CHƯƠNG VIII. NHỮNG VỊ HƯỚNG ĐẠO CỦA CHÚNG TA

8. Our GuidesCHƯƠNG VIII. NHỮNG VỊ HƯỚNG ĐẠO CỦA CHÚNG TA
I HAVE never worked with a subject in trance who did not have a personal guide.Tôi chưa bao giờ làm việc với một thân chủ trong phiên thôi miên, mà họ không có một vị hướng đạo riêng.
Some guides are more in evidence than others during hypnosis sessions. Trong phiên thôi miên, thì vài vị hướng đạo dễ nhận ra hơn những vị [hướng đạo] khác.
It is my custom to ask subjects if they see or feel a discarnate presence in the room. Tôi có thói quen hỏi những thân chủ của mình, rằng họ có thấy hay cảm nhận sự hiện diện của một thực thể vô hình nào trong phòng hay không.
If they do, this third party is usually a protective guide. Nếu họ có thấy, hay cảm thấy, thì thành phần thứ ba này thường là một vị hướng đạo.
Often, a client will sense the presence of a discarnate figure before visualizing a face or hearing a voice. Thường khi, một thân chủ sẽ cảm nhận sự hiện diện của một nhân vật vô hình, trước khi hình dung ra một khuôn mặt hay nghe một giọng nói.
People who meditate a great deal are naturally more familiar with these visions than someone who has never called upon his or her guide.Đương nhiên, những người hành thiền miên mật, thì quen thuộc nhiều hơn với những “hiện hình” [vision] này hơn một người không bao giờ “kêu gọi” vị hướng đạo của mình.
The recognition of these spiritual teachers brings people into the company of a warm, loving creative power. Việc nhận ra những vị thầy tâm linh này cho phép ta tiếp xúc với một sức mạnh ấm áp, đầy yêu thương và sáng tạo.
Through our guides, we become more acutely aware of the continuity of life and our identity as a soul. Thông qua những vị hướng đạo của mình, chúng ta nhận thức sâu sắc hơn về sự liên tục của sự sống và cái “căn cước” [identity] của ta như là một linh hồn.
Guides are figures of grace in our existence because they are part of the fulfillment of our destiny. Những vị hướng đạo là những nhân vật mang hồng ân đến cho hiện hữu của chúng ta, bởi vì họ là một phần trong sự thành tựu số phận chúng ta.
Guides are complex entities, especially when they are master guides.Những vị hướng đạo là những thực thể phức tạp, nhất là khi họ ở đẳng cấp “tôn sư” [master guides].
The awareness level of the soul determines to some extent the degree of advancement of the guide assigned to them. Ở chừng mực nào đó, thì tùy mức độ phát triển của linh hồn, mà nó sẽ có những vị hướng đạo tương ứng.
In fact, the maturity of a particular guide also has a bearing on whether these teachers have only one student or many under their direction. Thực vậy, việc vị hướng đạo chỉ có một hay nhiều “học viên,” dưới sự hướng dẫn của mình, tùy thuộc nhiều vào đẳng cấp của vị ấy.
Guides at the senior level of ability and above usually work with an entire group of souls in the spirit world and on Earth.Những vị hướng đạo có mức năng lực “cao cấp” [senior] hay cao hơn thế, thường làm việc với toàn bộ một nhóm linh hồn trong thế giới linh hồn và ở Cõi Trần.
These guides have other entities who assist them. Những vị hướng đạo này có những thực thể khác trợ lý cho họ.
From what I can see, every soul group usually has one or more rather new teachers in training. Từ những gì mà tôi có thể thấy, thì mọi nhóm linh hồn đều có một hay nhiều “giáo viên” [teacher] khá mới, chưa có nhiều kinh nghiệm giảng dạy.
As a result, some people may have more than one guide helping them. Do vậy, vài linh hồn có thể có nhiều hơn một vị hướng đạo giúp đỡ họ.
The personal names my clients attach to their guides range from ordinary, whimsical, or quaint-sounding words, to the bizarre.Những thân chủ của tôi thường gán cho những vị hướng đạo của họ những cái tên. Cái tên đó có thể là bình thường hay bốc đồng, ngộ nghĩnh, hay kỳ quặc.
Frequently, these names can be traced back to a specific past life a teacher spent with a student. Thường khi, những cái tên này có thể được truy nguyên về một vị thầy đặc biệt trong kiếp quá khứ, đã từng chăm sóc một học viên.
Some clients are unable to verbalize their guide’s name because the sound cannot be duplicated, even when they see them clearly while under hypnosis. Vài thân chủ không thể phát âm tên của người hướng dẫn họ, bởi vì cái âm thanh đó không thể lặp lại, ngay cả khi họ thấy nó rõ ràng trong khi đang bị thôi miên.
I tell these people it is much more important that they understand the purpose of why certain guides are assigned to them, rather than possessing their names. Tôi bảo những người này rằng, sẽ quan trọng hơn, nếu họ hiểu mục đích tại sao những vị hướng đạo nào đó được phân công phụ trách họ, hơn là biết tên các vị.
A subject may simply use a general designation for their guide such as: director, advisor, instructor, or just “my friend.” Một thân chủ có thể đơn giản dùng một từ chung chung để chỉ vị hướng đạo của họ, chẳng hạn như: người chỉ đạo, cố vấn, người giáo huấn, hay chỉ là “ bạn tôi.”
One has to be careful how the word friend is interpreted.Chúng ta phải cẩn thận về cách họ thuyết minh chữ “bạn.”
Usually, when a person in trance talks about a spiritual friend, they are referring to a soul-mate or peer group associate rather than a guide. Thường thường, khi một người ở trong cơn thôi miên nói về một người bạn tâm linh, họ thường nói đến một “bạn linh hồn” [soul mate] hay “bạn cùng nhóm” hơn là một vị hướng đạo.
Entities who are our friends exist on levels not much higher or lower than ourselves. Những thực thể là bạn chúng ta, hiện hữu trên những cấp độ không cao hơn hay thấp hơn chúng ta.
These friends are able to offer mental encouragement from the spirit world while we are on Earth, and they can be with us as incarnated human companions while we walk the roads of life. Những người bạn này có thể mang đến nhiều sự động viên từ thế giới linh hồn, trong khi chúng ta đang sống ở Cõi Trần; nhưng họ cũng có thể ở với chúng ta như là những “bạn đường” có cơ thể vật lý trong khi chúng ta bước đi trên những con đường của cuộc sống.(88)
One of the most important aspects of my therapeutic work with clients is assisting them, on a conscious level, with appreciating the role their guides play in life.Một trong những khía cạnh quan trọng nhất của công việc trị liệu của tôi với những thân chủ, là trợ giúp họ, trên một cấp độ hữu thức,(89) nhận ra vai trò của những vị hướng đạo của họ trong đời.
These teacher entities edify all of us with their skillful instruction techniques. Những vị thầy này giúp tất cả chúng ta mở mang trí tuệ, với những kỹ thuật giáo huấn thiện xảo của họ.
Ideas we claim as our own may be generated by a concerned guide. Những ý kiến mà chúng ta khẳng định là của chính ta, có thể được phát sinh từ một vị hướng đạo.
Guides also comfort us during the trying periods in our lives, especially when we are children in need of solace. Những vị hướng đạo cũng an ủi ta trong những giai đoạn thử thách trong đời ta, nhất là khi ta là những đứa trẻ cần sự an ủi.
I remember a charming remark made by a subject after I asked when she began seeing her guide in this life. Tôi nhớ một nhận xét rất dễ thương của một thân chủ, sau khi tôi hỏi, cô bắt đầu gặp vị hướng đạo của cô lúc nào trong kiếp này.
“Oh, when I was daydreaming,” she said. “Ồ, khi tôi đang mơ mộng” [daydreaming], cô nói,
“I remember my guide was with me on my first day of school when I was really scared.“Tôi nhớ rằng, vị hướng đạo của tôi xuất hiện vào ngày đầu tiên tôi đến trường, khi tôi thực sự sợ hãi.
She sat on top of my desk to keep me company and then showed me the way to the bathroom when I was too afraid to ask the teacher.” Cô ngồi cạnh bên tôi, để cho tôi đỡ lẻ loi, và rồi, chỉ cho tôi đường tới nhà vệ sinh khi tôi quá sợ, không dám hỏi giáo viên.
The concept of personalized spiritual beings goes far back in antiquity to our earliest origins as thinking human beings.Khái niệm về những hữu thể tâm linh được “cá nhân hóa” [personalised], khái niệm đó đã có từ thời cổ đại – từ những nguồn gốc sớm sủa nhất của chúng ta như là những hữu thể biết suy nghĩ.
Anthropological studies at the sites of prehistoric people suggest their totemic symbols evoked individual protection. Những nghiên cứu nhân chủng học tại hiện trường của những người tiền sử gợi ý rằng, những biểu tượng “vật tổ’ [totemic] của họ tượng trưng cho sự che chở cá nhân.
Later, some 5,000 years ago as city-states arose, official deities became identified with state religions. Về sau, cách đây khoảng 5000 năm, khi những thành quốc nổi lên, thì những vị thần chính thức trở nên đồng nhất hóa với những quốc giáo.
These gods were more remote and even generated fear. Những vị thần này càng xa xôi hơn và thậm chí, làm phát sinh sợ hãi.
Thus, personal and family deities assumed great importance in the day-to-day life of people for protection. Như thế, trong cuộc sống hằng ngày của con người, thì những vị thần cá nhân [personal] và gia đình có tầm quan trọng lớn, vì họ gần gũi với chúng ta hơn.
A personal soul deity served as a guardian angel to each person or family, and could be called upon for divine help during a crisis. Một vị thần cá nhân đóng vai trò như một thiên thần bảo hộ cho mỗi người hay gia đình, và trong cơn khủng hoảng, con người có thể cầu xin vị ấy phù hộ, độ trì.
This tradition has been carried down into our cultures of today. Truyền thống này đã được truyền xuống tới những nền văn hóa của chúng ta ngày nay.
We have two examples at opposite ends of the United States.Chúng ta có 2 thí dụ ở hai đối cực của Hoa Kỳ.
Aumakua is a personal god to Hawaiians. Aumakua là vị thần cá nhân của người Hawaii.
The Polynesians believe one’s ancestors can assume a personal god relationship (as humans, animals, or fish) to living family members. Những người Polynesia tin rằng, tổ tiên ta có thể “đóng vai” một vị thần cá nhân (chẳng hạn, với hình dáng con người, động vật, hay cá) đối với những thành viên còn sống của gia đình.
In visions and dreams, Aumakua can either assist or reprimand an individual. Trong những giấc mơ và những “linh ảnh” [visions], Aumakua có thể trợ giúp hay trách mắng một cá nhân.
In northeastern America, the Iroquois believe a human’s own inner spiritual power is called Orenda, which is connected to a higher personal Orenda spirit. Tại Đông Bắc Mỹ, những người Iriquois tin vào sức mạnh tâm linh nội tại của chính mỗi con người, gọi là Orenda, vốn được kết nối với một linh hồn [cá nhân] Orenda cao hơn.
This guardian is able to resist the powers of harm and evil directed at an individual. Vị thần bảo hộ này có thể chống cự lại những sức mạnh gây tổn hại và tai họa nhắm đến một cá nhân.
The concept of soul watchers who function as guides is part of the belief system of many Native American cultures. Khái niệm về “những kẻ canh giữ linh hồn” [soul watchers], hoạt động như là vị hướng đạo, là một phần trong hệ thống niềm tin của nhiều nền văn hóa Bản Địa Mỹ.
The Zuni tribes of the Southwest have oral traditions in their mythology of god-like beings with personal existences. Những bộ lạc Zuni của miền Tây Nam có những truyền thống truyền khẩu trong huyền thoại của họ về những hữu thể giống như thần linh, với những kinh nghiệm cá nhân.
They are called “the makers and holders of life paths” and are considered the caretakers of souls. Những vị này được gọi là “những kẻ tạo dựng và nắm giữ những lối đi cuộc đời,” và được xem là “những quản gia” [caretakers] của những linh hồn.
There are other cultures around the world which also believe someone other than God is watching over them to personally intercede on their behalf. Có những nền văn hóa khác khắp thế giới mà cũng tin rằng, có một ai đó, không phải Thượng đế, đang theo dõi họ, để đích thân can thiệp, bênh vực họ.
I think human beings have always needed anthropomorphic figures below a supreme God to portray the spiritual forces around them. Tôi tin rằng, loài người luôn luôn cần những nhân vật có nhân-trạng ở dưới một Thượng đế tối cao, để mô tả những sức mạnh tâm linh xung quanh họ.
When people pray or meditate, they want to reach out to an entity with whom they are acquainted for inspiration. Khi người ta cầu nguyện hay thiền định, họ muốn vươn ra tới một thực thể mà họ quen biết, truyền cho họ cảm hứng.
It is easier to ask for aid from a figure which can be clearly identified in the human mind. Sẽ dễ dàng hơn, khi cầu xin sự trợ giúp từ một nhân vật mà có thể nhận diện một cách rõ ràng trong tâm trí con người.
There is a lack of imagery with a supreme God which hinders a direct connection for many people. Đối với nhiều người, thì việc thiếu hình tượng [cụ thể] về một vị Thượng đế tối cao, khiến cho họ khó lòng nối kết trực tiếp với Ngài.
Regardless of our diverse religious preferences and degrees of faith, people also feel if there is a supreme God, this divinity is too busy to bother about their individual problems. Bất kể những chọn lựa tôn giáo và những cấp độ khác nhau về đức tin, người ta cũng cảm thấy rằng, nếu có một vị Thướng đế tối cao, thì vị này quá bận rộn để bận tâm về những vấn đề cá nhân của họ.
People often express an unworthiness for a direct association with God. Người ta cũng phát biểu rằng, họ không “đủ tư cách” để liên hệ trực tiếp với Thượng đế.
As a result, the world’s major religions have used prophets who once lived on Earth to serve as our intermediaries with God. Do vậy, những tôn giáo lớn của thế giới đã dùng những ngôn sứ, vốn đã một lần sống ở Cõi Trần, như là những kẻ trung gian giữa chúng ta và Thượng đế.
Possibly because some of these prophets have been elevated to divine status themselves, they are not personal enough anymore.Có thể, bởi vì một vài trong số những vị ngôn sứ này đã được nâng lên thành những “vị thần,” nên họ đã không còn gần gũi với con người nữa.
I say this without diminishing the vital spiritual influence all the great prophets have had on their followers. Tôi nói điều này mà không làm giảm sút tầm ảnh hưởng tâm linh trọng yếu của những ngôn sứ đối với những người tin theo họ.
Millions of people derive benefit from the teachings of these powerful souls who incarnated on Earth as prophets in our historical past. Hàng triệu người được hưởng lợi từ những lời dạy của những linh hồn hùng mạnh này, vốn đã đầu thai ở Cõi Trần như là những ngôn sứ mang nhục thân con người, trong quá khứ của chúng ta.
And yet, people know in their hearts—as they have always known— that someone, some personal entity i ndividual to them—is there, waiting to be reached. Và thế nhưng, người ta biết trong trái tim họ – như họ vẫn luôn biểu lộ – rằng một ai đó, một thực thể cá nhân, vốn có tính cá thể đối với họ, thì luôn ở đó, đợi chờ lời kêu gọi của họ.
I have the theory that guides appear to people who are very religious as figures of their faith.Tôi chủ trương rằng, với những người có đức tin tôn giáo mạnh mẽ, thì những vị hướng đạo xuất hiện ra như là những nhân vật [figures] của đức tin họ.(90) 
There was a case on a national television show where the child of a devout Christian family suffered a near-death experience and said she saw Jesus.Trên truyền hình quốc gia, có một trường hợp như sau: một đứa trẻ thuộc một gia đình Ki tô giáo mộ đạo trải qua một kinh nghiệm cận tử, và nói rằng, em thấy chúa Jesus.
When asked to draw with crayons what she saw, the little girl drew a featureless blue man standing within a halo of light. Khi được yêu cầu vẽ lại bằng bút chì màu những gì mà em thấy, thì cô bé vẽ một người đàn ông không hình thù, màu thiên thanh, đang đứng bên trong một vầng hào quang.
My subjects have shown me how much they depend upon and make use of their spiritual guides during life.Những thân chủ của tôi đã cho tôi thấy, họ nương tựa bao nhiêu và hưởng lợi bao nhiêu từ những vị hướng đạo của họ, suốt cuộc đời.
I have come to believe we are their direct responsibility—not God’s. Tôi đã đi tới chỗ tin rằng, chính các vị đó, chứ không phải Thượng đế,(91) mới là những người có trách nhiệm trực tiếp về chúng ta.
These learned teachers remain with us over thousands of earth years to assist in our trials before, during, and after countless lives. Những vị thầy thông thái này lưu lại với chúng ta qua suốt hàng ngàn năm Cõi Trần, để trợ giúp trong những thử thách của chúng ta, trước, trong, và sau vô số kiếp sống.(92)
I notice that, unlike people walking around in a conscious state, subjects in trance do not blame God for their misfortunes in life.Tôi nhận thấy rằng – không giống như những người đang bước đi trong một trạng thái hữu thức – những chủ thể trong cơn thôi miên không trách cứ Thượng đế về những bất hạnh của họ trong đời.
More often than not, when we are in the soul state, it is our personal guide who takes the brunt of any dissatisfaction. Thường thường, khi chúng ta ở dạng thức linh hồn, thì vị hướng đạo của chúng ta chính là người làm giảm nhẹ cường độ của bất cứ sự bất toại nguyện nào.
I am often asked if teacher-guides are matched to us or just picked at random. Tôi thường được hỏi, có phải những vị thầy-hướng đạo được chọn kỹ cho chúng ta, hay họ chỉ được “nhặt lên” một cách ngẫu nhiên.
This is a difficult question to answer. Đây là một câu hỏi khó trả lời.
Guides do appear to be assigned to us in the spirit world in an orderly fashion. Dường như, trong thế giới linh hồn, những vị hướng đạo thực sự được phân bổ một cách có trật tự.
I have come to believe their individual teaching styles and management techniques support and beautifully integrate with our permanent soul identity. Tôi đã đi tới chỗ tin rằng, những phương pháp giảng dạy cá nhân của họ, và những kỹ thuật quản lý của họ, hỗ trợ và phối hợp một cách đẹp đẽ với “linh hồn căn nguyên ” [soul identity] vĩnh cửu của chúng ta.
For instance, I have heard about younger guides, whose past lives included overcoming particularly difficult negative traits, being assigned to souls with the same behavior patterns.Chẳng hạn, tôi đã nghe nói về những vị hướng đạo “trẻ hơn” – mà đã trải qua những kiếp quá khứ của họ, khắc phục những nét tính cách tiêu cực, khó vượt qua – được phân công phụ trách những linh hồn với mẫu hành vi tương tự.
It seems these empathetic guides are graded on how well they do in their assignments to affect positive change. Có vẻ như, những vị hướng đạo đồng cảm này được đánh giá dựa trên việc họ làm những nhiệm vụ của họ tốt ra sao, để tạo ra sự thay đổi tích cực.
All guides have compassion for their students, but teaching approaches vary.Mọi vị hướng đạo đều có lòng từ bi đối với “học trò” của họ, nhưng phương pháp thì khác nhau.
I find some guides constantly helping their students on Earth, while others demand their charges work out lessons with little overt encouragement. Tôi thấy vài vị hướng đạo thường trực tiếp giúp học trò của họ ở Cõi Trần, trong khi những người khác yêu cầu học trò của họ vận dụng những bài học, nhưng ít biểu lộ sự khích lệ công khai.
The maturity of the soul is, of course, a factor. Mức độ phát triển của linh hồn, dĩ nhiên, là một yếu tố.
Certainly graduate students get less help than freshmen. Chắc chắn là, những sinh viên tốt nghiệp có ít sự trợ giúp hơn những sinh viên năm thứ nhất.
Aside from the developmental level, I look at the intensity of individual desire as another consideration in the frequency of appearance and form of assistance one receives from his or her guide during a life. Ngoài mức phát triển, thì tôi thấy, cường độ của ước muốn cá nhân cũng có ảnh hưởng đến tần số xuất hiện và hình thức của sự trợ giúp, mà người ta nhận được từ vị hướng đạo của mình trong một kiếp sống.
As to gender assignments, I find no consistent correlation of male and female subjects to masculine or feminine appearing guides.Về giới tính của vị hướng đạo, thì tôi thấy rằng, không nhất thiết vị ấy phải cùng giới tính hay khác giới tính với linh hồn mà họ phụ trách.
On the whole, people accept the gender portrayed by their guide as quite natural. Trên đại thể, thì linh hồn chấp nhận cái giới tính của vị hướng đạo của mình, xem đó là điều hoàn toàn tự nhiên.
It could be argued that this is because they have become used to them over eons of relative time as males or females rather than the assumption that one sex is more effective than another between specific students and teachers. Có thể biện luận rằng, sở dĩ như vậy, là bởi vì, qua những kỷ nguyên của thời gian tương đối [cõi trần], linh hồn đã từng là đàn ông và đàn bà, nên nó đã quen với tất cả mọi giới tính. Về giới tính của vị hướng đạo, thì những thân chủ không cho rằng, giới tính này thì hữu hiệu hơn giới tinh kia.
Some guides appear as mixed genders, which lends support to souls being truly androgynous. Vài vị hướng đạo hiện ra lúc thì đàn ông, lúc thì đàn bà – để mang đến sự hỗ trợ cho những linh hồn nào thực sự “ái nam ái nữ”(93) [androgynous].
One client told me, “My guide is sometimes Alexis or Alex, dropping in and out of both sexes, depending on my need for male or female advice.” Một thân chủ bảo tôi, “Vị hướng đạo của tôi đôi khi là Alexis hay Alex, đi vào đi ra cả hai giới tính, tùy thuộc vào việc tôi cần lời khuyên liên quan đến nữ giới hay nam giới.”
From what I can determine, the procedure for teacher selection is carefully managed in the spirit world.Từ những gì tôi có thể xác định, thì thủ tục tuyển chọn “giáo viên” được thực hiện cẩn thận trong thế giới linh hồn.
Every human being has at least one senior, or a higher master guide, assigned to their soul since the soul was first created. Mọi hữu thể người có ít nhất một vị hướng đạo, ở trình độ “cao cấp,” hay cao hơn – vị này được phân công phụ trách linh hồn từ khi nó được “tạo dựng” lần đầu tiên.
Many of us inherit a newer, secondary guide later in our existence, such as Karla, in the previous chapter. Về sau trong đời, nhiều người trong chúng ta tiếp nhận thêm một vị hướng đạo thứ yếu [secondary], ít kinh nghiệm hơn, như Karla trong chương vừa rồi.
For want of a better term, I have called these student teachers junior guides. Vì thiếu một từ tốt hơn, tôi đã tạm gọi những “giáo sinh” này là “những vị hướng đạo sơ cấp.” [junior guides].
Aspiring junior guides can anticipate the beginning of their training near the end of Level III, as they progress into the upper intermediate stages of development.Những linh hồn đang mơ ước trở thành vị hướng đạo “sơ cấp,” có thể dự kiến bắt đầu việc giảng dạy của họ ở gần cuối cấp độ III, khi họ tiến về những giai đoạn “cao trung” [upper intermediate] của sự phát triển.
Actually, we begin our training as subordinate guides long before attaining Level IV.Thực ra, chúng ta bắt đầu việc giảng dạy của mình như là vị hướng đạo “trợ lý,” lâu trước khi đạt tới mức IV.
In the lower stages of development we help others in life as friends and between lives assist our peer group associates with counseling. Trong những giai đoạn thấp hơn của sự phát triển, chúng ta có thể giúp đỡ những người khác trong đời [ở Cõi Trần](94) như là những người bạn, và trong thế giới linh hồn, trợ giúp những bạn cùng nhóm của chúng ta với lời khuyên nhủ.
Junior and senior teaching assignments appear to reflect the will of master guides, who form a kind of governing body, similar to a trusteeship, over the younger guides of the spirit world. Những nhiệm vụ giảng dạy của vị hướng đạo “sơ cấp” hay “cao cấp,” dường như phản ánh ý chí của vị hướng đạo ở đẳng cấp “tôn sư” [master guide] – vị này tạo ra một loại “ban chỉ đạo,” tương tự như một “ban quản trị,” để đôn đốc những vị hướng đạo trẻ hơn của thế giới linh hồn.
We will see examples of how the process of guide development works in Chapters Ten and Eleven, which cover cases of more advanced souls. Chúng ta sẽ thấy những thí dụ về quá trình phát triển của vị hướng đạo, trong chương (10)(11), mà sẽ thảo luận những ca về những linh hồn tiến hóa hơn.
Do all guides have the same teaching abilities, and does this affect the size of the group to which we are assigned in the spirit world? The following passage is from the case file of an experienced soul who discussed this question with me.Có phải mọi vị hướng đạo đều có khả năng giảng dạy ngang nhau, và điều này có ảnh hưởng đến kích cỡ của cái nhóm mà chúng ta được xếp vào, trong thế giới linh hồn? Đoạn sau đây, được lấy từ hồ sơ của một linh hồn giàu kinh nghiệm, thảo luận câu hỏi này với tôi.
- Case 17
- Ca 17
Dr. N: I’m curious about teacher assignments in the spirit world in relation to their abilities to help undeveloped souls. When souls progress as guides, are they given quite a few souls to work with?TS N: Tôi tò mò muốn biết những nhiệm vụ của người “giáo viên” trong thế giới linh hồn, có liên hệ đến những khả năng của họ trong việc giúp những linh hồn chưa phát triển. Khi những linh hồn trở thành những vị hướng đạo, thì họ được phân công phụ trách khá nhiều linh hồn?
S: Only the more practiced ones.CT: Chỉ những người giàu kinh nghiệm giảng dạy hơn.
Dr. N: I would imagine large groups of souls needing guides could become quite a responsibility for one advanced guide—even with an assistant.TS N: Tôi tưởng tượng rằng, việc phụ trách những nhóm linh hồn đông đúc, có thể trở thành một trách nhiệm khá nặng nề cho một vị hướng đạo “cao cấp”– thậm chí với một trợ lý.
S: They can handle it. Size doesn’t matter.CT: Họ có thể xử lý nó. Kích cỡ [của nhóm] không thành vấn đề.
Dr. N: Why not?TS N: Tại sao không?
S: Once you attain competency and success as a teacher, the number of souls you are given doesn’t matter. Some sections (clusters) have lots of souls and others don’t.CT: Một khi bạn có năng lực và thành công trên cương vị giáo viên, thì số lượng linh hồn được giao cho bạn phụ trách, là không quan trọng. Vài nhóm có nhiều linh hồn và những nhóm khác, không nhiều.
Dr. N: So, if you are a senior in the blue light aura, class size has no relation to assignments, because you have the ability to handle large numbers of souls?TS N: Như vậy, nếu bạn là một “linh hồn cao cấp” [senior] có hào quang màu thiên thanh nhạt, thì kích cỡ lớp học không thành vấn đề, bởi vì bạn có khả năng xử lý những số lượng lớn linh hồn?
S: I didn’t exactly say that. Much depends upon the types of souls in a section and the experience of the leaders. In the larger sections they have help too, you know.CT: Tôi không nói chính xác như thế. Nhiều cái tùy thuộc vào những loại linh hồn trong một nhóm và kinh nghiệm của những vị hướng đạo. Trong những cụm lớn hơn, họ cũng có sự trợ giúp nữa, ông biết đó.
Dr. N: Who does?TS N: Ai được trợ giúp?
S: The guides you are calling seniors.CT: Những vị hướng đạo mà ông đang gọi là “cao cấp” [seniors].
Dr. N: Well, who helps them?TS N: Vậy, ai trợ giúp họ?
S: The overseers. Now, they are the real pros.CT: Những giám thị [overseers]. Các vị này là những kẻ chuyên nghiệp thực thụ.
Dr. N: I have heard them also called master teachers.TS N: Tôi nghe nói rằng, các vị này được gọi là các “bậc tôn sư.” [master teachers]
S: That’s not a bad description for them.CT: Mô tả họ như thế, không tệ lắm.
Dr. N: What energy color do they project to you?TS N: Họ phát ra màu năng lượng gì?
S: It’s … purplish.CT: Nó màu … tim tím [purplish].
Note: As signified in Figure 3 in the last chapter, the lower ranges of a Level V radiate a sky-blue energy.CHÚ THÍCH: Như được chỉ rõ trong đồ họa III, trong chương vừa rồi, những biên độ [ranges] thấp hơn của cấp độ V, phát ra một năng lượng màu thiên thanh.
With advancing maturity this aura grows more dense, first to a muted midnight blue and finally to deep purple, representing the total integration of a Level VI ascended master. Với sự phát triển đi lên, hào quang này trở nên đậm đặc hơn, trước hết, sang màu thiên thanh sẫm của lúc nửa đêm, và sau cùng, sang màu tím đậm, tượng trưng cho sự hoàn thiện của một vị tôn sư đã đạt tới cấp độ VI.
Dr. N: Since guides seem to have different approaches to teaching, what do they all have in common?TS N: Dường như những vị hướng đạo có những phương pháp giảng dạy khác nhau. Vậy, tất cả họ có cái gì chung?
S: They wouldn’t be teachers if they didn’t have a love of training and a desire to help us join them.CT: Họ sẽ không là vị thầy, nếu họ không yêu nghề và ước mơ giúp chúng ta gia nhập vào hàng ngũ của họ.
Dr. N: Then define for me why souls are selected as guides. Take a typical guide and tell me what qualities that advanced soul possesses.TS N: Hãy định nghĩa cho tôi, tại sao những linh hồn được tuyển chọn làm vị hướng đạo. Hãy đưa ra một vị hướng đạo tiêu biểu và nói cho tôi biết, những linh hồn tiến hóa cao có những phẩm chất gì.
S: They must be compassionate without being too easy on you. They aren’t judgmental. You don’t have to do things their way. They don’t restrain by imposing their values on you.CT: Họ phải từ bi, mà không quá dễ dãi với bạn. Họ không phán xét. Bạn không phải làm theo cách của họ. Họ không câu thúc bạn bằng cách áp đặt những giá trị của họ lên bạn.
Dr. N: Okay, those are things guides don’t do. If they don’t over-direct souls, what are the important things they do, as you see it?TS N: Được rồi, đó là những điều mà những vị hướng đạo không làm. Nếu họ không chỉ đạo những linh hồn một cách quá chặt chẽ, thì đâu là những cái quan trọng mà họ làm, như anh thấy?
S: Uh … they build morale in their sections and instill confidence— we all know they have been through a lot themselves. We are accepted for who we are as individuals with the right to make our own mistakes.CT: Uh…họ tạo ra khí thế trong những khu vực của họ, và truyền dần lòng tự tin – tất cả chúng tôi biết rằng, họ đã kinh qua nhiều trải nghiệm. Chúng tôi chấp nhận con người của chính mình như là những cá nhân, với cái quyền được phạm những sai lầm.
Dr. N: I must say, I have found souls very loyal to their guides.TS N: Tôi phải nói, tôi đã phát hiện ra, những linh hồn rất trung thành với vị hướng đạo của họ.
S: That’s why—because they never give up on you.CT: Bởi vì họ không bỏ rơi bạn.
Dr. N: What would you say is the most important attribute of any guide?TS N: Theo anh, thì thuộc tính quan trọng nhất của bất cứ vị hướng đạo nào là gì?
S: (without hesitation) The ability to motivate you and instill courage.CT: [không do dự] Khả năng động viên bạn và truyền cho bạn lòng can đảm.
My next case provides an example of the actions of a still-incarnating guide.Ca kế tiếp của tôi sẽ cung cấp một thí dụ về những hành động của một vị hướng đạo “vẫn-còn-đầu-thai”(95) [still-incarnating].
This guide is called Owa, and he represents the qualities of a devo- ted teacher reported by the last case. Vị hướng đạo này được gọi là Owa, và ông ta đại diện cho những phẩm chất của một vị thầy tận tụy, mà chủ thể ca vừa rồi đã nói đến.
Evidently, his early assignments as a guide involved looking after the subject in Case 18 in a direct fashion, and his methods apparently have not changed. Rõ ràng là, những nhiệm vụ của ông với tư cách là vị hướng đạo, bao gồm việc chăm sóc “đệ tử” của mình một cách trực tiếp trong ca 18, và phương pháp của ông rõ ràng là đã không thay đổi.
My client was stunned once she recognized her guide’s latest incarnation.Thân chủ tôi sửng sốt khi cô nhận ra sự đầu thai gần đây nhất của vị hướng đạo của cô.
Owa made his first appearance as a guide in my client’s past about 50 bc. He was described as an old man living in a Judean village which had been overrun by Roman soldiers. Owa xuất hiện lần đầu tiên trong quá khứ của thân chủ tôi, vào khoảng năm 50 t. CN. Ông ta được mô tả như là một cụ già sống trong một ngôi làng Judea, bị xâm chiếm bởi những người lính La Mã.
Case 18 was then a young girl, orphaned by a Roman raid against local dissidents. Ca 18 lúc bấy giờ là một cô gái trẻ, bị mồ côi bởi một trận càn của người La Mã chống lại những kẻ bất phục tùng địa phương.
In the opening scene of this past life, she spoke about working in a tavern as a virtual slave. Trong cảnh mở màn của kiếp quá khứ này, cô nói rằng, cô đang làm việc trong một quán rượu như là một nô lệ thật sự.
As a serving girl, she was constantly beaten by the owner and occasionally raped by Roman customers. Là một kẻ tôi tớ, cô thường trực bị chủ đánh đập và thỉnh thoảng bị hãm hiếp bởi những khách hàng La Mã.
She died at age twenty-six of overwork, mistreatment, and despair. Cô chết ở tuổi 26, vì làm việc quá sức, bị ngược đãi và tuyệt vọng.
This subject made the following statement from her subconscious mind about an old man in her village: “I worked day and night and felt numb with pain and humiliation. Từ tâm trí tiềm thức của cô, vị thân chủ này nói về một cụ già trong làng cô: “Tôi làm việc ngày đêm và cảm thấy tê dại vì đau đớn và tủi nhục.
He was the only person who was kind to me—who taught me to trust in myself—to have faith in something higher and finer than the cruel people around me.” Cụ là người duy nhất tử tế với tôi – dạy tôi tin vào chính mình – có đức tin vào một cái gì cao hơn và đẹp hơn những người tàn nhẫn xung quanh tôi.”
Later in the superconscious state, this client detailed parts of other difficult lives where Owa appeared as a trusted friend, and once as a brother.Về sau, trong trạng thái siêu thức, thân chủ này mô tả chi tiết những phần của những kiếp sống khó khăn khác, mà trong đó, Owa hiện ra như là một người bạn tâm phúc, và một lần, như là một người anh.
In this state she saw these people were all the same entity and was able to name this soul as Owa, her guide. Trong tình trạng [siêu thức] này, cô thấy tất cả những người này đều cùng là một thực thể, và có thể gọi tên linh hồn này như là Owa, vị hướng đạo của cô.
There were many lives when Owa did not appear, and sometimes his physical contact was only fleeting when he came to help her. Có nhiều kiếp sống Owa không xuất hiện, và đôi khi sự tiếp xúc vật lý của ông chỉ thoáng qua, khi ông đến để giúp cô.
Abruptly, I asked if Owa might possibly be in her life now? After a moment of hesitation, my subject began to shake uncontrollably. Đột nhiên tôi hỏi, bây giờ, Owa có thể đang ở trong đời cô không? Sau một lúc do dự, thân chủ tối bắt đầu run rẩy không kiểm soát được.
Tears came to her eyes and she cried out from the vision in her mind. Nước mắt ứa ra và cô khóc to khi thấy cái “hình ảnh” [vision] trong tâm trí cô.
- Case 18
- Ca 18
S: Oh, Lord—I knew it! I knew there was something different about him. CT: Ồ, lạy Chúa – tôi biết mà! Tôi biết có một cái gì đó khác biệt ở đứa bé.
Dr. N: About who?TS N: Là ai vậy?
S: My son! Owa is my son Brandon.CT: Con trai tôi! Owa là con trai Brandon của tôi.
Dr. N: Your son is actually Owa?TS N: Con trai cô thực sự là Owa?
S: Yes, yes! (laughing and crying at the same time) I knew it! I felt it right from the day I delivered him—something wonderfully familiar and special to me—more than just a helpless baby … oh …CT: Vâng, vâng! [cười và khóc cùng một lúc] Tôi biết điều đó! Tôi biết ngay từ ngày tôi sinh nó ra – một cái gì đó quen thuộc một cách tuyệt vời và đặc biệt với tôi – đó không chỉ là một hài nhi yếu đuối …ồ.
Dr. N: What did you know the day he was born?TS N: Cô biết gì vào cái ngày đứa bé ra đời?
S: I didn’t really know—I felt it inside—something more than the excitement a mother feels at the time of her firstborn. I felt he came here—to help me—don’t you see? Oh, it’s so fantastic—it’s true— it’s him!CT: Tôi không thực sự biết – tôi cảm thấy bên trong, một cái gì đó khác thường, chứ không chỉ là sự phấn chấn mà một người mẹ cảm thấy khi sinh đứa con đầu lòng. Tôi cảm thấy đứa bé đến đây để giúp đỡ tôi – ông không thấy sao? Ồ, thật quá tuyệt vời – đúng vậy – chính là ông ấy!
Dr. N: (I work on calming my client before continuing, because her excited wiggling around is about to carry her over the side of the office recliner) Why do you think Owa is here as your baby son Brandon?TS N: [tôi làm cho thân chủ tôi trầm tĩnh lại trước khi tiếp tục, bởi vì sự ngọ nguậy kích động của cô sắp đưa cô sang phía bên kia cái ghế dựa] Tại sao cô nghĩ rằng Owa tái sinh làm Brandon, con trai của cô?
S: (quieter now, but still crying softly) To get me through this bad time … with hard people who won’t accept me. He must have known I was in for a long period of trouble and decided to come to me as my son. We didn’t talk about doing this before I was born … what a wonderful surprise …CT: [bây giờ đã bình tĩnh hơn, nhưng vẫn khóc thút thít] Để đưa tôi qua khỏi giai đoạn tồi tệ này…với những con người khắc nghiệt, họ không chấp nhận tôi. Ông ấy hẳn đã biết rằng, tôi đã ở trong một giai đoạn rắc rối dài, và quyết định đến với tôi như là con trai tôi. Chúng tôi đã không trao đổi chuyện này với nhau trước khi tôi ra đời…Thật là một ngạc nhiên tuyệt vời…
Note: At the time of this session, my client was struggling to gain recognition in a highly competitive business. She was also having marital difficulties at home, partly due to being the major wage earner. I have since learned she is divorced.CHÚ THÍCH: Vào thời điểm của phiên thôi miên này, thân chủ tôi đang ra sức để giành uy tín trong một thương vụ có tính cạnh tranh cao. Cô đang gặp những rắc rối về hôn nhân tại nhà, một phần, do cô là người lao động chính của gia đình. Kể từ đó, tôi biết rằng cô đã ly hôn.
Dr. N: Did you sense something unusual about your baby after you took him home?TS N: Cô có cảm nhận một cái gì đó khác thường nơi đứa bé sơ sinh, sau khi cô đưa nó về nhà?
S: Yes, it started at the hospital and this feeling never left me.CT: Vâng, điều đó đã bắt đầu tại bệnh viện, và cảm nhận này chưa bao giờ rời bỏ tôi.
When I look into his eyes he … soothes me. Khi tôi nhìn vào đôi mắt nó, thì nó… xoa dịu tôi.
Sometimes I come home so worn out—so tired and beat down—I am short-tempered with him when the baby-sitter leaves. Đôi khi, tôi về nhà, mệt nhoài, quá mệt và kiệt sức, đến nỗi tôi cáu kỉnh với nó khi người giữ trẻ ra về.
But he is so patient with me. Nhưng nó kiên nhẫn với tôi.
I don’t even need to hold him. Thậm chí, tôi không cần phải ẵm nó lên.
The way he looks at me is … so wise. Cách nó nhìn tôi thì…rất khôn ngoan.
I didn’t fully understand what this meant until now. Cho đến nay, tôi không hoàn toàn hiểu điều này có nghĩa gì.
Now, I know! Nhưng bây giờ, tôi biết!
 Oh, what a blessing. I wasn’t sure if I should even have the baby— now I see it all. Ồ, thật là một phúc lành. Trước đây, thậm chí, tôi không chắc, liệu tôi có nên sinh con hay không – nhưng bây giờ, thì tôi hiểu mọi sự.
Dr. N: What do you see?TS N: Cô hiểu cái gì?
S: (in a firm voice) As I try to advance in my profession, people are getting … harder … not accepting what I know and can do. My husband and I are having trouble. He puts me down for pushing too hard … wanting to achieve. Owa—Brandon—is here to keep me strong so I can overcome …CT: [bằng giọng cương quyết] Trong khi tôi thăng tiến trong nghề nghiệp của mình, thì người ta đang trở nên…khắc nghiệt hơn…không chấp nhận những gì tôi biết và có thể làm. Chồng tôi và tôi đang lục đục. Anh ấy chỉ trích tôi về việc tôi quá cố sức…muốn thành đạt. OwaBrandon ở đây – để giúp tôi có đủ nghị lực khắc phục khó khăn.
Dr. N: And do you think it is all right we discovered your guide is with you as Brandon in this life?TS N: Và cô có nghĩ, thật tốt là chúng ta đã phát hiện rằng, vị hướng đạo của cô đang tái sinh làm Brandon trong kiếp này?
S: Yes, if Owa didn’t want me to know that he decided to come into my life, I wouldn’t have come to see you—it wouldn’t have been on my mind.CT: Vâng, nếu Owa không muốn tôi biết rằng ông ấy đã quyết định trở lại Cõi Trần, thì có lẽ tôi đã không đến gặp ông – ý tưởng đó đã không xuất hiện trong tâm trí tôi.
This exceptional case represents the emotional intoxication a subject feels when an in-life contact is made with their guide.Ca khác thường này tiêu biểu cho cảm xúc choáng váng mà một thân chủ cảm thấy, khi được tiếp xúc với vị hướng đạo của mình, ngay ở Cõi Trần.
Notice the role Owa chose did not infringe upon the most typical role usually taken by a soul-mate. Hãy chú ý: vai trò mà Owa chọn, không xâm phạm đến cái vai trò tiêu biểu nhất thường được nắm giữ bởi một “bạn linh hồn.”
He did not come through as her spouse, and never has, in any of her past lives. Ông ấy không tái sinh để làm chồng cô, và không bao giờ, trong bất cứ kiếp quá khứ nào của cô.
Certainly, soulmates take other roles besides spouses, but an incarnating guide does not normally take a role which might transgress between two soulmates working on their lives together. Chắc chắn là, bạn linh hồn có thể giữ những vai trò khác, trừ ra vai trò của người phối ngẫu. Nhưng một vị hướng đạo “vẫncòn-đầu-thai” [incarnating] không giữ một vai trò mà có thể “vượt quá giới hạn” giữa 2 bạn linh hồn đang cùng nhau làm việc trong đời họ.
This client’s soulmate happens to be an old flame from high school.Bạn linh hồn của vị thân chủ này, tình cờ, là một bồ cũ [old flame] từ trường trung học.
Based upon all the information I was able to gather, Owa seems to have moved into the level of a junior guide in the last two-thousand years. Dựa trên mọi thông tin mà tôi đã có thể thu thập, thì Owa có vẻ như đã di chuyển sang cấp độ của một vị hướng đạo “sơ cấp” trong 2000 năm qua.
He may possibly graduate into the blue level of a senior guide before this client is qualified herself to rise from white to a yellow energy aura. Có thể, ông ta sẽ “tốt nghiệp” ở mức [hào quang] thiên thanh của một vị hướng đạo “cao cấp” trước khi vị thân chủ này đủ tiêu chuẩn để tiến lên từ hào quang màu trắng sang màu vàng.
Regardless of the number of centuries this takes, Owa will remain as her guide, even though he may never incarnate again with her in a life. Bất luận việc này(96) phải mất bao nhiêu thế kỷ, thì Owa sẽ vẫn là vị hướng đạo của cô, cho dẫu có thể ông ta không bao giờ đầu thai trở lại với cô trong một kiếp sống nào đó.
Do we ever catch up to our guides in development? Eventually, perhaps, but I can say I have not seen any evidence of this in my cases.Có bao giờ chúng ta bắt kịp những vị hướng đạo của mình trong sự phát triển không? Sau cùng, có lẽ chúng ta sẽ bắt kịp họ; nhưng tôi có thể nói rằng, tôi chưa từng thấy bất cứ bằng chứng nào về điều này trong những ca của mình.
Souls who develop relatively fast are gifted, but so are the guides who assist them. Những linh hồn nào [mà] phát triển tương đối nhanh, thì đó là những linh hồn tài ba, song những vị hướng đạo trợ giúp họ, cũng vậy.
It is not uncommon to find guides working in pairs with people on Earth, each with their own approaches to teaching.Không phải là bất thường khi thấy hai vị hướng đạo tạo thành một cặp, làm việc với những người ở Cõi Trần, mỗi vị có những phương pháp giảng dạy riêng của mình.
In these cases one is dominant, although the more experienced senior guide may actually be less evident in day-to-day activities of their charges. Trong những ca này, có một ca nổi bật hơn, mặc dù vị hướng đạo cao cấp giàu kinh nghiệm hơn có thể thực sự khó nhận diện hơn, trong những sinh hoạt thường nhật của những linh hồn do họ phụ trách.
The reason for this spiritual arrangement in tandem is because one of the pair is either in training (such as a junior guide under a senior), or the association is so long-standing between the two guides (as with a senior to a master) that a permanent relationship has evolved. Tại sao hai vị hướng đạo được phân công phụ trách một linh hồn? Có hai lý do: a/ một trong hai vị, là vị hướng đạo sơ cấp, trợ lý cho một vị hướng đạo cao cấp, b/ Hai vị hướng đạo này đã kết giao với nhau quá lâu năm – với tư cách là một vị hướng đạo “cao cấp” [senior] với một “bậc tôn sư” [master] – đến nỗi, họ đã phát triển một mối quan hệ thường hằng.
The senior guide may have acquired his or her own cluster of souls, which is still monitored by a master overseeing a number of soul groups. Vị hướng đạo cao cấp có thể đã có cụm linh hồn riêng của mình – cụm đó vẫn đang được giám sát bởi một vị tôn sư [master] trông coi một số nhóm linh hồn.
Teams of guides do not interfere with each other in or out of the spirit world.Những vị hướng đạo không can thiệp vào công việc của nhau, trong hay ngoài thế giới linh hồn.
I have a close friend whose guides illustrate how two teachers working together complement each other. Tôi có một người bạn thân, mà những vị hướng đạo của anh ấy cho thấy, hai vị thầy làm việc với nhau, bổ sung cho nhau ra sao.
Using this individual’s case is appropriate, because I have observed the way this person’s two guides interact in various life circumstances. Trong ca này, tôi đã quan sát thấy cái cách mà hai vị hướng đạo của người bạn này tương tác trong những hoàn cảnh khác nhau trong đời.
My friend’s junior guide appears in the form of a kindly, nurturing Native American medicine woman called Quan. Vị hướng đạo sơ cấp của bạn tôi xuất hiện dưới hình thức một nữ y sĩ Bản địa Mỹ, nhân ái, gọi là Quan.
Dressed simply in a deerskin sheath, her long hair pulled back, Quan’s soft face is bathed in vivid light during her appearances. Ăn vận đơn giản trong y phục bằng da nai bó sát, mái tóc dài chải ra đằng sau, khuôn mặt mịn màng của cô tắm trong làn ánh sáng rực rỡ trong những “hiện hình” của cô.
When she is called, Quan provides a vehicle for insight and understanding events and the individuals associated with those events, which are troubling to my friend.Khi được kêu gọi, Quan cung cấp sự minh mẫn và sự hiểu biết về những biến cố và những cá nhân có liên hệ với những biến cố nào đó, vốn gây rắc rối cho bạn tôi.
Quan’s desire to lighten the load of the rather difficult life my friend has chosen is tempered by a challenging male figure called Giles. Ước muốn của Quan – làm nhẹ gánh nặng của cuộc sống hơi khó khăn mà bạn tôi đã chọn – thì được tiết chế bởi một nhân vật nam ưa thách thức, gọi là Giles.
Giles is clearly a senior guide who may be close to being a master in the spirit world. Giles rõ ràng là vị hướng đạo cao cấp, có thể gần đạt tới đẳng cấp “tôn sư” [master] trong thế giới linh hồn.
In this capacity, he does not appear nearly as often as Quan. Trên cương vị này, ông không xuất hiện thường xuyên như Quan.
When Giles does come into my friend’s higher consciousness, he does so abruptly. Khi Giles thực sự đi vào trong “ý thức cao hơn” của bạn tôi, thì ông ta đến hết sức đột ngột.
Here is a sample of how a senior guide operates differently from one of junior status. Đây là một thí dụ tiêu biểu cho thấy một vị hướng đạo cao cấp hoạt động một cách khác biệt ra sao với một vị hướng đạo sơ cấp.
- Case 19
- Ca 19
Dr. N: When you are in deep reflection over a serious problem, how does Giles come to you?TS N: Khi bạn suy tư sâu về một vấn đề nghiêm trọng, thì Giles đến với bạn như thế nào?
S: (laughs) Not the same as Quan—I can tell you. Usually, he likes to … hide a little … at first … behind a shadow of … blue vapor. I hear him chuckling before I see him.CT: [cười] Không như Quan – tôi có thể nói với ông như thế. Thường khi, ban đầu, ông ấy thích…tự che giấu một chút…đằng sau một cái bóng…bằng hơi nước màu thiên thanh. Tôi nghe ông ấy cười khúc khích trước khi tôi thấy ông ấy.
Dr. N: You mean he appears first as a blue energy form?TS N: Bạn muốn nói, ban đầu, ông ta xuất hiện dưới hình thức năng lượng thiên thanh?
S: Yes … to hide himself a bit—he likes to be secretive, but it doesn’t last long.CT: Vâng…để tự che giấu mình một chút – ông ấy thích “bí mật,” nhưng nó không kéo dài lâu.
Dr. N: Why?TS N: Tại sao vậy?
S: I don’t know—to make sure I really want him, I guess.CT: Tôi không biết – để chắc rằng, tôi thực sự cần ông ấy, tôi đoán thế.
Dr. N: Well, when he shows himself, what does Giles look like to you?TS N: Vâng, khi ông ta xuất hiện, Giles nom ra sao với bạn?
S: An Irish Leprechaun.CT: Một vị thần Ái Nhĩ Lan.
Dr. N: Oh, then he is a small man?TS N: Ồ, vậy, ông ta là một người đàn ông nhỏ bé?
S: (laughs again) An elf figure—tangled hair all over his wrinkled face—he looks a mess and moves constantly in all directions.CT: [lại cười] Một vị thần tinh nghịch – mái tóc rối qua khuôn mặt nhăn nheo – ông ấy nom nhếch nhác và di chuyển liên tục khắp mọi hướng.
Dr. N: Why does he do that?TS N: Tại sao ông ta làm thế?
S: Giles is a slippery character—impatient, too—he frowns a lot while he paces back and forth in front of me with his arms clasped in back of him.CT: Giles là một nhân vật tinh quái – nôn nóng, nữa – ông ấy chau mày nhiều lần trong khi ông ấy đi đi lại lại đằng trước tôi, hai cánh tay nắm chặt ra phía sau.
Dr. N: And how would you interpret this behavior?TS N: Và bạn giải thích hành vi này như thế nào?
S: Giles is not dignified like some (guides) … but he is very clever … crafty.CT: Giles thì không đĩnh đạc như vài vị hướng đạo… nhưng ông ấy rất thông minh…tinh quái [crafty].
Dr. N: Could you be more specific as to how this conduct relates to you?TS N: Bạn có thể nói rõ hơn, cách hành xử này có quan hệ với bạn ra sao?
S: (strained) Giles has made me look upon my lives as a chess game with the Earth as the board.CT: [căng thẳng] Giles đã khiến cho tôi nhìn những kiếp sống của mình như là một ván cờ, mà Cõi Trần là bàn cờ.
Certain moves bring certain results and there are no easy solutions. Những nước cờ nào đó mang lại những kết quả nào đó, và không có giải pháp nào dễ dàng cả.
I plan, and then things go wrong during the game in my life. Tôi đặt kế hoạch, và rồi, mọi sự “hỏng bét” suốt ván cờ trong đời tôi.
I sometimes think he lays traps for me to work through on the board. Đôi khi tôi nghĩ, ông ấy đặt những cái bẫy trên bàn cờ để tôi tìm cách thoát ra.
Dr. N: Do you prosper with this technique of your advanced guide? Has Giles been a help to your problem-solving during the game of life?TS N: Cái kỹ thuật này của Giles có giúp bạn thành công? Ông ta có trợ giúp trong việc giải quyết vấn đề của bạn trong ván cờ đời không?
S: (pause) … More afterward … here (in the spirit world) … but, he makes me work so damn hard on Earth.CT: [ngừng một lát] Nhiều, về sau…ở đây [trong thế giới linh hồn]… nhưng, ông ấy bắt tôi làm việc quá vất vả ở Cõi Trần.
Dr. N: Could you get rid of him and just work with Quan?TS N: Bạn có thể loại bỏ ông ta và chỉ làm việc với Quan?
S: (smiles ruefully) It doesn’t work that way here. Besides, he is brilliant.CT: [mỉm cười một cách tiếc rẻ] Ở đây, không có chuyện đó. Vả lại, ông ấy rất thông minh.
Dr. N: So, we don’t get to choose our guides?TS N: Như thế, chúng ta không phải chọn vị hướng đạo của mình?
S: No way. They choose you.CT: Tuyệt đối không. Họ chọn chúng ta.
Dr. N: Do you have any idea why you have two guides who approach your problems so differently in the way they help you?TS N: Bạn có 2 vị hướng đạo, họ tiếp cận những vấn đề của bạn quá khác nhau trong cách mà họ giúp đỡ bạn. Bạn có biết tại sao không?
S: No, I don’t, but I consider myself very fortunate. Quan … is gentle … and steady with her support.CT: Không, tôi không biết, nhưng tôi tự cho rằng mình rất may mắn. Quan rất…dịu dàng…và cô ấy luôn luôn hỗ trợ tôi.
Note: The embodiments of Native Americans who once lived in North America make powerful spiritual guides for those of us who have followed them to live in this land.CHÚ THÍCH: Những “nhập thể” [embodiments] của những người Mỹ Bản Địa mà đã một lần sống tại Bắc Mỹ, trở thành những vị hướng đạo tâm linh hùng mạnh cho những ai [trong chúng ta] theo họ để sống trên vùng đất này.
The large number of Americans who report having such guides lends support to my belief that souls are attracted to geographical settings they have known during earlier incarnations. Một số lượng lớn những người Mỹ tường thuật rằng, họ có những vị hướng đạo như thế. Điều ấy tăng cường niềm tin của tôi rằng, những linh hồn bị lôi cuốn tới những khung cảnh địa lý mà chúng đã biết trong những lần đầu thai trước kia.
Dr. N: What do you like most about Giles’ teaching methods?TS N: Bạn thích cái gì nhất trong những phương pháp giảng dạy của Giles?
S: (pensively) Oh, the way he—well, trifles with me—almost mocking me to do better during the game and stop feeling sorry for myself. When things get especially rough he prods me and keeps me going … insisting I use all my abilities. There is nothing soft about Giles.CT: [trầm tư] Ồ, cái cách mà ông ấy trêu ghẹo tôi – hầu như giễu cợt, để tôi “chơi” tốt hơn trong trò chơi, và ngừng tự thương xót mình. Khi những sự việc trở nên đặc biệt khó khăn, thì ông ấy nói khích tôi để tôi không bỏ cuộc...động viên tôi sử dụng mọi khả năng của mình.Không có gì “dịu dàng” [soft] nơi Giles.
Dr. N: And you feel this coaching on Earth, even when you and I are not working together?TS N: Và bạn cảm nhận cái sự “kềm cặp” [coaching] này ở Cõi Trần, ngay cả khi bạn và tôi không đang làm việc cùng nhau?
S: Yes, when I meditate and go inside myself … or during my dreams.CT: Vâng, khi tôi hành thiền và đi vào trong chính mình…hay trong những giấc mơ của tôi.
Dr. N: And Giles comes when you want him?TS N: Và Giles đến khi bạn cần ông ta?
S: (after some hesitation) No … although it seems as though I have been with him forever.CT: [sau chút do dự] Không…mặc dù có vẻ như tôi vẫn ở cùng ông ấy mãi mãi.
Quan does come to me more. Quan đến với tôi nhiều hơn.
I can’t just grab hold of Giles in any situation I want, unless what I have going on is really serious. Tôi không thể “tóm lấy” Giles trong bất cứ tình huống nào mà tôi muốn, trừ phi những gì tôi đang xúc tiến, là thực sự nghiêm trọng.
He is elusive. Ông ấy rất khó nắm bắt.
Dr. N: Sum up your feelings about Quan and Giles for me.TS N: Hãy tóm tắt những cảm nhận của bạn về Quan và Giles cho tôi.
S: I love Quan as a mother, but I wouldn’t be where I am without Giles’ discipline. They are both skillful because they allow me to benefit from my mistakes.CT: Tôi yêu thương Quan, xem cô ấy là một người mẹ, nhưng tôi đã không ở nơi tôi đang ở, nếu không có kỷ luật của Giles. Cả hai đều khéo léo, bởi vì họ để cho tôi hưởng lợi từ những sai lầm của mình.
These two guides are a cooperating team of instructors, which is standard procedure for those people who have two guides.Cả hai vị hướng đạo này hợp tác với nhau, đó là “thủ tục chuẩn” cho những ai có 2 vị hướng đạo.
In this case, Giles enjoys teaching karmic lessons by the Socratic method. Trong ca này, Giles thích dạy những bài học về nghiệp báo [karma] bằng phương pháp của Socrates.(97)
Providing no clues in advance, he makes sure problem-solving on major issues is never easy for my friend. Không cung cấp những đầu mối trước, ông ta đoan chắc rằng, việc giải quyết những vấn đề quan trọng, thì không bao giờ dễ dàng cho bạn tôi.
Quan, on the other hand, provides comfort and gentle encouragement. Quan, trái lại, cung cấp niềm an ủi và sự động viên dịu dàng.
When my friend comes to me for a hypnosis session, I am aware that Quan remains in the background when Giles is on-board and active.Khi bạn tôi đến với tôi cho một phiên thôi miên, thì tôi nhận biết rằng, Quan vẫn lưu lại trong hậu trường khi Giles xuất hiện và năng động.
Giles is a caring guide, as all guides are, but without a trace of indulgence. Giles là một vị hướng đạo ân cần – mọi vị hướng đạo đều ân cần – nhưng ở Giles, không có một dấu vết nào của sự nuông chiều.
Adversity is allowed to build to the absolute limits of my friend’s ability to cope before solutions suddenly begin to unfold. Nghịch cảnh được phép xảy ra, đến những giới hạn tuyệt đối – nơi mà mà bạn tôi không còn đủ sức đương đầu – trước khi những giải pháp đột nhiên mở ra.
To be honest, I see Giles as a wicked taskmaster. Thành thật mà nói, tôi thấy Giles là một “quản đốc” [taskmaster] độc ác.
This view is not really shared by my friend, who is grateful for the challenges offered by this complex teacher. Quan điểm này không thực sự được chia sẻ bởi bạn tôi, vốn biết ơn về những thách thức được cung cấp bởi vị thầy phức tạp này.
What is the average spiritual guide like? In my experience, no two guides are the same. Một vị hướng đạo trung bình thì như thế nào? Theo kinh nghiệm của tôi, thì không có hai vị hướng đạo giống hệt nhau.
These dedicated higher entities give me the impression of having attitudinal swings toward me from one session to the next, and even within the same session with a client. Những thực thể “cao cấp,” tận tụy này cho tôi ấn tượng rằng, họ có những thái độ “đong đưa” đối với tôi, từ phiên thôi miên này sang phiên kế tiếp, và thậm chí, bên trong cùng một phiên với một thân chủ.
They can be cooperative or obstructive, tolerant or disobliging, evasive or revealing, or just flat out unconcerned with anything I do with a subject. Họ có thể hợp tác hay ngăn trở, khoan dung hay thiếu nhiệt tình, né tránh hay cởi mở, hay hoàn toàn không quan tâm về bất cứ cái gì mà tôi làm với một thân chủ.
I have great respect for guides because these powerful figures play such an important part in our destiny, but I must admit they can frustrate my inquiries. Tôi hết sức kính trọng những vị hướng đạo, bởi vì những nhân vật hùng mạnh này đóng một vai trò quá quan trọng trong số phận chúng ta, nhưng tôi phải thừa nhận rằng, họ có thể làm hỏng những điều-nghiên của tôi.
I find them enigmatic because they are unpredictable in their relations with me as a facilitator. Tôi thấy họ bí ẩn, bởi vì không thể đoán trước là họ sẽ phản ứng ra sao, khi tôi đang đóng vai một “điều giải viên” [facilitator].
Early in this century, it was common for mediums working with people in hypnosis to call any discarnate entity in the room a “control,” because they acted as the director of communications on the spiritual side for the subject.Đầu thế kỷ này, những “con đồng” làm việc với những người trong cơn thôi miên thường gọi bất cứ thực thể vô hình nào trong phòng là một “kiểm soát viên,” bởi vì vị ấy chỉ đạo những truyền thông [tâm linh] diễn ra trong phiên thôi miên đó.
It was recognized that a spiritual control (whether a guide or not) had energy patterns which were in emotional, intellectual, and spiritual attunement with the subject. Người ta nhận ra rằng, một “kiểm soát viên” [bất luận vị ấy có phải là một vị hướng đạo hay không] có những “mẫu” năng lượng vốn hòa điệu về cảm xúc, trí thức, và tâm linh với thân chủ.
The importance of a harmonious energy pattern between facilitator and these entities was also known. Tầm quan trọng của mẫu năng lượng hài hòa, giữa điều giải viên và những thực thể này cũng được biết đến.
If a control is blocking my investigations with a client, I search for the reason why this is happening. Nếu một “kiểm soát viên” đang ngăn chặn những điều tra của tôi với một thân chủ, thì tôi tìm kiếm lý do tại sao điều này đang xảy ra.
With some blocking guides I must fight for every scrap of information, while others give me a great deal of latitude in a session. Trong phiên thôi miên, thì nếu gặp vài vị hướng đạo ưa ngăn chặn, tôi phải “chiến đấu” cho mọi mảnh thông tin, trong khi những người khác cho tôi nhiều tự do hơn.
I never forget that guides have every right to block my approach to problems with souls under their care. Tôi không bao giờ quên rằng, những vị hướng đạo có mọi quyền để ngăn chặn, không cho tôi tiếp cận những vấn đề với những linh hồn ở dưới sự chăm sóc của họ.
After all, I have their people as my subjects for only a short while. Dù sao đi nữa, thì những người của họ chỉ là thân chủ của tôi trong một thời gian ngắn thôi.
Frankly, I would much rather have no contact with a client’s guide than work with one who might assist me at one point and then block the rhythm of memory in the next portion of a session.Thành thật mà nói, tôi thà không có sự tiếp xúc nào với vị hướng đạo của một thân chủ, còn hơn là làm việc với một vị hướng đạo “khó tính”: vị này có thể giúp tôi ở một thời điểm và rồi, ngăn chặn hồi ức của thân chủ, trong phần kế tiếp của một phiên thôi miên.
I believe a guide’s motivation for blocking information goes far beyond resisting the immediate psychological direction a therapy session is taking.Tôi tin rằng, khi một vị hướng đạo ngăn chặn thông tin, thì vị ấy có một động cơ sâu xa, chứ không chỉ đơn thuần chống lại cái chiều hướng tâm lý học trước mắt, mà một phiên trị liệu đang đi theo.
I am constantly searching for new data on the spirit world. Tôi đang thường trực tìm kiếm những dữ liệu mới về thế giới linh hồn.
A guide who lends support to a free flow of past life memories from one of my subjects may balk at my far-reaching questions about life on other planets, the structure of the spirit world, or creation itself. Một vị hướng đạo vốn cho phép một thân chủ tự do nhớ lại những kiếp quá khứ, có thể do dự trước những câu hỏi quá sâu rộng của tôi về cuộc sống trên những hành tinh khác, về cấu trúc của thế giới linh hồn, hay về chính Cuộc Sáng Thế.(98) 
This is why I am only able to collect these spiritual secrets in fragments from a large body of client information reflecting the discretion of many guides.Đây là lý do tại sao mà tôi chỉ có thể sưu tập những bí mật tâm linh này từng chút một, từ một khối lượng lớn thông tin cung cấp bởi thân chủ – sự ngăn chặn phản ánh sự thận trọng của nhiều vị hướng đạo.
I also feel that I am receiving assistance from my own spiritual guide during communications with subjects and their guides. Tôi cũng cảm thấy rằng, tôi đang tiếp nhận sự trợ giúp từ chính vị hướng đạo tâm linh của chính tôi trong những truyền thông với những thân chủ và những vị hướng đạo của họ.
Occasionally, a subject will express dissatisfaction with his or her particular guide.Thỉnh thoảng, một thân chủ sẽ diễn đạt sự bất mãn với vị hướng đạo của chính mình.
This is usually temporary. Điều này, thường chỉ là tạm thời.
At any time, people are capable of believing their guides are too difficult and not working in their best interests, or just not paying enough attention to them. Ở bất cứ thời gian nào, người ta có thể tin rằng, vị hướng đạo của họ quá “khó tính” và không làm việc cho những quyền lợi tốt nhất của họ, hay không chú ý tới họ một cách thích đáng.
A subject once told me that he had tried for a long time to be assigned another guide. Một lần, một thân chủ của tôi bảo tôi rằng, anh ta đã cố gắng một thời gian dài để có một vị hướng đạo khác.
He said, “My guide is stonewalling me, she doesn’t give enough of herself. ” Anh ta nói: “Vị hướng đạo của tôi đang ngăn trở tôi, cô ấy không tận tình với tôi như tôi mong muốn. ”
The man told me his desire for a change in guides was not honored.Người đàn ông này bảo tôi rằng, ước muốn thay đổi vị hướng đạo của anh ta không được tôn trọng.
I observed that he spent considerable time alone, without much group interaction after his last two lives, because he refused to deal with his issues. Tôi quan sát thấy rằng, anh ta trải qua thời gian đáng kể một mình, không có nhiều tương tác nhóm sau 2 kiếp sống vừa qua của anh ta, bởi v́ anh ta không chịu xử lư những vấn đề của bản thân.
He projected anger toward his guide for not rescuing him from bad situations. Anh ta bày tỏ sự giận dữ đối với vị hướng đạo của mình, về việc không cứu anh ta thoát khỏi những tình huống tồi tệ.
Our teachers really don’t get perturbed with us to the point of alienation, but I notice they have a way of making themselves scarce when disgruntled students avoid real problem-solving.Thực ra, những vị thầy không quá bực mình với chúng ta đến mức xa lánh chúng ta, nhưng tôi nhận thấy rằng, họ có một cách “lánh mặt” khi những học trò bất mãn trốn tránh việc giải quyết vấn đề một cách nghiêm túc.
Guides only want the best for us and sometimes this means they must watch us endure much pain to reach certain objectives. Những vị hướng đạo chỉ muốn cái tốt nhất cho chúng ta và đôi khi điều này có nghĩa là, họ muốn thấy chúng ta chịu đựng nhiều đau đớn để đạt tới những mục tiêu nào đó.
Guides cannot assist in our progress until we are ready to make the necessary changes in order to take full advantage of life’s opportunities. Những vị hướng đạo không thể trợ giúp chúng ta tiến bộ, cho đến khi chúng ta sẵn sàng làm những thay đổi cần thiết để tận dụng những Cơ Hội của đời.
Do we have reason to be fearful of our guides? In Chapter Five, with Case 13, we saw an obviously younger soul who expressed some trepidation right after death about meeting the guide Clodees for debriefing.Chúng ta có lý do để sợ những vị hướng đạo của mình không? Trong chương V, với ca 13, chúng ta thấy một linh hồn non trẻ, mà ngay sau cái chết, biểu lộ sự run sợ trước việc gặp vị hướng đạo Clodees cho cuộc “phỏng vấn.”
Typically, this concern does not last.Bình thường, thì nỗi lo sợ này không kéo dài.
We may feel chagrined over having to explain to our guides why goals were not attained, but they understand. Chúng ta có thể cảm thấy chán nản khi phải giải thích cho những vị hướng đạo của mình, tại sao những mục tiêu không đạt được, nhưng họ hiểu.
They want us to interpret our past lives so we will have the benefit of assisting in the analysis of mistakes. Họ muốn chúng ta thuyết minh những kiếp quá khứ của mình, để có thể góp phần vào việc phân tích những sai lầm.
My clients express all sorts of sentiments about their guides, but fear is not among them.Những thân chủ của tôi biểu lộ mọi loại tình cảm về những vị hướng đạo của họ, nhưng sợ hãi thì không.
On the contrary, people are more worried about being abandoned by spiritual advisors during difficult periods in their lives. Trái lại, người ta lo lắng hơn về việc bị những cố vấn bỏ rơi, ở những giai đoạn khó khăn trong đời họ.
Our relationship with guides is one of students and teachers rather than defendants and judges. Mối quan hệ của chúng ta với những vị hướng đạo, là mối quan hệ thầy/trò, hơn là quan tòa /bị cáo.
Our personal guides help us cope with the separateness and isolation which every soul inherits at physical birth, regardless of the degree of love extended by our family. Khi bước vào cuộc sống vật lý, thì mọi linh hồn đều phải chịu sự ly cách và cô lập, bất luận chúng được gia đình yêu mến đến mức nào chăng nữa. Những vị hướng đạo giúp chúng ta đương đầu với sự ly cách và cô lập đó.
Guides give us an affirmation of Self in a crowded world. Họ cũng cho chúng ta một khẳng định về “Bản Ngã” [Self] trong một thế giới đông đúc.
People want to know if their guides always come whenever they call for help.Người ta muốn biết, liệu những vị hướng đạo của họ có luôn luôn đến bất cứ khi nào họ kêu cứu hay không.
Guides are not consistent in the manner in which they choose to assist us, because they carefully evaluate how badly they are needed. Những vị hướng đạo không nhất quán trong cách thức mà họ chọn việc trợ giúp chúng ta, bởi vì họ cẩn thận đánh giá, xem chúng ta cần đến họ tới mức nào.
I am also asked if hypnosis is the best way to get in contact with one’s guide. Tôi cũng được hỏi, liệu thôi miên có phải là cách tốt nhất để tiếp xúc với vị hướng đạo của mình hay không.
Naturally, I lean toward hypnosis, because I know how potent and effective this medium can be to obtain detailed spiritual information. Tôi chọn phương pháp thôi miên, bởi vì tôi biết, cái phương tiện này công hiệu [potent] và hữu hiệu ra sao, trong việc thu lượm thông tin tâm linh chi tiết.
However, hypnosis by a trained facilitator is not convenient on a daily basis, where meditation, prayer, and perhaps channeling with another person would be. Tuy nhiên, bình thường thì trong đời sống hằng ngày, thôi miên không thuận tiện so với thiền định, cầu nguyện, và có lẽ, việc truyền thông với một người khác.
Self-hypnosis, as a form of deep meditation, is an excellent alternative and may be preferred by those who have a fear of being hypnotized by others, or don’t want the interference of a second party in their spiritual life.Tự thôi miên, như là một hình thức thiền định sâu, là một thay thế rất tốt, và có thể được chọn bởi những ai sợ bị thôi miên bởi những người khác, hay không muốn sự can thiệp của một “thành phần” thứ hai trong cuộc sống tâm linh của họ.
Regardless of the method used, we all have the capacity to send out far-reaching thought waves from our higher consciousness.Bất luận phương pháp nào được dùng, thì tất cả chúng ta đều có năng lực gửi đi những làn sóng tư tưởng có tầm sâu và rộng, từ ý “thức cao hơn” của chúng ta.
Every person’s thoughts represent a mental fingerprint to guides marking who and where we are. Đối với những vị hướng đạo, thì những ý tưởng của mọi người đại diện cho những dấu vân tay, “đánh dấu” chúng ta là ai, và đang ở đâu.
During our lives, especially in periods of great stress, most people feel the presence of someone watching out for them.Trong suốt đời mình, nhất là trong những giai đoạn bị stress trầm trọng, đa phần mọi người cảm thấy sự hiện diện của một ai đó đang dõi theo họ.
We may not be able to describe this power, but it is there nonetheless. Có thể, chúng ta không có khả năng mô tả sức mạnh này, nhưng, nó ở đó.
Reaching our soul is the first step on the ladder of finding our higher power. Vươn tới linh hồn chúng ta là bước đầu tiên trên cái thang dẫn đến việc tìm thấy cái sức mạnh cao hơn của mình.
All lines of mental communication we use to reach a God-head are monitored by our guides on this step. Mọi cách truyền thông [tâm linh] – mà chúng ta dùng để vươn tới một Hữu thể Tối cao [God-head](99) – đều được giám sát bởi những vị hướng đạo của chúng ta trên bước đi này.
They, too, have their guides further up the ladder. Chính họ cũng có những vị hướng đạo của họ, ở chỗ cao hơn trên cái thang.
The entire ladder serves as one unbroken conduit to the source of all intelligent energy, with each rung being part of the whole. Toàn bộ cái thang được dùng như một “ống dẫn” không đứt đoạn, dẫn tới cội nguồn của mọi năng lượng thông minh, và mỗi bậc thang là một phần của cái toàn bộ.
It is essential for people to have faith that a prayer for help will be answered by their own higher power.Đức tin rằng, một lời nguyện cầu xin giúp đỡ, sẽ được đáp ứng bởi sức mạnh cao hơn của chính họ, là vô cùng thiết yếu cho mọi người.
This is why guides are vitally important to our spiritual and temporal lives. Đây là lý do tại sao những vị hướng đạo thật quan trọng cho cuộc sống trong thế giới linh hồn và trong cuộc sống trần thế của chúng ta.
If we are relaxed and in a state of concentrated focus, an inner voice speaks to us. Nếu chúng ta thư giãn, và ở trong một trạng thái tập trung “nhất điểm,” thì ta nghe được giọng nói nội tại của mình.(100)
And, even if we didn’t initiate the message, we should trust what we hear. Và, ngay cả khi chúng ta không tự mình gửi đi thông điệp [cầu cứu], thì chúng ta cũng nên tin cậy những gì mà chúng ta nghe.
National surveys by psychologists indicate one person in ten admits to hearing voices which are frequently positive and instructional in nature.Những cuộc khảo sát [có tầm] quốc gia bởi những nhà tâm lý học cho thấy rằng, 1/10 những người được khảo sát thừa nhận rằng, họ nghe những giọng nói mà thường là tích cực và bổ ích trong bản chất.
It is a relief for many people to learn their inner voices are not the hallucinations associated with the mentally ill. Thật là một nỗi nhẹ nhõm cho nhiều người, khi biết rằng, những giọng nói nội tại của họ không phải là những ảo giác của những kẻ mắc bệnh tâm thần.
Rather than something to be worried about, an inner voice is like having your own resident counselor on call. Không có gì phải lo lắng về một tiếng nói nội tại, bởi vì nó giống như tiếng nói của người cố vấn của chính bạn trên điện thoại.
More often than not, these voices are those of our guides. Thường khi, đây là giọng nói của những vị hướng đạo của chúng ta.
Guides assigned to different souls do work together relaying urgent mental messages for each other. Những vị hướng đạo – được phái đến phụ trách những linh hồn khác nhau – thực sự làm việc cùng nhau, “tiếp vận” những thông điệp tâm linh cho nhau.
People unable to help themselves in critical situations may find counselors, friends, and even strangers coming to their aid at just the right moment. Những người không thể giúp chính họ trong những tình huống nguy kịch, có thể tìm thấy những cố vấn, bạn hữu, và ngay cả những người lạ, đến trợ giúp họ đúng lúc.
The inner strength which comes to us in our daily lives does not arrive as much by a visual picture of actually seeing our guides, as from the feelings and emotions which convince us we are not alone.Trong đời sống thường nhật của mình, thì sức mạnh nội tại đến với chúng ta không phải do ta thấy những vị hướng đạo của mình xuất hiện một cách rõ ràng, cho bằng từ những cảm nhận và cảm xúc mang đến cho chúng ta xác tín rằng, chúng ta không cô độc.
People who listen and encourage their inner voice through quiet contemplation say they feel a personal connection with an energy beyond themselves which offers support and reassurance.Những người đã lắng nghe và động viên tiếng nói nội tại của họ thông qua sự suy niệm tĩnh lặng, nói rằng, họ cảm thấy một sự kết nối cá nhân với một năng lượng vượt quá chính họ, cung cấp sự hỗ trợ và sự trấn an.
If you prefer to call this internal guidance system inspiration or intuition, that is fine, because the system which aids us is an aspect of ourselves as well as higher powers.Nếu bạn thích gọi cái này là “hệ thống hướng dẫn nội tại” về cảm hứng hay trực giác, thì cũng tốt, bởi vì hệ thống này là một khía cạnh của chúng ta, cũng như của những sức mạnh cao hơn.
During troublesome times in our lives, we have the tendency to ask for guidance to immediately set things right.Vào những lúc rắc rối trong đời mình, chúng ta có khuynh hướng cầu xin sự hướng dẫn để tức thì chỉnh đốn sự việc.
When they are in trance, my clients see that their guides don’t help them solve all their problems at once, rather they illuminate pathways by the use of clues. Khi họ ở trong cơn thôi miên, những thân chủ của tôi thấy rằng, những vị hướng đạo của họ không giúp họ giải quyết tất cả những vấn đề của họ ngay lập tức, mà đúng hơn, các vị soi sáng những lối đi bằng cách dùng những đầu mối.
This is one reason why I am cautious about client-blocking during hypnosis.Đây là một lý do tại sao tôi thận trọng khi trong cơn thôi miên, thân chủ bị “chặn,” không tiết lộ những thông tin nào đó.
Insight is best revealed with a controlled pace relative to each person. “Tri kiến” [insight](101) thì dễ dàng được phát lộ với một mức độ được kiểm soát, tùy theo mỗi người.
A concerned teacher may not want all aspects of a problem uncovered at a given point in time for his or her student. Ở một thời điểm nào đó, một vị thầy thận trọng có thể không muốn tiết lộ cho học trò của họ mọi khía cạnh của một vấn đề nào đó.
We vary in our ability to handle revelations. Chúng ta khác nhau trong khả năng xử lý những điều được tiết lộ.
When asking for help from your higher spiritual power, I think it is best not to demand immediate change.Khi cầu xin trợ giúp từ sức mạnh tâm linh cao hơn của bạn, tôi nghĩ, tốt nhất, là không yêu cầu sự thay đổi tức thì.
Our success in life is predicated on planning, but we do have alternative paths to choose from to reach certain goals. Mặc dù sự thành công của chúng ta trong đời, tùy thuộc vào việc hoạch định trước, nhưng chúng ta thực sự có những “lối đi thay thế” để chọn, nhằm vươn tới những mục tiêu nào đó.
When seeking guidance, I suggest requesting help with just the next step in your life. Khi tìm kiếm sự hướng dẫn, tôi gợi ý, chỉ thỉnh cầu sự giúp đỡ với bước kế tiếp trong đời bạn.
When you do this, be prepared for unexpected possibilities. Khi bạn làm điều này, hãy chuẩn bị cho những khả tính(102) bất ngờ.
Have the faith and humility to open yourself up to a variety of paths toward solutions.Hãy có đức tin và sự khiêm cung để mở rộng lòng ra trước sự đa dạng của những lối đi tiến về những giải pháp.
After death we do not experience sadness as souls with the same emo- tional definition as grief felt in physical form. Sau cái chết, chúng ta trở thành “linh hồn,” và không trải nghiệm nỗi buồn theo định nghĩa bình thường về cảm xúc, chẳng hạn như sầu muộn, được cảm nhận trong hình thức vật lý.
Yet, as we have already seen, souls are not detached beings without feelings. Thế nhưng, như chúng ta đã thấy, những linh hồn không “dửng dưng’ [detached], lạnh lùng, vô cảm.
I have learned those powers who watch over us also feel what I call a spiritual sorrow when they see us making poor choices in life and going through pain. Tôi đã học được rằng, những sức mạnh vốn theo dõi chúng ta, “họ” cũng cảm thấy cái mà tôi gọi là một “nỗi sầu muộn tâm linh,” khi họ thấy chúng ta làm những chọn lựa tồi tệ trong đời và trải nghiệm sự đau đớn.
Certainly, our soul-mates and peers suffer distress when we are tormented, but so do our guides.Chắc chắn là, những bạn linh hồn và bạn cùng nhóm của chúng ta cảm thấy sầu muộn khi chúng ta bị dằn vặt, song những vị hướng đạo của chúng ta cũng vậy.
Guides may not show sorrow in orientation conferences and during soul group discussions between lives, but they keenly feel their responsibilities toward us as teachers. Những vị hướng đạo có thể không bày tỏ nỗi sầu muộn trong những hội nghị định hướng và trong những cuộc thảo luận nhóm [trong thế giới linh hồn], nhưng họ sâu sắc cảm thấy những trách nhiệm của họ đối với chúng ta, với tư cách là những vị thầy.
In Chapter Eleven, we will get the perspective of a guide at Level V.Trong chương XI, chúng ta sẽ có một “góc nhìn”[perspective] về một vị hướng đạo ở cấp độ V.
I have never found a person who is a living grade VI, or master guide, as a subject. Tôi chưa bao giờ thấy một chủ thể đang sống đạt tới cấp độ VI, hay một vị hướng đạo ở đẳng cấp “tôn sư” [master guide].
I suspect we don’t have a whole lot of these advanced souls on Earth at any one time. Tôi đoán rằng, chúng ta không có nhiều những linh hồn tiến hóa cao này ở Cõi Trần, ở bất cứ một thời gian nào.
Most Level VI’s are much too involved with planning and directing from the spirit world to incarnate any longer.Phần lớn những người ở cấp độ VI, thì quá bận rộn với việc vạch kế hoạch và chỉ đạo từ thế giới linh hồn, đến nỗi họ hiếm khi đầu thai trở lại Cõi Trần.
From the reports of the Level V’s I have had, it would seem the Level VI has no new lessons to learn, but I have a hunch a still-incarnating soul at Level V may not know all the esoteric tasks involved with master level entities. Từ những bản tường thuật của những người ở cấp độ V mà tôi đã có, thì dường như cấp độ VI không có bài học mới nào để học, nhưng tôi có một linh cảm rằng, một linh hồn cấp độ V, “vẫn-đang-đầuthai,” có thể không biết tất cả những nhiệm vụ “bí truyền” [esoteric tasks] mà những thực thể ở đẳng cấp “tôn sư” phải thực hiện.
Once in a while during a session with a more advanced soul, I hear references to an even higher level of soul than Level VI. Thỉnh thoảng, trong khi đang ở trong một phiên thôi miên với một linh hồn tiến hóa cao, tôi nghe những lời ám chỉ về một mức linh hồn còn cao hơn cấp độ VI.
These entities, to whom even the masters report, are in the darkest purple range of energy. Những thực thể này – mà ngay cả bậc “tôn sư” cũng ở dưới sự chỉ đạo của họ – thì ở trong biên độ [range] năng lượng màu đỏ tía.
These superior beings must be getting close to the creator. Những hữu thể “bề trên” [superior beings] này hẳn là ở gần sát với “Đấng Sáng Tạo.”(103) 
I am told these shadowy figures are elusive, but highly venerated beings in the spirit world.Tôi được cho biết rằng, những nhân vật “mờ ảo” này thì rất khó tiếp cận, nhưng họ là những hữu thể rất được sùng kính trong thế giới linh hồn.
The average client doesn’t know if spiritual guides should be placed in a less than divine category, or considered lesser gods because of their advancement.Thân chủ trung bình không biết, liệu có nên xếp những vị hướng đạo tâm linh vào một phạm trù thấp hơn thần linh, hay [có nên] xem họ là những vị thần có đẳng cấp thấp hơn.
There is nothing wrong with any spiritual concept, as long as it provides comfort, is uplifting, and makes sense to each individual. Không có gì bất ổn với bất cứ khái niệm tâm linh nào, miễn là nó cung cấp sự an ủi, sự “thăng hoa,” và có ý nghĩa với mỗi cá nhân.
Although some of my clients have the tendency to consider guides godlike— they are not God.Mặc dù vài thân chủ của tôi có khuynh hướng xem những vị hướng đạo như là “có phẩm chất thần linh,” nhưng các vị không phải là Thượng đế.
In my opinion, guides are no more or less divine than we are, which is why they are seen as personal beings. Theo ý tôi, thì những vị hướng đạo không có thần-tính nhiều hơn hay ít hơn chúng ta, và đó là lý do tại sao họ được xem như là những hữu thể “có ngôi vị” [personal].
In all my cases God is never seen. Trong những ca của tôi, Thượng đế không bao giờ được nhìn thấy.
People in hypnosis say they feel the presence of a supreme power directing the spirit world, but they are uncomfortable using the word “God” to describe a creator. Những người trong cơn thôi miên nói rằng, họ cảm thấy sự hiện diện của một sức mạnh tối cao đang chỉ đạo thế giới linh hồn, nhưng họ không thoải mái khi dùng chữ “Thượng đế” để mô tả một Kẻ Sáng Tạo.
Perhaps the philosopher Spinoza said it best with these words: “God is not He who is, but That which is.” Có lẽ, triết gia Spinoza nói điều ấy một cách tốt nhất với những lời: “Thượng đế hiện hữu như là ‘Cái ấy’ [That], chứ không như là ‘Ông ấy’ ” [He](104).
Every soul has a spiritual higher power linked to its existence.Mọi linh hồn đều có một sức mạnh tâm linh cao hơn nối kết với sự hiện hữu của chúng.
All souls are part of the same divine essence generated from one oversoul. Mọi linh hồn đều là thành phần của cùng một “yếu tính thiêng liêng” [divine essence], khởi phát từ một Linh hồn Tối cao.
This intelligent energy is universal in scope and so we all share in divine status. Cái năng lượng thông minh này là đại đồng và như thế, tất cả chúng ta đều dự phần vào “thần tính” [divine status].
If our soul reflects a small portion of the oversoul we call God, then our guides provide the mirror by which we are able to see ourselves connected to this creator.(105) Nếu linh hồn chúng ta phản ánh một mảnh nhỏ của Linh hồn Tối cao, mà chúng ta gọi là Thượng đế, thì những những vị hướng đạo của chúng ta cung cấp tấm gương mà qua đó, chúng ta có thể thấy chính mình được kết nối với “kẻ sáng tạo” [creator] này.