoming parties not only changes for everyone after each life, but is drastically reduced to almost nothing for more advanced souls where spiritual comfort becomes less necessary. Kích cỡ của “ban tiếp tân” không chỉ thay đổi với mọi người sau mỗi kiếp sống, mà còn giảm mạnh, xuống tới hầu như con số không, đối với một linh hồn tiến hóa cao [advanced] – nơi mà sự an ủi tâm linh trở nên bớt cần thiết.
Case 9, at the end of this chapter, is an example of this type of spiritual passage. Ca 9, ở cuối chương này, là một thí dụ về loại này.
Cases 6 and 7 both represent one of the three ways newly arrived souls are received back into the spirit world.Ca 6 và 7, cả hai đều đại diện cho một trong 3 cách mà những linh hồn mới đến được tiếp nhận trở lại thế giới linh hồn.
These two souls were met shortly after death by a principal entity, followed by others of decreasing influence. Sau cái chết, hai linh hồn này được đón tiếp một cách ngắn gọn bởi một thực thể trọng yếu, theo sau bởi những người khác có ảnh hưởng nhỏ hơn.
Case 7 recognized people more quickly than Case 6. Ca 7 nhận ra những người đón tiếp mình nhanh chóng hơn ca 6.
When we meet such spirits in a gathering right after our death, we find they have been spouses, parents, grandparents, siblings, uncles, aunts, cousins, and dear friends in our past lives. Khi chúng ta gặp những linh hồn như thế ngay sau cái chết, chúng ta thấy rằng, họ đã từng là bạn đời, bố mẹ, ông bà, anh chị em, chú, cô, anh chị em họ, và những người bạn thân thiết trong những kiếp quá khứ.
I have witnessed some gut-wrenching emotional scenes with my clients at this stage of their passage. Tôi đã chứng kiến vài cảnh xé lòng, cảm động, với những thân chủ ở giai đoạn này trong cuộc hành trình của họ.
The emotional meetings which take place between souls at this interval in a spiritual passage are only a prelude to our eventual placement within a specific group of entities at our own maturity level.Những gặp gỡ xúc động diễn ra giữa những linh hồn tại “trạm dừng” này trong một chuyến đi tâm linh, chỉ là một “khúc dạo đầu” cho việc sắp xếp về sau, bên trong một nhóm đặc biệt bao gồm những thực thể ở cùng mức tiến hóa với linh hồn.
These meetings provide another emotional high for a subject in superconscious recall. Những cuộc gặp gỡ này cung cấp một cảm xúc mạnh mẽ khác cho một chủ thể trong việc hồi tưởng ở mức độ siêu thức.
Spiritual organizational arrangements, involving how groups form and are cross-matched with other entities, will be described in subsequent chapters. Những sắp xếp tâm linh, có tính tổ chức – gồm có việc hình thành những nhóm, và sự tương thích với những thực thể khác ra sao – sẽ được mô tả trong những chương tiếp theo.
For the present, it is important we understand welcoming entities may not be part of our own particular learning group in the spirit world.Ngay bây giờ, cần thiết phải hiểu rằng, những thực thể trong ban tiếp tân, có thể sẽ không ở trong “nhóm học tập” đặc thù của riêng chúng ta trong thế giới linh hồn.
This is because all the people who are close to us in our lives are not on the same developmental level. Sở dĩ như vậy, là bởi vì tất cả những người vốn gần gũi với chúng ta trong đời ta, thì không ở cùng một cấp độ tiến hóa.
Simply because they choose to meet us right after death out of love and kindness does not mean they will all be part of our spiritual learning group when we arrive at the final destination of this journey. Họ chọn việc gặp chúng ta ngay sau cái chết, chỉ vì tình yêu và lòng nhân ái, nhưng không có nghĩa là họ sẽ là thành phần của “nhóm học tập” của chúng ta, khi chúng ta đến cái đích đến sau cùng của cuộc hành trình này.
For instance, in Case 6, Uncle Charlie was clearly a more advanced soul than my subject and may even have been serving in the capacity of a spiritual guide.Chẳng hạn, trong ca 6, Chú Charlie rõ ràng là một linh hồn tiến hóa cao [advanced] hơn thân chủ tôi, và thậm chí, có thể đã và đang đóng vai trò của một vị hướng đạo linh hồn.
It was evident to me that one of the primary tasks of Uncle Charlie’s soul was to help Case 6 as a child in the life just ended, and his responsibility continued right after my subject’s death. Tôi thấy rõ rằng, một trong những nhiệm vụ đầu tiên của linh hồn Chú Charlie, là giúp ca 6 – một đứa trẻ trong kiếp sống vừa mới kết thúc – và trách nhiệm của ông vẫn tiếp tục ngay sau cái chết của thân chủ tôi.
With Case 7, the important first contact was Larry, a true soulmate on the same level as this subject. Với ca 7, sự tiếp xúc quan trọng đầu tiên là Larry, một bạn linh hồn thực thụ ở cùng mức tiến hóa với chủ thể này.
Notice also in Case 7, that my subject’s spiritual guide was not conspicuous among her former relatives and friends. Cũng cần lưu ý: trong ca 7, vị hướng đạo của thân chủ tôi thì không dễ nhận diện [conspicuous] trong số những thân thích và bạn hữu kiếp trước.
However, as the scene unfolded, there were indications of a spiritual guide orchestrating the whole meeting process while remaining in the background. Tuy nhiên, trong khi sự việc diễn tiến, thì có những dấu hiệu cho thấy một vị hướng đạo linh hồn đang điều phối toàn bộ quá trình gặp gỡ, trong khi vẫn lưu lại đằng sau hậu trường.
I see this in many cases. Tôi thấy điều này trong nhiều ca.
The second manner in which we are met right after death involves a quiet, meaningful encounter with one’s spiritual guide where no one else is revealed in the immediate vicinity, as in Case 5.Thể cách thứ hai, mà trong đó chúng ta được đón chào ngay sau cái chết, bao gồm một cuộc gặp gỡ thầm lặng, đầy ý nghĩa với vị hướng đạo của mình: không ai khác có mặt trong vùng lân cận gần nhất, như trong ca 5.
Case 8 further illustrates this sort of meeting. Ca 8 minh họa thêm loại gặp gỡ này.
What type of after-death meeting we do experience appears to involve the particular style of our spiritual guide along with requisites of our individual character. Việc chúng ta có cuộc gặp gỡ như thế nào sau cái chết, dường như tùy thuộc vào loại vị hướng đạo đặc thù và tính cách riêng của chúng ta.
I find the duration of this first meeting with our guides does vary after each life depending upon the circumstances of that life. Tôi thấy, thời lượng của cuộc gặp đầu tiên với vị hướng đạo của chúng ta thay đổi sau mỗi kiếp sống, tùy thuộc vào hoàn cảnh của kiếp sống đó.
Case 8 shows the very close relationships people have with their spiritual guides.Ca 8 cho thấy những mối quan hệ rất gắn bó giữa linh hồn và vị hướng đạo của nó.
Many guides have strange sounding names, while others are rather conventional. Nhiều vị hướng đạo có những cái tên rất kỳ lạ, trong khi những người khác, thì khá quy ước.
I find it interesting that the old-fashioned religious term of having a “guardian angel” is now used metaphysically to denote an empathetic spirit. Thật thú vị khi thấy rằng, cái thuật ngữ tôn giáo, “thiên thần bảo hộ,” thì bây giờ được dùng một cách ẩn dụ, để chỉ một linh hồn thấu cảm.
To be honest, this is a term I once denigrated as being foolishly loaded with wishful thinking and representing an out-dated mythology at odds with the modern world. Thành thật mà nói, đây là một thuật ngữ mà đã có lần tôi đã xem thường, vì cho rằng, đó chỉ là ý tưởng vớ vẩn, khờ khạo: nó đại diện cho một huyền thoại lỗi thời, lạc điệu với thế giới hiện đại.
I don’t have that belief anymore about guardian angels. Bây giờ tôi đã có một cái nhìn khác về “thiên thần bảo hộ.
I am repeatedly told that the soul itself is androgynous, and yet, in the same breath, clients declare sex is not an unimportant factor.Tôi được cho biết, một cách lặp đi lặp lại, rằng linh hồn, chính nó, thì lưỡng tính [androgynous], và thế nhưng, đồng thời, những thân chủ tuyên bố rằng, giới tính không phải là một yếu tố không quan trọng.
I have learned all souls can and do assume male and female mental impressions toward other entities as a form of identity preference. Tôi đã học được rằng, mọi linh hồn đều có thể hiện ra với những thực thể khác dưới dạng nam nhân hoặc nữ nhân, tùy theo sở thích của chúng.(50) 
Cases 6 and 7 show the importance of the newly arrived soul in seeing familiar “faces” identified by gender.Ca 6 và 7 cho thấy, đối với những linh hồn mới đến, thì việc nhận diện những khuôn mặt quen thuộc nhờ vào giới tính, nó quan trọng ra sao.
This is also true of the next case.Điều này cũng đúng với ca kế tiếp.
Another reason why I selected Case 8 is to indicate how and why souls choose to visually appear in human form to others in the spirit world. Một lý do khác tại sao tôi chọn ca 8, là để cho thấy, như thế nào và tại sao [trong thế giới linh hồn] những linh hồn lại chọn xuất hiện ra với những người khác trong hình dáng con người.
- Case 8
- Ca 8
Dr. N: You have just started to actually leave the Earth’s astral plane now, and are moving further and further into the spirit world. I want you to tell me what you feel.TS N: Bây giờ, cô đã thực sự rời cái vùng trung giới của Cõi Trần, và đang di chuyển ngày càng xa hơn vào trong thế giới linh hồn. Tôi muốn cô nói cho tôi biết, cô cảm thấy những gì.
S: The silence … so peaceful …CT: Sự im lặng…quá bình an…
Dr. N: Is anyone coming to meet you?TS N: Có ai đang đến để gặp cô không?
S: Yes, it’s my friend Rachel. She is always here for me when I die.CT: Vâng, đó là bạn tôi, Rachel. Cô ấy luôn luôn ở đây đợi tôi khi tôi chết.
Dr. N: Is Rachel a soulmate who has been with you in other lives, or is she someone who always remains here?TS N: Có phải Rachel là một “bạn linh hồn” vẫn luôn ở cùng cô trong những kiếp sống khác, hay cô ta luôn lưu lại ở đây?
S: (with some indignation) She doesn’t always stay here. No, she is with me a lot—in my mind—when I need her. She is my own guardian (said with possessive pride).CT: [khá phẫn nộ] Cô ấy không luôn luôn lưu lại đây. Không, cô ấy hiện ra với tôi nhiều lần – trong tâm trí tôi – khi tôi cần cô ấy. Cô ấy là người bảo hộ của riêng tôi [với giọng tự hào có tính chiếm hữu].
Note: The attributes of guides as differentiated from soulmates and other supportive entities will be examined in Chapter Eight.CHÚ THÍCH: Những thuộc tính của những vị hướng đạo thì rất khác biệt với những thuộc tính của những “bạn linh hồn” và những thực thể hỗ trợ khác. Vấn đề này sẽ được xem xét trong chương 8.
Dr. N: Why do you call this entity a “she”? Aren’t spirits supposed to be sexless?TS N: Tại sao cô gọi thực thể này là “cô ấy”? Há chẳng phải những linh hồn được cho là phi giới tính?
S: That’s right—in a literal way, because we are capable of both attributes. Rachel wants to show herself to me as a woman for the visual knowing and it is a mental thing as well with her.CT: Điều đó đúng – theo nghĩa đen, bởi vì chúng tôi có thể có cả hai thuộc tính. Rachel muốn hiện ra ra với tôi như là một phụ nữ để tôi dễ nhận ra cô, và nó cũng có ý nghĩa tinh thần đối với cô.
Dr. N: Are you locked into male or female attributes during your spiritual existence?TS N: Có phải người ta bị khóa chặt vào trong những thuộc tính nam hay nữ trong sự hiện hữu họ trong thế giới linh hồn?
S: No. As souls there are periods in our existence when we are more inclined toward one gender than another.CT: Không. Với tư cách là linh hồn, có những giai đoạn trong hiện hữu chúng tôi, khi chúng tôi thiên về giới tình này hơn giới tính kia.
Eventually, this natural preference evens out.Sau cùng, sở thích tự nhiên này trở nên bão hòa.
Dr. N: Would you describe how Rachel’s soul actually looks to you at this moment?TS N: Làm ơn mô tả, linh hồn Rachel nom ra sao với cô vào khoảnh khắc này.
S: (quietly) A youngish woman … as I remember her best … small, with delicate features … a determined expression on her face … so much knowledge and love.CT: [nói khẽ] Một phụ nữ tre trẻ…vẫn như xưa…nhỏ bé, với những đường nét thanh tú…nét cương quyết trên khuôn mặt cô ấy…quá nhiều sự hiểu biết và tình yêu.
Dr. N: Then you have known Rachel on Earth?TS N: Vậy, cô đã biết Rachel lúc còn ở Cõi Trần?
S: (responding with nostalgia) Once, long ago, she was close to me in life … now she is my guardian.CT: [hoài cảm] Xưa kia, cách đây đã lâu, cô ấy thân thiết với tôi trong cuộc đời…và bây giờ, cô ấy là người bảo hộ của tôi.
Dr. N: And what do you feel when you look at her?TS N: Và cô cảm thấy thế nào khi cô nhìn cô ấy?
S: A calmness … tranquility … love …CT: Một sự bình an…sự thanh thản…tình yêu…
Dr. N: Do you and Rachel actually look at each other with eyes in a human way?TS N: Cô và Rachel có nhìn nhau với đôi mắt, như cách con người ở Cõi Trần vẫn làm?
S: (hesitates) Sort of … but different. You see the mind behind what we take to be eyes, because that is what we relate to on Earth. Of course, we can do the same thing as humans on Earth, too …CT: [lưỡng lự] Gần như vậy... Nhưng khác. Bạn thấy tâm trí đằng sau cái mà chúng ta cho là đôi mắt, bởi vì ở Cõi Trần, đôi mắt là “cửa sổ” của linh hồn. Dĩ nhiên, chúng tôi cũng có thể làm cái tương tự như những con người ở Cõi Trần…
Dr. N: What can you do on Earth with your eyes that can also be done in the spirit world?TS N: Những gì đôi mắt có thể làm ở cõi trần, thì chúng cũng có thể làm trong thế giới linh hồn?
S: When you look into a certain person’s eyes on the ground—even people you have just met—and see a light you have known before … well, that tells you something about them. As a human you don’t know why—but your soul remembers.CT: Ở Cõi Trần, khi bạn nhìn vào trong đôi mắt của một người nào đó – thậm chí những người mà bạn vừa mới gặp – và thấy một làn ánh sáng mà bạn đã biết trước đây…vâng, cái đó nói cho bạn biết một cái gì đó về người ấy. Như là con người, bạn không biết tại sao – nhưng linh hồn bạn biết và nhớ lại.
Note: I have heard about the light of spiritual identity being reflected in the human eyes of a soulmate expressed in a variety of ways from many clients.CHÚ THÍCH: Tôi đã nghe nói đến làn ánh sáng của “bản sắc linh hồn” [spiritual identity] được phản chiếu trong đôi mắt người của “bạn linh hồn” – được nhiều thân chủ của tôi diễn tả bằng nhiều cách khác nhau.
As for myself, I have knowingly experienced this instant recognition only once in my life at the moment I first saw my own wife. The effect is startling, and a bit eerie as well.Về phần tôi, tôi đã, một cách hữu thức, trải nghiệm sự “nhận ra tức thì”(51) chỉ một lần trong đời mình, vào khoảnh khắc mà lần đầu tiên tôi thấy người vợ của chính tôi. Cái sự “nhận ra” đó gây ra một cảm giác thảng thốt và cũng khá huyền bí.
Dr. N: Are you saying that sometimes on Earth when two people look at each other, they may feel they have known one another before?TS N: Có phải cô đang nói rằng, đôi khi ở Cõi Trần, khi hai người nhìn nhau, họ có thể cảm thấy rằng họ đã biết nhau trước đây?
S: Yes, it’s deja vu.CT: Vâng, đúng vậy.
Dr. N: Let’s go back to Rachel in the spirit world. If your guardian did not project an image of herself in human form to you, would you have known her anyway?TS N: Chúng ta hãy quay trở lại với Rachel trong thế giới linh hồn. Nếu người bảo hộ của cô không hiện ra với cô trong hình dáng con người, thì cô có nhận ra cô ấy không?
S: Well, naturally we can always identify each other by the mind. But, it’s nicer this way. I know it sounds crazy, but it’s a … social thing … seeing a familiar face puts you at ease.CT: Vâng, đương nhiên, chúng tôi luôn luôn có thể nhận ra nhau bằng tâm trí. Nhưng, theo cách này thì dễ chịu hơn. Tôi biết, nó có vẻ điên rồ, nhưng nó là một…điều có tính xã hội…việc thấy một khuôn mặt quen, khiến cho ta thoải mái.
Dr. N: Seeing human features of people you knew in past lives is a good thing then, particularly in the readjustment period right after leaving Earth?TS N: Vậy thì, việc thấy những đường nét con người của những người mà chúng ta quen biết trong những kiếp quá khứ, là một điều tốt, nhất là, trong giai đoạn tái thích nghi ngay sau khi rời Cõi Trần?
S: Yeah, otherwise you feel a little lost at first … lonesome … and maybe confused, too … seeing people as they were helps me get used to things here faster when I first come back, and seeing Rachel is always a big boost.CT: Vâng, nếu không, bạn cảm thấy một chút lạc lõng ban đầu… cô đơn…và cũng có thể bối rối nữa…việc thấy những người như họ đã là, giúp tôi trở nên quen với những sự thể ở đây nhanh hơn, khi lần đầu tiên tôi trở lại, và việc thấy Rachel luôn luôn là một nguồn động viên lớn.
Dr. N: Does Rachel present herself to you in human form right after each death on Earth as a way of getting you readjusted to the spirit world?TS N: Ngay sau mỗi cái chết của cô ở Cõi Trần, có phải Rachel hiện ra với cô trong hình dáng con người, là để giúp cô dễ tái thích nghi với thế giới linh hồn?
S: (eagerly) Oh, yes—she does! And she gives me security.CT: [tha thiết] Ồ, vâng – đúng vậy! Và cô ấy cho tôi sự an tâm.
I feel better when I see others I have known before too …Tôi cũng cảm thấy dễ chịu hơn khi tôi thấy những người khác mà tôi đã biết trước đây…
Dr. N: And do you speak to these people?TS N: Và cô có nói chuyện với những người này không?
S: No one speaks, we communicate by the mind.CT: Không ai nói thành lời, chúng tôi truyền thông bằng tâm trí.
Dr. N: Telepathically?TS N: Thần giao cách cảm?
S: Yes.CT: Vâng.
Dr. N: Is it possible for souls to have private conversations which cannot be telepathically picked up by others?TS N: Những linh hồn có thể có những cuộc trò chuyện riêng tư mà những người khác không thể nghe được, dù là bằng “thần giao cách cảm”?
S: (pause) … for intimacy—yes.CT: [im lặng một lát] … Đối với những chuyện thầm kín – vâng.
Dr. N: How is this done?TS N: Việc này được làm như thế nào?
S: By touch—it’s called touching communication.CT: Bằng sự xúc chạm – nó được gọi là “truyền thông bằng xúc chạm.”
Note: When two spirits come so close to each other they are conjoined, my subjects say they can send private thoughts by touch which passes between them as “electrical sound impulses.” In most instances, subjects in hypnosis do not wish to talk to me about these personal confidences.CHÚ THÍCH: Những thân chủ tôi nói rằng, khi hai linh hồn đến quá kề sát nhau, đến nỗi chúng được nối kết với nhau, thì chúng có thể gửi những ý tưởng riêng tư bằng xúc chạm, vốn qua lại giữa chúng như “những xung lực âm thanh điện từ.” Trong phần lớn trường hợp, những chủ thể [trong cơn thôi miên] không thích nói với tôi về những chuyện thầm kín cá nhân này.
Dr. N: Could you clarify for me how human features can be projected by you as a soul?TS N: Làm ơn giải thích rõ cho tôi, bằng cách nào mà, với tư cách là linh hồn, cô có thể “biến ra” những đường nét con người?
S: From … my mass of energy … I just think of the features I want … but I can’t tell you what gives me the ability to do this.CT: Từ…khối năng lượng của tôi…Tôi chỉ cần nghĩ về những sắc thái mà tôi đã là, nhưng, tôi không thể nói với ông, cái gì cho tôi khả năng để làm việc này.
Dr. N: Well, then, can you tell me why you and the other souls project certain features at different times?TS N: Vậy, cô có thể nói cho tôi biết, tại sao cô và những linh hồn khác “biến ra” những sắc thái nào đó ở những thời gian khác nhau?
S: (long pause) It depends on where you are in your movements around here … when you see another … and your state of mind then.CT: [im lặng lâu] Nó tùy thuộc vào việc bạn ở đâu trong những chuyển động của bạn xung quanh đây…bạn gặp nhau lúc nào…và trạng thái tâm trí của bạn lúc đó.
Dr. N: That’s what I want to get at. Tell me more about recognition.TS N: Đó là cái mà tôi muốn biết. Hãy nói thêm về việc nhận ra nhau.
S: You see, recognition depends on a person’s … feelings when you meet them here. They will show you what they want you to see of themselves and what they think you want to see. It also depends on the circumstances of your meeting with them.CT: Ông thấy đó, sự nhận ra tùy thuộc vào…những cảm nhận của mỗi người…khi bạn gặp họ ở đây. Họ sẽ cho bạn thấy cái mà họ muốn bạn thấy ở họ và cái mà họ nghĩ là bạn muốn thấy. Nó cũng tùy thuộc vào những hoàn cảnh mà trong đó bạn gặp họ.
Dr. N: Can you be more specific? What different circumstances can cause energy forms to materialize in a certain way toward other spirits?TS N: Cô có thể nói cụ thể hơn? Những hoàn cảnh khác nhau nào có thể khiến cho những dạng năng lượng trở nên vật chất hóa trong cách nào đó đối với những linh hồn khác?
S: It is the difference between your being on their turf or your turf. They may choose to show you one set of features in one place, while in another you might see something else.CT: Đó là sự khác biệt giữa việc bạn ở trong “nơi chốn” của họ, hay [ở trong] nơi chốn của bạn. Mỗi nơi mỗi khác: nơi này, họ có thể cho bạn thấy một chuỗi những sắc thái nào đó; nơi khác, bạn có thể thấy những sắc thái khác.
Note: Spiritual “territory” will be explained as we proceed further into the spirit world.CHÚ THÍCH: “Lãnh thổ” linh hồn sẽ được giải thích khi chúng ta tiến xa hơn vào trong thế giới linh hồn.
Dr. N: Are you telling me that a soul may show you one face at the gateway to the spirit world and another image later in a different situation?TS N: Có phải cô đang nói với tôi rằng, tại cổng vào của thế giới linh hồn, một linh hồn có thể cho cô thấy một khuôn mặt, và về sau, một khuôn mặt khác, trong một tình huống khác?
Dr. N: Why?TS N: Tại sao vậy?
S: Like I was telling you, a lot of how we present ourselves to each other depends on what we are feeling right then … what relationship we have with a certain person and where we are.CT: Như tôi đang nói với ông, việc chúng ta tự trình diện chính mình với nhau, tùy thuộc nhiều vào cái mà chúng ta đang cảm thấy ngay lúc đó…tính chất của mối quan hệ mà chúng ta có với một người nhất định và nơi mà chúng ta đang ở.
Dr. N: Please tell me if I understand all this correctly. The identity souls project to each other depends on timing and location in the spirit world as well as mood, and maybe psychological states of mind when they meet?TS N: Làm ơn nói cho tôi biết, liệu tôi có hiểu đúng mọi thứ này hay không. Cái “bản sắc” [identity] mà những linh hồn “phóng ra” cho nhau, tùy thuộc vào thời gian và địa điểm trong thế giới linh hồn, cũng như [tùy thuộc] tâm trạng, và có thể, những trạng thái tâm lý khi chúng gặp nhau?
S: Sure, and it works both ways … it’s interconnecting.CT: Chắc chắn rồi, và nó vận hành theo cả hai cách…chúng có quan hệ hỗ tương với nhau.
Dr. N: Then, how can we know the true character of a soul’s consciousness with all these changes in each other’s image?TS N: Vậy, làm thế nào những linh hồn nhận ra nhau, khi mỗi lúc, chúng hiện ra dưới một khuôn mặt khác nhau?
S: (laughs) The image you project never hides who you really are from the rest of us. Anyway, it’s not the same kind of emotion we know on Earth. Here it is more … abstract. Why we project certain features and thoughts … is based on a … confirmation of ideas.CT: [cười] Cái hình ảnh mà bạn “phóng ra,” không bao giờ che giấu con người thực của bạn. Dù sao đi nữa, nó không cùng loại cảm xúc mà chúng ta trải nghiệm ở Cõi Trần. Ở đây, nó…trừu tượng hơn. Lý do tại sao chúng tôi phóng ra những sắc thái và ý tưởng nào đó…đặt nền trên…một xác nhận về những ý kiến.(52)
Dr. N: Ideas? Do you mean your sentiments at the time?TS N: Những ý kiến? Có phải bạn muốn nói, những tình cảm vào lúc đó?
S: Yes … sort of … because these human features were part of our physical lives in other places when we discovered things … and developed ideas … it is all a … continuum for us to use here.CT: Vâng…gần như vậy…bởi vì những sắc thái con người này là thành phần của cuộc sống vật lý của chúng ta ở những nơi khác, khi mà chúng ta khám phá những sự thể…và phát triển những ý tưởng…tất cả là một…“thể liên tục” [continuum] để chúng ta dùng ở đây.
Dr. N: Well, if in each of our past lives we have a different face, which one do we assume between lives?TS N: Trong những kiếp quá khứ của mình, nếu mỗi kiếp chúng ta có một khuôn mặt khác nhau, thì chúng ta “khoác vào” khuôn mặt nào khi chúng ta trở lại thế giới linh hồn?
S: We mix it up. You assume those features which the person you see will most recognize as you, depending on what you want to communicate.CT: Chúng ta hòa trộn chúng với nhau. Bạn “phóng ra” những đường nét nào mà người bạn gặp sẽ nhận ra bạn dễ nhất, tùy thuộc vào việc bạn muốn truyền thông cái gì.
Dr. N: What about communication without projecting features?TS N: Còn về việc truyền thông mà không phóng ra những đường nét, thì thế nào?
S: Sure, we do that—it’s normal—but I mentally associate with people more quickly with features.CT: Chắc chắn rồi, chúng tôi vẫn làm như thế – đó là chuyện bình thường – nhưng tôi tiếp cận với người khác nhanh hơn, qua những đường nét.
Dr. N: Do you favor projecting a certain set of facial features?TS N: Có phải cô thích phóng ra một loạt đường nét nhất định nào đó trên khuôn mặt?
S: Hmm … I like the face with the mustache … having a rock-hard jaw …CT: Tôi thích khuôn mặt có râu mép…có một cái quai hàm cứng như sắt …
Dr. N: You mean when you were Jeff Tanner, the cowpuncher from Texas in the life we discussed earlier?TS N: Cô muốn nói, khi cô còn là Jeff Tanner, gã cao-bồi ở Texas trong kiếp sống mà chúng ta đã thảo luận trước đây?
S: (laughs) That’s it—and I have had faces like Jeff ’s in other lives, too.CT: [cười thành tiếng] Chính thế! Và tôi đã có những khuôn mặt giống như của Jeff trong những kiếp sống khác, nữa.
Dr. N: But, why Jeff? Was it just because he was you in your last life?TS N: Nhưng, tại sao lại là Jeff? Có phải chỉ vì anh ta đã là cô trong kiếp vừa qua của cô?
S: No, I felt good as Jeff. It was a happy, uncomplicated life. Damn, I looked great! My face resembled those billboard smoking ads you used to see along the highway. (chuckling) I enjoy showing off my handle-bar mustache as Jeff.CT: Không, tôi cảm thấy thoải mái khi còn là Jeff. Đó là một kiếp sống hạnh phúc, không phức tạp. Mẹ kiếp, nom tuyệt cú mèo! Khuôn mặt của tôi giống như trong những tấm bảng quảng cáo thuốc lá mà bạn thường thấy dọc theo xa lộ. [cười khúc khích] Khi còn là Jeff, tôi thích phô bày cái bộ râu mép vễnh lên của mình.
Dr. N: But that was only one life. People not associated with you in that life may not recognize you here.TS N: Nhưng đó chỉ là một kiếp sống. Những người không giao du với cô trong kiếp sống đó, có thể không nhận ra cô ở đây.
S: Oh, they would get it was me soon enough. I could change to something else, but I like myself as Jeff the best right now.CT: Ồ, họ sẽ nhận ra đó là tôi, khá sớm. Tôi có thể thay đổi thành một cái gì khác, nhưng ngay bây giờ, tôi thích nhất mình có hình dáng của Jeff.
Dr. N: So, this goes back to what you were saying about all of us really only having one identity, regardless of the number of facial features we might project as souls?TS N: Như thế, điều này nhất quán với những gì mà cô đang nói: tất cả chúng ta thực sự có chỉ một “bản sắc” bất luận số lượng những đường nét trên khuôn mặt mà chúng ta có thể phóng ra, với tư cách là linh hồn?
S: Yeah, you see everyone as they truly are. Some only want their best side to show because of what you might think of them—they don’t fully appreciate that it is what you are striving for which is important, not how you appear. We get a lot of laughs about how spirits think they should look, even taking faces they never had on Earth, and that’s okay.CT: Vâng, ta thấy mọi người như họ thực sự là vậy. Một vài người chỉ muốn phô bày cái phía tốt nhất của họ – họ muốn ta nghĩ tốt về họ – nhưng họ không nhận thức đầy đủ rằng, cái mà ta đang phấn đấu đạt tới, mới là cái quan trọng, chứ không phải việc ta hiện ra như thế nào. Chúng tôi thấy rất buồn cười, rằng những linh hồn nghĩ họ nên hiện ra như thế nào, thậm chí, “khoác vào” những khuôn mặt mà họ không bao giờ có ở Cõi Trần, nhưng điều đó cũng không sao.
Dr. N: Are we talking about the more immature souls, then?TS N: Vậy, có phải chúng ta đang nói về những linh hồn kém tiến hóa hơn?
S: Yes, usually. They can get stuck … we don’t judge … in the end they are going to be all right.CT: Vâng, thường khi. Họ có thể bị kẹt…nhưng chúng tôi không phán xét…cuối cùng, họ sẽ ổn.
Dr. N: I think of the spirit world as a place of supreme all-knowing intelligent consciousness and you make it appear that souls have moods and vanity as though they were back on Earth?TS N: Tôi nghĩ về thế giới linh hồn như là một nơi chốn của “ý thức” thông minh, toàn trí, nhưng theo tường thuật của cô, thì có vẻ như những linh hồn cũng có những tâm trạng và niềm kiêu ngạo vô lối như thể họ đang ở ở Cõi Trần?
S: (burst of laughter) People are people no matter how they look on their physical worlds.CT: [bật cười] Con người vẫn là con người, bất luận họ nom ra sao trong những thế giới vật lý của họ.
Dr. N: Oh, do you see souls who have gone to planets other than Earth?TS N: Ồ, cô có thấy những linh hồn đi tới những hành tinh khác ngoài Cõi Trần?
S: (pause) Once in a while …CT: [im lặng một lát] Thỉnh thoảng …
Dr. N: What features do souls from other planets besides Earth show you?TS N: Những linh hồn từ những hành tinh khác, ngoài Cõi Trần, phô bày ra với cô những đường nét gì?
S: (evasively) I … kind of stick with my own people, but we can assume any features we want for communication …CT: [một cách né tránh] Với những người [quen biết] của riêng tôi, thì tôi “phóng ra” những đường nét con người, nhưng chúng tôi có thể “khoác lên” bất cứ đường nét nào mà chúng tôi muốn truyền thông…
Note: Gaining information from the subjects I have had who are able to recall leading physical past lives in non-human form on other worlds is always challenging. Recollection of these experiences are usually limited to older, more advanced souls, as we will see later.CHÚ THÍCH: Trong các thân chủ của tôi, một số người có khả năng hồi tưởng những kiếp sống vật lý quá khứ, mà ở đó, họ đã sống trong hình dáng “phi nhân trạng” [non-human] trong những thế giới khác. Nhưng việc thu thập thông tin từ họ là rất khó khăn, thách thức. Sự nhớ lại những kinh nghiệm này thường chỉ giới hạn vào những linh hồn “già” hơn, tiến hóa hơn, như chúng ta sẽ thấy về sau.
Dr. N: Is this ability to transmit features to each other as souls a gift the creator provided for us based upon spiritual need?TS N: Có phải khả năng này – khả năng truyền đạt những đường nét cho nhau – là một món quà mà Tạo Hóa đã ban cho chúng ta, dựa trên nhu cầu của linh hồn?
S: How should I know—I’m not God!CT: Làm thế nào tôi biết được – tôi không phải là Thượng đế!
The concept of souls having fallibility comes as a surprise to some people.Khái niệm rằng linh hồn có thể sai lầm, khiến cho một số người ngạc nhiên.
The statements of Case 8 and all my other clients indicate most of us are still far from perfect beings in the spirit world. Những phát biểu của ca 8 và tất cả những thân chủ khác của tôi, cho thấy rằng, phần lớn chúng ta còn xa mới là những hữu thể toàn thiện trong thế giới linh hồn.
The essential purpose of reincarnation is self-improvement. Mục đích cốt yếu của việc đầu thai, là để tự cải thiện mình.
The psychological ramifications of our development, both in and out of the spirit world, is the foundation of my work. Những kết quả bất ngờ của ngành tâm lý học về sự phát triển của chúng ta, cả trong lẫn ngoài thế giới linh hồn, là nền tảng của công trình của tôi.
We have seen the importance of meeting other entities while entering the spirit world.Chúng ta đã thấy tầm quan trọng của việc gặp những thực thể khác trong khi bước vào thế giới linh hồn.
Besides uniting with our guides and other familiar beings, I have mentioned a third form of reentry after death. Ngoài việc gặp gỡ những vị hướng đạo của chúng ta và những hữu thể quen thuộc khác, tôi đã đề cập tới một dạng thứ ba: Đây là một tình huống khá bối rối, mà trong đó, một linh hồn không có ai chào đón.
This is the rather disconcerting manner in which a soul is met by no one.
Although it is an uncommon occurrence for most of my clients, I still feel a little sorry for those subjects who describe how they are pulled by unseen forces all alone to their final destinations, where contact is finally made with others.Mặc dù đó là một sự việc bất thường đối với phần lớn những thân chủ của mình, tôi vẫn cảm thấy một chút ái ngại cho một số thân chủ: họ mô tả, họ hoàn toàn cô độc, bị kéo đi bởi những lực vô hình, tới cái đích đến sau cùng của họ, nơi mà họ tiếp xúc với những người khác.
This would be akin to landing in a foreign country where you have been before, but without any baggage handlers or a tourist information desk to assist you with directions. Điều này tương tự như việc đặt chân xuống một nước ngoài, nơi mà họ đã từng có mặt trước đó, nhưng không có những phu khuân vác, hay một bàn tiếp tân, để trợ giúp họ với những lời chỉ dẫn.
I suppose what bothers me the most about this type of entry is the apparent lack of any soul acclimation. Tôi cho rằng, cái làm cho tôi ái ngại nhất về loại linh hồn này, là rõ ràng, họ hoàn toàn thiếu khả năng thích nghi.
My own conceptions of what it must be like to be alone at the spiritual gateway and beyond is not shared by those souls who utilize the option of going solo.Tuy nhiên, sự ái ngại đó không được chia sẻ bởi những linh hồn [mà họ] chọn việc đi một mình.
Actually, people in this category are experienced travelers. Thực ra, những người trong phạm trù này là những kẻ du hành giàu kinh nghiệm.
As older, mature souls, they seem to require no initial support system. Đây là những linh hồn “già” hơn, chín chắn hơn, nên dường như họ không cần hệ thống hỗ trợ ban đầu nào.
They know right where they are going after death. Họ biết chính xác cái nơi mà họ sẽ đi tới sau cái chết.
I suspect the process is accelerated for them as well, because they manage to more rapidly wind up where they belong than those who stop to meet others. Tôi đoán rằng, đối với họ, cái tiến trình cũng được tăng tốc, bởi vì họ có thể nhanh chóng đi tới cái nơi mà họ thuộc về, so với những linh hồn dừng lại để gặp những người khác.
Case 9 is a client who has had a great number of lives, spanning thousands of years.Ca 9 là một thân chủ đã có nhiều kiếp sống quá khứ, trải qua hàng ngàn năm.
About eight lives before his current one, people finally stopped meeting him at the spiritual gate. Kể từ vào khoảng 8 kiếp sống trước kiếp sống hiện nay của mình, sau cùng, không còn ai đón chào anh ta tại cổng vào thế giới linh hồn.
- Case 9
- Ca 9
Dr. N: What happens to you at the moment of death?TS N: Cái gì xảy ra cho anh ở khoảnh khắc chết?
S: I feel a great sense of release and I move out fast.CT: Tôi cảm thấy được trút gánh nặng và tôi di chuyển nhanh.
Dr. N: How would you characterize your departure from Earth into the spirit world?TS N: Sự khởi hành của anh từ Cõi Trần vào trong thế giới linh hồn có những nét đặc trưng nào?
S: I shoot up like a column of light and I’m on my way.CT: Tôi bắn lên giống như một cột ánh sáng và tôi đang trên đường đi.
Dr. N: Has it always been this fast for you?TS N: Đối với anh, nó có luôn luôn nhanh như thế không?
S: No, only after my last series of lives.CT: Không, chỉ sau chuỗi kiếp sống quá khứ của tôi.
S: I know the way, I don’t need to see anybody—I’m in a hurry.CT: Tôi biết lối đi, tôi không cần gặp bất cứ ai – tôi muốn đi ngay.
Dr. N: And it doesn’t bother you that you are not met by anyone?TS N: Và anh không bận tâm về việc không có ai chào đón anh?
S: (laughs) There was a time when it was good, but I don’t require that sort of thing anymore.CT: [cười] Có một thời gian, thì sự đón tiếp là tốt, nhưng bây giờ, tôi không còn cần đến nó nữa.
Dr. N: Whose decision was it to allow you to enter the spirit world without assistance?TS N: Ai quyết định cho phép anh bước vào thế giới linh hồn mà không có sự hỗ trợ?
S: (pause and then with a shrug) It was … a mutual decision … between my teacher and me … when I knew I could handle things by myself.CT: [im lặng một lát, rồi nhún vai] Đó là một quyết định… chung…giữa vị hướng đạo của tôi và tôi…khi tôi đã biết rằng tôi có thể xử lý sự việc một mình.
Dr. N: And you don’t feel rather lost or lonely right now?TS N: Và ngay bây giờ, anh không cảm thấy hơi lạc lõng và cô đơn?
S: Are you kidding? I don’t need my hand held anymore. I know where I’m going and I’m anxious to get there. I’m being pulled along by a magnet and I just enjoy the ride.CT: Ông đang đùa hả? Tôi không cần ai nắm tay mình nữa. Tôi biết nơi tôi đang đi tới, và tôi sốt ruột muốn tới đó. Tôi đang được kéo bởi một từ -lực và tôi đơn giản tận hưởng chuyến đi.
Dr. N: Explain to me how this pulling process works which will take you to your destination?TS N: Hãy giải thích cho tôi, tiến trình kéo này – mà sẽ đưa anh tới đích đến của anh – nó vận hành ra sao?
S: I am riding on a wave … a beam of light.CT: Tôi đang cưỡi trên một con sóng…một chùm ánh sáng.
Dr. N: Is this beam electromagnetic, or what?TS N: Cái chùm này có điện từ tính, hay cái gì khác?
S: Well … it’s similar to the bands of a radio with someone turning the dial and finding the right frequency for me.CT: Vâng, nó tương tự như những băng-tần của một cái radio, với một “ai đó” đó đang dò và tìm thấy tần số đúng cho tôi.
Dr. N: Are you saying you are being guided by an invisible force without much voluntary control and that you can’t speed things up as you did right after death?TS N: Anh nói rằng, anh đang được hướng dẫn bởi một lực vô hình và không có nhiều sự kiểm soát của ý chí cá nhân, và rằng, anh không thể đẩy nhanh tốc độ như lúc ngay sau cái chết?
S: Yes. I must go with the wave bands of light … the waves have direction and I’m flowing with it.CT: Vâng. Tôi phải đi với những tần số của sóng ánh sáng … những làn sóng có chiều hướng và tôi đang trôi với nó. T
It’s easy. They do it all for you.hật dễ dàng. Họ làm mọi sự cho bạn.
Dr. N: Who does it for you?TS N: Ai làm nó cho bạn?
S: The ones in control … I don’t really know.CT: Kẻ đang điều khiển…tôi không rõ.
Dr. N: Then you are not in control. You don’t have the responsibility of finding your own destination.TS N: Vậy, anh không ở trong thế chủ động. Anh không có trách nhiệm phải tìm kiếm đích đến riêng của mình.
S: (pause) My mind is in tune with the movement … I flow with the resonance …CT: [im lặng một lát] Tâm trí tôi hòa điệu với sự di chuyển… Tôi trôi với cái vọng âm …
Dr. N: Resonance? You hear sounds?TS N: Vọng âm? Anh nghe những âm thanh?
S: Yes, the wave beam … vibrates … I am locked into this, too.CT: Vâng, chùm ánh sáng…rung động…Tôi cũng bị khóa vào trong chùm ánh sáng này..
Dr. N: Let’s go back to your statement about the radio. Is your spiritual travel influenced by vibrational frequencies such as high, medium, and low resonance quality?TS N: Chúng ta hãy đi trở lại phát biểu của anh về cái radio. Cuộc du hành tâm linh của anh có bị ảnh hưởng bởi những tần số rung động như cao, trung bình, thấp?
S: (laughing) That’s not bad—yes, and I’m on a line, like a homing beacon of sound and light … and it’s part of my own tonal pattern— my frequency.CT: [cười] Ý kiến của ông cũng không tệ! Vâng, tôi đang ở trên một đường vạch, giống như ngọn hải đăng chỉ đường bằng âm thanh và ánh sáng…và nó là bộ phận của “kiểu âm điệu” của riêng tôi – tần số của tôi.
Dr. N: I’m not sure I understand how light and vibration combine to set up directional bands.TS N: Tôi không chắc là tôi hiểu, bằng cách nào mà ánh sáng và sự rung động kết hợp lại để thiết lập những tần số có tính định hướng.
S: Think of a monster tuning fork inside a flashing strobe light.CT: Hãy nghĩ về một âm thoa khổng lồ bên trong một làn ánh sáng nhấp nháy.
Dr. N: Oh, then there is energy here?TS N: Ồ, vậy thì có năng lượng ở đây?
S: We have energy—within an energy field. So, it isn’t just the lines we travel on … we generate energy ourselves … we can use these forces depending on our experience.CT: Chúng ta có năng lượng – bên trong một trường năng lượng. Do vậy, chúng ta không chỉ du hành trên những đường vạch … mà chúng ta, chính mình, còn làm phát sinh năng lượng…chúng ta có thể dùng những lực tùy theo kinh nghiệm của mình.
Dr. N: Then your maturity level does give you some element of control in the rate and direction of travel.TS N: Vậy, mức độ trưởng thành của anh thực sự cho anh yếu tố kiểm soát nào đó trong tốc độ và chiều hướng của việc du hành.
S: Yes, but not right here. Later, when I am settled I can move around much more on my own. Now, I’m being pulled and I’m supposed to go with it.CT: Vâng, nhưng không ngay ở đây. Về sau, khi tôi ổn định, tôi có thể di chuyển chỗ này chỗ kia nhiều hơn, theo ý mình. Bây giờ, tôi đang bị kéo đi và tôi phải đi với nó.
Dr. N: Okay, stay with this and describe to me what happens next.TS N: Được rồi, hãy lưu lại với cái này và mô tả cho tôi, cái gì xảy ra kế tiếp.
S: (short pause) I’m moving alone … being homed into my proper space … going where I belong.CT: [im lặng ngắn] Tôi đang di chuyển một mình …đang được đưa trở lại cái không gian phù hợp của tôi…đang đi tới cái nơi mà tôi thuộc về.
In hypnosis, the analytical conscious mind works in conjunction with the unconscious mind to receive and answer messages directed to our deep-seated memories.Trong cơn thôi miên, cái tâm trí hữu-thức [phân tích] làm việc phối hợp với với cái tâm trí bất-thức để tiếp nhận và gửi những thông điệp tới những [vùng] ký ức ăn sâu bắt rễ của chúng ta.
The subject in Case 9 is an electrical engineer and thus he utilized some technical descriptions to express his spiritual sensations. Chủ thể trong ca 9 là một kỹ sư điện và do vậy, anh ta sử dụng vài mô tả kỹ thuật để diễn tả những cảm giác tâm linh của mình.
This client’s predisposition to explain his thoughts on soul travel in technical terms was encouraged, but not dictated, by my suggestions. Chủ thể này giải thích cuộc du hành của linh hồn anh ta bằng những thuật ngữ kỹ thuật, là do được động viên, nhưng không được ra lệnh, bởi những gợi ý của tôi.
All subjects bring their own segments of knowledge to bear on answering my questions about the spirit world. Mọi thân chủ đều sử dụng vốn kiến thức riêng của mình để trả lời những câu hỏi của tôi về thế giới linh hồn.
This case used physical laws familiar to him to describe motion, whereas another person might have said souls move in this tract within a vacuum. Ca này dùng những qui luật vật lý quen thuộc với anh ta để mô tả sự chuyển động, trong khi một người khác, có thể đã nói rằng, những linh hồn di chuyển trong không gian này bên trong một khoảng chân không.
Before continuing with the passage of souls into the spirit world, I want to discuss those entities who either have not made it this far after physical death, or will be diverted from the normal travel route.Trước khi tiếp tục với sự di chuyển của linh hồn vào trong thế giới linh hồn, tôi muốn thảo luận về những thực thể mà hoặc chưa tiến xa sau cái chết vật lý, hoặc sẽ bị chệch khỏi lộ trình [du hành] bình thường.