CHAPTER I. INTRODUCTION

CHAPTER I
Chương I
INTRODUCTION
GIỚI THIỆU
TO COMMUNICATE with one another, even if we know each other very well, is extremely difficult.Muốn truyền đạt với nhau, thậm chí nếu chúng ta biết nhau rất rõ, là khó khăn cực kỳ.
I may use words that may have to you a significance different from mine. Tôi có lẽ sử dụng những từ ngữ mà đối với bạn có lẽ có một ý nghĩa khác hẳn ý nghĩa của tôi.
Understanding comes when we, you and I, meet on the same level at the same time. Hiểu rõ có được khi chúng ta, bạn và tôi, gặp gỡ nhau trên cùng mức độ tại cùng thời điểm.
That happens only when there is real affection between people, between husband and wife, between intimate friends. Điều đó xảy ra chỉ khi nào có thương yêu thực sự giữa con người, giữa người chồng và người vợ, giữa những người bạn thân thiết với nhau.
That is real communion. Đó là hiệp thông thực sự.
Instantaneous understanding comes when we meet on the same level at the same time. Hiểu rõ đến tức khắc khi chúng ta gặp gỡ trên cùng mức độ tại cùng thời điểm.
It is very difficult to commune with one another easily, effectively and with definitive action.Rất khó khăn khi hiệp thông cùng nhau, một cách hiệu quả, dễ dàng và với hành động rõ rệt.
I am using words which are simple, which are not technical, because I do not think that any technical type of expression is going to help us solve our difficult problems; so I am not going to use any technical terms, either of psychology or of science. Tôi đang sử dụng những từ ngữ đơn giản, không phải thuộc kỹ thuật, bởi vì tôi không nghĩ rằng bất kỳ diễn tả kỹ thuật nào sẽ giúp đỡ chúng ta giải quyết được những vấn đề khó khăn của chúng ta; vì vậy tôi sẽ không sử dụng bất kỳ những thuật ngữ hoặc tâm lý hoặc khoa học.
I have not read any books on psychology or any religious books, fortunately. Tôi không đọc bất kỳ quyển sách về tâm lý hay bất kỳ quyển sách tôn giáo nào, may mắn thay.
I would like to convey, by the very simple words which we use in our daily fife, a deeper significance; but that is very difficult if you do not know how to listen. Tôi muốn chuyển tải, bằng những từ ngữ rất đơn giản mà chúng ta sử dụng trong sống hàng ngày của chúng ta, một ý nghĩa sâu thẳm hơn; nhưng điều đó rất khó khăn nếu bạn không biết lắng nghe như thế nào.
There is an art of listening.Có một nghệ thuật của lắng nghe.
To be able really to listen, one should abandon or put aside all prejudices, pre-formulations and daily activities. Để có thể lắng nghe thực sự, người ta nên buông bỏ hay gạt đi tất cả những thành kiến, những định kiến và những hoạt động hàng ngày.
When you are in a receptive state of mind, things can be easily understood; you are listening when your real attention is given to something. Khi bạn ở trong một trạng thái thâu nhận liên tục của cái trí, những sự việc có thể được hiểu rõ dễ dàng; bạn đang lắng nghe khi chú ý thực sự của bạn được trao vào một điều gì đó.
But unfortunately most of us listen through a screen of resistance. Nhưng bất hạnh thay hầu hết chúng ta đều lắng nghe qua một bức màn của kháng cự.
We are screened with prejudices, whether religious or spiritual, psychological or scientific; or with our daily worries, desires and fears. Chúng ta bị che khuất bởi những thành kiến, dù thuộc tín ngưỡng hay thuộc tinh thần, thuộc tâm lý hay thuộc khoa học; hay bởi những lo âu, những ham muốn và những sợ hãi hàng ngày của chúng ta.
And with these for a screen, we listen. Và cùng những sự việc này làm thành một bức màn, chúng ta lắng nghe.
Therefore, we listen really to our own noise, to our own sound, not to what is being said. Vì vậy, thật ra chúng ta lắng nghe sự huyên náo riêng của chúng ta, âm thanh riêng của chúng ta, không phải điều gì đang được nói.
It is extremely difficult to put aside our training, our prejudices, our inclination, our resistance, and, reaching beyond the verbal expression, to listen so that we understand instantaneously. Rất khó khăn khi gạt đi sự rèn luyện của chúng ta, những thành kiến của chúng ta, khuynh hướng của chúng ta, kháng cự của chúng ta, và, vượt khỏi sự diễn tả bằng từ ngữ, để lắng nghe đến độ chúng ta hiểu rõ ngay tức khắc.
That is going to be one of our difficulties. Đó sẽ là một trong những khó khăn của chúng ta.
If, during this discourse, anything is said which is opposed to your way of thinking and belief, just listen; do not resist.Nếu, trong suốt nói chuyện này, bất kỳ điều gì được nói ra mà trái ngược với cách suy nghĩ và niềm tin của bạn, chỉ lắng nghe, đừng phản kháng.
You may be right, and I may be wrong; but by listening and considering together we are going to find out what is the truth. Truth cannot be given to you by somebody. Bạn có lẽ đúng, và tôi có lẽ sai; nhưng bằng cách lắng nghe và suy xét cùng nhau chúng ta sẽ tìm ra sự thật là gì? Sự thật không thể được trao tặng cho bạn bởi người nào đó.
You have to discover it; and to discover, there must be a state of mind in which there is direct perception. Bạn phải tìm ra nó; và muốn tìm ra, phải có một trạng thái của cái trí mà trong đó có sự nhận biết trực tiếp.
There is no direct perception when there is a resistance, a safeguard, a protection. Không có nhận biết trực tiếp khi có một kháng cự, một phòng vệ, một bảo vệ.
Understanding comes through being aware of what is. Hiểu rõ hiện diện qua nhận biết được cái gì là.
 To know exactly what is, the real, the actual, without interpreting it, without condemning or justifying it, is, surely, the beginning of wisdom. Nhận biết chính xác cái gì là, cái thực sự, cái thực tại, mà không diễn giải nó, không chỉ trích hay biện hộ nó, là, chắc chắn, sự khởi đầu của thông minh.
It is only when we begin to interpret, to translate according to our conditioning, according to our prejudice, that we miss the truth. Chỉ khi nào chúng ta bắt đầu diễn giải, giải thích tùy theo tình trạng bị quy định của chúng ta, tùy theo thành kiến của chúng ta, lúc đó chúng ta mất đi sự thật.
After all, it is like research. Rốt cuộc, nó giống như sự tìm hiểu.
To know what something is, what it is exactly, requires research—you cannot translate it according to your moods. Muốn biết một việc gì đó là gì, chính xác nó là gì, đòi hỏi sự tìm hiểu – bạn không thể diễn giải nó tùy theo những tâm trạng của bạn.
Similarly, if we can look, observe, listen, be aware of what is, exactly, then the problem is solved. Tương tự, nếu chúng ta có thể nhìn ngắm, quan sát, lắng nghe, nhận biết được cái gì là, một cách chính xác, vậy thì vấn đề được giải quyết.
And that is what we are trying to do in all these discourses. Và đó là điều gì chúng ta đang cố gắng thực hiện trong tất cả những nói chuyện này.
I am going to point out to you what is, and not translate it according to my fancy; nor should you translate it or interpret it according to your background or training. Tôi sẽ chỉ rõ cho bạn cái gì là, và không diễn giải nó tùy theo sự tưởng tượng của tôi; bạn cũng không nên diễn giải nó hay giải thích nó tùy theo nền tảng quá khứ hay sự giáo dục của bạn.
Is it not possible, then, to be aware of everything as it is? Starting from there, surely, there can be an understanding.Vậy thì, liệu không thể nhận biết được mọi thứ như nó là hay sao? Chắc chắn, khởi đầu từ đó, có thể có một hiểu rõ.
To acknowledge, to be aware of, to get at that which is, puts an end to struggle. Thừa nhận, nhận biết được, nắm được cái là, kết thúc đấu tranh.
If I know that I am a liar, and it is a fact which I recognize, then the struggle is over. Nếu tôi biết rằng tôi là một người nói dối, và nó là một sự kiện mà tôi nhận ra, vậy thì đấu tranh kết thúc.
To acknowledge, to be aware of what one is, is already the beginning of wisdom, the beginning of understanding, which releases you from time. Thừa nhận, nhận biết được người ta là gì, là sự khởi đầu của thông minh rồi, sự khởi đầu của hiểu rõ, mà giải thoát bạn khỏi thời gian.
To bring in the quality of time—time, not in the chronological sense, but as the medium, as the psychological process, the process of the mind—is destructive, and creates confusion. Khi mang vào chất lượng của thời gian – thời gian, không phải trong ý nghĩa tuần tự, nhưng như một vật trung gian, như một qui trình tâm lý, qui trình của cái trí – là hủy hoại và tạo tác sự rối loạn.
So, we can have understanding of what is when we recognize it without condemnation, without justification, without identification.Vì vậy, chúng ta có thể hiểu rõ cái gì là khi chúng ta công nhận nó mà không chỉ trích, không biện hộ, không gắn kết.
To know that one is in a certain condition, in a certain state, is already a process of liberation; but a man who is not aware of his condition, of his struggle, tries to be something other than he is, which brings about habit. Nhận biết được rằng người ta đang ở trong một quy định nào đó, trong một trạng thái nào đó, là đã có sẵn một tiến hành giải thoát; nhưng một con người không nhận biết được quy định của anh ấy, đấu tranh của anh ấy, cố gắng là một cái gì đó khác hơn anh ấy là, tạo ra thói quen.
So, then, let us keep in mind that we want to examine what is, to observe and be aware of exactly what is the actual, without giving it any slant, without giving it an interpretation. Vì vậy, chúng ta hãy luôn luôn nhớ rằng chúng ta muốn tìm hiểu cái gì là, quan sát và nhận biết được chính xác cái gì là thực sự, không cho nó bất kỳ ý nghĩa bóng bẩy, không cho nó một giải thích.
It needs an extraordinarily astute mind, an extraordinarily pliable heart, to be aware of and to follow what is; because what is is constantly moving, constantly undergoing a transformation, and if the mind is tethered to belief, to knowledge, it ceases to pursue, it ceases to follow the swift movement of what is. Nó cần một cái trí nhạy bén lạ thường, một tâm hồn mềm dẻo lạ thường, để nhận biết được và để theo sát cái gì là; bởi vì cái gì là đang liên tục chuyển động, đang liên tục trải qua một thay đổi, và nếu cái trí bị trói buộc vào niềm tin, vào hiểu biết, nó chấm dứt sự theo đuổi, nó không còn theo sát chuyển động mau lẹ của cái gì là.
 What is is not static, surely—it is constantly moving, as you will see if you observe it very closely. Chắc chắn, cái gì là không đứng yên – nó luôn luôn đang chuyển động, như bạn sẽ thấy nếu bạn quan sát nó rất kỹ càng.
To follow it, you need a very swift mind and a pliable heart—which are denied when the mind is static, fixed in a belief, in a prejudice, in an identification; and a mind and heart that are dry cannot follow easily, swiftly, that which is. Muốn theo sát nó, bạn cần một cái trí rất nhạy bén và một tâm hồn thật mềm dẻo – mà bị chối từ khi cái trí đứng yên, cố định trong một niềm tin, trong một thành kiến, trong một nhận dạng; và một cái trí và một tâm hồn cằn cỗi không thể theo sát một cách dễ dàng, mau lẹ, cái gì là.
One is aware, I think, without too much discussion, too much verbal expression, that there is individual as well as collective chaos, confusion and misery.Tôi nghĩ, người ta nhận biết được mà không cần có quá nhiều bàn cãi, quá nhiều diễn giải bằng từ ngữ, rằng có sự hỗn loạn, hoang mang và đau khổ cá thể cũng như tập thể.
It is not only in India, but right throughout the world; in China, America, England, Germany, all over the world, there is confusion, mounting sorrow. Không chỉ ở Ấn độ nhưng khắp thế giới; ở Trung quốc, Mỹ, Anh, Đức, toàn thế giới có hỗn loạn, đau khổ chồng chất.
It is not only national, it is not particularly here, it is all over the world. Không chỉ thuộc quốc gia, không chỉ ở đây, nó ở khắp thế giới.
There is extraordinarily acute suffering, and it is not individual only but collective. Có sự đau khổ vô cùng, và nó không những của cá thể nhưng còn cả của tập thể.
So it is a world catastrophe, and to limit it merely to a geographical area, a coloured section of the map, is absurd; because then we shall not understand the full significance of this worldwide as well as individual suffering. Vì vậy nó là một thảm kịch của thế giới, và chỉ giới hạn nó vào một khu vực địa lý, một phần tô màu của tấm bản đồ, là điều vô lý; bởi vì nếu vậy bạn sẽ không hiểu rõ trọn vẹn ý nghĩa của sự đau khổ cá thể cũng như toàn thế giới này.
Being aware of this confusion, what is our response to-day? How do we react? Nhận biết được sự hỗn loạn này, phản ứng ngày hôm nay của chúng ta là gì? Chúng ta phản ứng như thế nào đây?
There is suffering, political, social, religious; our whole psychological being is confused, and all the leaders, political and religious, have failed us; all the books have lost theirsignificance.Có đau khổ thuộc chính trị, thuộc xã hội, thuộc tôn giáo; toàn thân tâm thuộc tâm lý của chúng ta bị hỗn loạn, và tất cả những người lãnh đạo, thuộc tôn giáo và chính trị, đã không giúp ích cho chúng ta; tất cả những quyển sách đã mất đi ý nghĩa của chúng.
You may go to the Bhagavad Gita or the Bible or the latest treatise on politics or psychology, and you will find that they have lost that ring, that quality of truth; they have become mere words. Bạn có lẽ dựa vào kinh Bhagavad Gita hay kinh Bible hay những quyển sách mới nhất về chính trị hay tâm lý, và bạn sẽ thấy rằng chúng đã mất đi chất lượng đặc trưng của nó, chất lượng của sự thật đó; chúng đã trở thành thuần túy những từ ngữ.
You yourself, who are the repeater of those words, are confused and uncertain, and mere repetition of words conveys nothing. Bạn, chính bạn, mà là người lặp lại những từ ngữ kia, bị rối loạn và hoang mang, và chỉ lặp lại những từ ngữ không chuyển tải được điều gì cả.
Therefore the words and the books have lost their value; that is, if you quote the Bible, or Marx, or the Bhagavad Gita, as you who quote it are yourself uncertain, confused, your repetition becomes a lie; because what is written there becomes mere propaganda, and propaganda is not truth. Vì vậy những từ ngữ và những quyển sách đã mất đi giá trị của chúng; đó là, nếu bạn trích dẫn kinh Bible, hay Marx, hay kinh Bhagavad Gita, bởi vì bạn, người trích dẫn nó, chính bạn bị hoang mang, rối loạn, sự lặp lại của bạn chỉ trở thành lời nói láo; bởi vì điều gì được viết ra ở đó trở thành thuần túy là tuyên truyền, và tuyên truyền không là sự thật.
So when you repeat, you have ceased to understand your own state of being. Vì vậy khi bạn lặp lại, bạn đã chấm dứt hiểu rõ trạng thái thân tâm riêng của bạn.
You are merely covering with words of authority your own confusion. Bạn chỉ che đậy sự rối loạn riêng của bạn bằng những từ ngữ của uy quyền.
But what we are trying to do is to understand this confusion and not cover it up with quotations; so what is your response to it? How do you respond to this extraordinary chaos, this confusion, this uncertainty of existence? Be aware of it, as I discuss it: follow, not my words, but the thought which is active in you. Nhưng điều gì chúng ta đang cố gắng làm là hiểu rõ rối loạn này và không che đậy nó bằng những trích dẫn; vậy là phản ứng của bạn đến nó là gì? Bạn phản ứng đến sự hỗn loạn lạ thường này, hoang mang này, sự bất ổn của tồn tại này như thế nào? Hãy nhận biết được nó, khi tôi bàn luận về nó: theo sát, không phải những từ ngữ của tôi, nhưng sự suy nghĩ mà đang năng động trong bạn.
Most of us are accustomed to be spectators and not to partake in the game. Hầu hết chúng ta đều quen là những khán giả và không tham gia vào trò chơi.
We read books but we never write books. Chúng ta đọc những quyển sách nhưng không bao giờ viết những quyển sách.
It has become our tradition, our national and universal habit, to be the spectators, to look on at a football game, to watch the public politicians and orators. Nó đã trở thành truyền thống của chúng ta, thói quen toàn cầu và quốc gia của chúng ta, để là những khán giả, để xem một trận bóng đá, để xem những người chính trị và những người giảng thuyết.
We are merely the outsiders, looking on, and we have lost the creative capacity. Chúng ta chỉ là những người đứng ngoài, nhìn vào, và chúng ta đã mất đi khả năng sáng tạo.
Therefore we want to absorb and partake. Vì vậy chúng ta muốn thâm nhập và thẩm thấu.
But if you are merely observing, if you are merely spectators, you will lose entirely the significance of this discourse, because this is not a lecture which you are to listen to from force of habit.Nhưng nếu bạn chỉ đang theo dõi, nếu bạn chỉ là những khán giả, bạn sẽ mất đi toàn ý nghĩa của nói chuyện này, bởi vì đây không là một nói chuyện mà bạn sẽ lắng nghe từ sức mạnh của thói quen.
I am not going to give you information which you can pick up in an encyclopædia. Tôi sẽ không trao cho bạn thông tin mà bạn sẽ tìm được trong một quyển từ điển bách khoa.
What we are trying to do is to follow each other’s thoughts, to pursue as far as we can, as profoundly as we can, the intimations, the responses of our own feelings. Điều gì chúng ta đang cố gắng làm là theo sát những suy nghĩ của nhau, theo đuổi đến mức chúng ta có thể làm được, sâu thẳm đến mức chúng ta có thể làm được, những hàm ý, những đáp trả của những cảm thấy riêng của chúng ta.
So please find out what your response is to this cause, to this suffering; not what somebody else’s words are, but how you yourself respond. Vì vậy làm ơn hãy tìm ra phản ứng của bạn đến nguyên nhân này, đến đau khổ này, là gì; không phải những từ ngữ của người nào đó là gì, nhưng bạn, chính bạn phản ứng như thế nào.
Your response is one of indifference if you benefit by the suffering, by the chaos, if you derive profit from it, either economic, social,political or psychological. Phản ứng của bạn là một trong những dửng dưng nếu bạn có lợi lộc bởi sự đau khổ, bởi sự hỗn loạn, nếu bạn rút ra được lợi lộc từ nó, hoặc thuộc kinh tế, hoặc thuộc xã hội, thuộc chính trị hay thuộc tâm lý.
Therefore you do not mind if this chaos continues. Thế là bạn không thèm quan tâm nếu hỗn loạn này tiếp tục.
Surely, the more trouble there is in the world, the more chaos, the more one seeks security. Chắc chắn, càng có hỗn loạn, rắc rối trong thế giới nhiều bao nhiêu, người ta càng tìm kiếm an toàn nhiều bấy nhiêu.
Haven’t you noticed it? When there is confusion in the world, psychologically and in every way, you enclose yourself in some kind of security, either that of a bank account or that of an ideology; or else you turn to prayer, you go to the temple—which is really escaping from what is happening in the world. Bạn không nhận thấy điều đó hay sao? Khi có hỗn loạn trong thế giới thuộc tâm lý, và trong mọi cách, bạn tự-khóa chặt mình trong một loại an toàn nào đó, hoặc an toàn của một tài khoản ngân hàng hoặc an toàn của một học thuyết; hoặc ngược lại bạn nhờ vào sự cầu nguyện, bạn đi đến đền chùa – mà thực sự đang tẩu thoát khỏi điều gì đang xảy ra trong thế giới.
More and more sects are being formed, more and more ‘isms’ are springing up all over the world. Càng ngày càng nhiều giáo phái đang được thành lập, càng ngày càng nhiều thêm những ‘chủ nghĩa’ đang sinh sôi khắp thế giới.
Because the more confusion there is, the more you want a leader, somebody who will guide you out of this mess, so you turn to the religious books, or to one of the latest teachers; or else you act and respond according to a system which appears to solve the problem, a system either of the left or of the right. Bởi vì hỗn loạn càng có nhiều bao nhiêu, bạn càng muốn một người lãnh đạo, một ai đó mà sẽ dẫn dắt bạn ra khỏi hỗn loạn này nhiều bấy nhiêu; thế là bạn nương nhờ những quyển sách tôn giáo, hay theo sau một trong những vị thầy mới nhất; hay bạn hành động và phản ứng theo một hệ thống mà dường như giải quyết được vấn đề, một hệ thống hoặc thuộc phe tả hoặc thuộc phe hữu.
That is exactly what is happening. Chính xác đó là điều gì đang xảy ra.
The moment you are aware of confusion, of exactly what is, you try to escape from it.Khoảnh khắc bạn nhận biết được hỗn loạn, được chính xác cái gì là, bạn cố gắng tẩu thoát khỏi nó.
Those sects which offer you a system for the solution of suffering, economic, social or religious, are the worst; because then system becomes important and not man—whether it be a religious system, or a system of the left or of the right. Những giáo phái kia mà trao tặng bạn một hệ thống cho giải pháp của đau khổ, kinh tế, xã hội hay tôn giáo, là điều tồi tệ nhất; bởi vì lúc đó hệ thống trở thành quan trọng và không phải con người – dù nó là một hệ thống của tôn giáo, hay một hệ thống của phe tả hay của phe hữu.
System becomes important, the philosophy, the idea, becomes important, and not man; and for the sake of the idea, of the ideology, you are willing to sacrifice all mankind, which is exactly what is happening in the world. Hệ thống trở thành quan trọng; triết lý, ý tưởng, trở thành quan trọng, và không phải con người; và vì lợi ích của ý tưởng, của học thuyết, bạn sẵn lòng hiến dâng tất cả nhân loại, mà chính xác là điều gì đang xảy ra trong thế giới.
This is not merely my interpretation; if you observe, you will find that is exactly what is happening. Đây không chỉ là sự diễn giải của tôi; nếu bạn quan sát, bạn sẽ thấy rằng nó chính xác là điều gì đang xảy ra.
The system has become important. Hệ thống đã trở thành quan trọng.
Therefore, as the system has become important, men, you and I, lose significance; and the controllers of the system, whether religious or social, whether of the left or of the right, assume authority, assume power, and therefore sacrifice you, the individual. Thế là, khi hệ thống đã trở thành quan trọng, con người, bạn và tôi, không còn ý nghĩa; và những người điều khiển hệ thống, dù thuộc những tôn giáo hay xã hội, dù thuộc phe tả hay phe hữu, đảm trách uy quyền, đảm trách quyền hành, và vì vậy hy sinh bạn, cá thể.
Now what is the cause of this confusion, this misery? How did this misery come about, this suffering, not only inwardly but outwardly, this fear and expectation of war, the third world war that is breaking out? Đó chính xác là điều gì đang xảy ra. Bây giờ nguyên nhân của hỗn loạn này, đau khổ này là gì? Làm thế nào đau khổ này xảy ra, đau khổ này, không chỉ bên trong nhưng còn cả bên ngoài, sợ hãi và chờ đợi chiến tranh này, chiến tranh thế giới lần thứ ba sẽ xảy ra.
What is the cause of it? Surely it indicates the collapse of all moral, spiritual values, and the glorification of all sensual values, of the value of things made by the hand or by the mind. Nguyên nhân của nó là gì? Chắc chắn nó phơi bày một sụp đổ của tất cả những giá trị tinh thần, đạo đức, và sự tôn vinh của tất cả những giá trị dục tình, giá trị của những sự việc được làm bởi bàn tay hay bằng cái trí.
What happens when we have no other values except the value of the things of the senses, the value of the products of the mind, of the hand or of the machine? Điều gì xảy ra khi chúng ta không còn những giá trị nào khác ngoại trừ giá trị của những sự việc thuộc giác quan, giá trị của những sản phẩm của cái trí, của bàn tay hay của máy móc?
The more significance we give to the sensual value of things, the greater the confusion, is it not? Again, this is not my theory.Chúng ta càng đề cao những giá trị của những sự việc thuộc giác quan nhiều bao nhiêu, sự hỗn loạn càng to tát bấy nhiêu, đúng chứ? Lại nữa, đây không là lý thuyết của tôi.
You do not have to quote books to find out that your values, your riches, your economic and social existence are based on things made by the hand or by the mind. Bạn không cần trích dẫn những quyển sách để hiểu được những giá trị của bạn, sự giàu có của bạn, sự tồn tại thuộc kinh tế và xã hội của bạn được đặt nền tảng trên những sự việc được làm bởi bàn tay hay bởi cái trí.
So we live and function and have our being steeped in sensual values, which means that things, the things of the mind, the things of the hand and of the machine, have become important; and when things become important, belief becomes predominantly significant—which is exactly what is happening in the world, is it not? Vì vậy chúng ta sống và vận hành và đưa toàn thân tâm của chúng ta ngập chìm trong những giá trị thuộc giác quan, mà có nghĩa rằng những sự việc, những sự việc của cái trí, những sự việc bằng bàn tay và của máy móc, đã trở thành quan trọng; và khi những sự việc đó trở thành quan trọng, niềm tin trở thành quan trọng thống trị – mà chính xác là điều gì đang xảy ra trong thế giới, phải không?
Thus, giving more and more significance to the values of the senses brings about confusion; and, being in confusion, we try to escape from it through various forms, whether religious, economic or social, or through ambition, through power, through the search for reality.Vẫn vậy, trao tặng càng nhiều ý nghĩa đến những giá trị của giác quan càng tạo ra hỗn loạn; và, vì ở trong hỗn loạn, chúng ta cố gắng tẩu thoát khỏi nó qua những hình thức khác nhau, dù thuộc tôn giáo, kinh tế, xã hội, hay qua tham vọng, qua quyền lực, qua tìm kiếm sự thật.
But the real is near, you do not have to seek it; and a man who seeks truth will never find it. Nhưng sự thật ở gần sát bên. Bạn không phải tìm kiếm nó; và một người tìm kiếm sự thật sẽ không bao giờ tìm được nó.
Truth is in what is—and that is the beauty of it. Sự thật ở trong cái gì là – và đó là vẻ đẹp của nó.
But the moment you conceive it, the moment you seek it, you begin to struggle; and a man who struggles cannot understand. Nhưng khoảnh khắc bạn hình dung nó, khoảnh khắc bạn tìm kiếm nó, bạn bắt đầu đấu tranh; và một người đấu tranh không thể hiểu rõ.
That is why we have to be still, observant, passively aware. Đó là lý do tại sao chúng ta phải yên lặng, phải quan sát, nhận biết một cách thụ động.
We see that our living, our action, is always within the field of destruction, within the field of sorrow; like a wave, confusion and chaos always overtake us. Chúng ta thấy rằng sống của chúng ta, hành động của chúng ta, luôn luôn ở trong phạm vi của hủy hoại, trong phạm vi của đau khổ; giống như một con sóng, rối loạn và hỗn loạn luôn luôn bao phủ chúng ta.
There is no interval in the confusion of existence. Không có khoảng ngừng trong sự hỗn loạn của tồn tại.
Whatever we do at present seems to lead to chaos, seems to lead to sorrow and unhappiness.Hiện nay bất kỳ điều gì chúng ta làm dường như đều dẫn đến hỗn loạn, dường như đều dẫn đến đau khổ và bất hạnh.
Look at your own life and you will see that our living is always on the border of sorrow. Hãy nhìn vào sống riêng của bạn và bạn sẽ thấy rằng sống của bạn luôn luôn trong vòng vây của đau khổ.
Our work, our social activity, our politics, the various gatherings of nations to stop war, all produce further war. Công việc của chúng ta, hoạt động xã hội của chúng ta, chính trị của chúng ta, sự qui tụ các quốc gia để chấm dứt chiến tranh, tất cả đều tạo ra chiến tranh thêm nữa.
Destruction follows in the wake of living; whatever we do leads to death. Sự hủy diệt liền ngay sau sống; bất kỳ điều gì chúng ta làm đều dẫn đến chết chóc.
That is what is actually taking place. Đó là điều gì thực sự đang xảy ra.
Can we stop this misery at once, and not go on always being caught by the wave of confusion and sorrow? That is, great teachers, whether the Buddha or the Christ, have come; they have accepted faith, making themselves, perhaps, free from confusion and sorrow.Liệu chúng ta có thể kết thúc đau khổ này ngay tức khắc, và không tiếp tục bị trói buộc trong chuyển động của hoang mang và đau khổ? Đó là, những vị thầy vĩ đại, dù đó là Phật hay Chúa đã đến; họ đã đảm nhận Sự thật, làm cho chính họ, có lẽ, được tự do khỏi hỗn loạn và đau khổ.
But they have never prevented sorrow, they have never stopped confusion. Nhưng họ đã không bao giờ ngăn cản được đau khổ, họ đã không bao giờ kết thúc được hỗn loạn.
Confusion goes on, sorrow goes on. Hỗn loạn tiếp tục, đau khổ tiếp tục.
If you, seeing this social and economic confusion, this chaos, this misery, withdraw into what is called the religious life and abandon the world, you may feel that you are joining these great teachers; but the world goes on with its chaos, its misery and destruction, the everlasting suffering of its rich and poor. Nếu bạn, khi thấy sự lộn xộn thuộc kinh tế và xã hội này, hỗn loạn này, đau khổ này, rút lui vào cái gì được gọi là đời sống tôn giáo và lẩn tránh thế giới, bạn có lẽ cảm thấy bạn đang ở chung cùng những vị thầy vĩ đại này; nhưng thế giới vẫn tiếp tục cùng những hỗn loạn của nó, đau khổ của nó và hủy hoại của nó, đau khổ mãi mãi của những người giàu có và những người nghèo khó của nó.
So, our problem, yours and mine, is whether we can step out of this misery instantaneously. Vì vậy, vấn đề của chúng ta, vấn đề của bạn và vấn đề của tôi, là liệu chúng ta có thể ra khỏi đau khổ này ngay tức khắc.
If, living in the world, you refuse to be a part of it, you will help others out of this chaos—not in the future, not to-morrow, but now. Nếu, đang sống trong thế giới, bạn phủ nhận là một bộ phận của nó, bạn sẽ giúp đỡ những người khác ra khỏi hỗn loạn này – không phải trong tương lai, không phải ngày mai, nhưng ngay lúc này.
Surely that is our problem. Chắc chắn đó là vấn đề của chúng ta.
War is probably coming, more destructive, more appalling in its form. Chiến tranh có thể sắp xảy ra, hủy diệt hơn, thảm khốc hơn trong hình thức của nó.
Surely we cannot prevent it, because the issues are much too strong and too close. Chắc chắn, chúng ta không thể ngăn cản được nó, bởi vì những bất đồng càng ngày càng sâu đậm và quá gần gũi.
But you and I can perceive the confusion and misery immediately, can we not? We must perceive them, and then we shall be in a position to awaken the same understanding of truth in another. Nhưng bạn và tôi có thể nhận biết được sự hỗn loạn và đau khổ ngay tức khắc, đúng chứ? Chúng ta phải nhận biết được chúng, và sau đó chúng ta sẽ ở trong một vị trí của làm thức dậy một người khác cùng sự hiểu rõ Sự thật.
In other words, can you be instantaneously free?—because that is the only way out of this misery. Nói cách khác, bạn có thể được tự do ngay tức khắc hay không? – bởi vì đó là cách duy nhất để vượt khỏi sự đau khổ này.
Perception can take place only in the present; but if you say, “I will do it to-morrow”, the wave of confusion overtakes you, and you are then always involved in confusion. Nhận biết có thể xảy ra trong hiện tại; nhưng nếu bạn nói, ‘Tôi sẽ thực hiện nó vào ngày mai’, con sóng của hỗn loạn bủa vây bạn, và rồi thì bạn luôn luôn bị chìm nghỉm trong hỗn loạn.
Now is it possible to come to that state when you yourself perceive the truth instantaneously and therefore put an end to confusion? I say that it is, and that it is the only possible way.Bây giờ liệu có thể đến được trạng thái đó khi chính bạn nhận biết được sự thật ngay tức khắc và thế là kết thúc hỗn loạn? Tôi nói rằng được, và rằng nó là cách duy nhất.
I say it can be done and must be done, not based on supposition or belief. Tôi nói rằng nó có thể làm được và phải được làm, không bị đặt nền tảng trên giả thuyết hay niềm tin.
To bring about this extraordinary revolution—which is not the revolution to get rid of the capitalists and install another group—to bring about this wonderful transformation, which is the only true revolution, is the problem. Tạo ra sự cách mạng lạ thường này – mà không phải cuộc cách mạng để loại bỏ những người tư bản và thiết lập một nhóm người khác – tạo ra sự thay đổi kỳ diệu này, là cách mạng thực sự duy nhất, là ‘nghi vấn’.
What is generally called revolution is merely the modification or the continuance of the right according to the ideas of the left. Điều gì thông thường được gọi là cách mạng chỉ là sự bổ sung hay sự tiếp tục của phe hữu tùy theo những ý tưởng của phe tả.
The left, after all, is the continuation of the right in a modified form. Phe tả, sau đó, là sự tiếp tục của phe hữu trong một hình thức được bổ sung.
If the right is based on sensual values, the left is but a continuance of the same sensual values, different only in degree or expression. Nếu phe hữu được đặt nền tảng trên những giá trị thuộc giác quan, phe tả không là gì cả ngoại trừ sự tiếp tục của cùng những giá trị thuộc giác quan, khác biệt chỉ trong mức độ hay diễn tả.
Therefore true revolution can take place only when you, the individual, become aware in your relationship to another. Vì vậy cách mạng thực sự có thể xảy ra chỉ khi nào bạn, cá thể, trở nên nhận biết được trong liên hệ với một người khác của bạn.
Surely what you are in your relationship to another, to your wife, your child, your boss, your neighbour, is society. Chắc chắn điều gì bạn là trong liên hệ với một người khác, với người vợ của bạn, người con của bạn, ông chủ của bạn, người hàng xóm của bạn, là xã hội.
Society by itself is non-existent. Xã hội tự chính nó không-tồn tại.
Society is what you and I, in our relationship, have created; it is the outward projection of all our own inward psychological states. Xã hội là điều gì bạn và tôi, trong liên hệ của chúng ta, đã tạo ra; nó là sự chiếu rọi phía bên ngoài của tất cả những trạng thái tâm lý riêng, phía bên trong của chúng ta.
So if you and I do not understand ourselves, merely transforming the outer, which is the projection of the inner, has no significance whatsoever; that is there can be no significant alteration or modification in society so long as I do not understand myself in relationship to you. Vì vậy nếu bạn và tôi không hiểu rõ về chính mình, chỉ chuyển đổi phía bên ngoài, mà là sự chiếu rọi của phía bên trong, không có ý nghĩa gì cả; đó là không thể có sự thay đổi hay bổ sung có ý nghĩa nào trong xã hội, chừng nào tôi còn không hiểu rõ về chính tôi trong liên hệ với bạn.
Being confused in my relationship, I create a society which is the replica, the outward expression of what I am. Bị rối loạn trong liên hệ của tôi, tôi tạo ra một xã hội mà là bản sao chính xác, một diễn tả phía bên ngoài của điều gì tôi là.
This is an obvious fact, which we can discuss. Đây là một sự kiện rõ ràng, mà chúng ta có thể bàn luận.
We can discuss whether society, the outward expression, has produced me, or whether I have produced society. Chúng ta có thể bàn luận liệu rằng xã hội, sự diễn tả phía bên ngoài đã sản sinh ra tôi, hay liệu rằng tôi đã sản sinh ra xã hội.
Is it not, therefore, an obvious fact that what I am in my relationship to another creates society and that, without radically transforming myself, there can be no transformation of the essential function of society? When we look to a system for the transformation of society, we are merely evading the question, because a system cannot transform man; man always transforms the system, which history shows.Vì vậy, liệu nó không là một sự kiện rõ ràng rằng, tôi là gì trong liên hệ với một người khác của tôi tạo ra xã hội và rằng, nếu không có sự thay đổi cơ bản trong chính tôi, không thể có một thay đổi của vận hành cốt lõi của xã hội, hay sao? Khi chúng ta dựa vào một hệ thống cho sự thay đổi xã hội, chúng ta chỉ đang tẩu thoát khỏi vấn đề, bởi vì một hệ thống không thể thay đổi con người; con người luôn luôn thay đổi hệ thống, mà lịch sử đã phơi bày rõ ràng.
Until I, in my relationship to you, understand myself, I am the cause of chaos, misery, destruction, fear, brutality. Chỉ đến khi nào tôi, trong liên hệ với bạn của tôi, hiểu rõ về chính tôi, tôi là nguyên nhân của hỗn loạn, đau khổ, hủy diệt, sợ hãi, hung bạo.
Understanding myself is not a matter of time; I can understand myself at this very moment. Hiểu rõ về chính tôi không là vấn đề của thời gian; tôi có thể hiểu rõ về chính tôi ngay khoảnh khắc này.
If I say, “I shall understand myself to-morrow”, I am bringing in chaos and misery, my action is destructive. Nếu tôi nói: ‘Tôi sẽ hiểu rõ về chính tôi vào ngày mai’, tôi đang mang vào sự hỗn loạn và đau khổ, hành động của tôi là hủy hoại.
The moment I say that I “shall” understand, I bring in the time element and so am already caught up in the wave of confusion and destruction. Khoảnh khắc tôi nói rằng tôi ‘sẽ’ hiểu, tôi mang vào yếu tố thời gian và vì vậy đã bị trói buộc trong chuyển động của hỗn loạn và hủy diệt.
Understanding is now, not to-morrow. Hiểu rõ là ngay lúc này, không phải ngày mai.
To-morrow is for the lazy mind, the sluggish mind, the mind that is not interested. Ngày mai chỉ dành cho cái trí lười biếng, một cái trí lờ đờ, một cái trí không quan tâm.
 When you are interested in something, you do it instantaneously, there is immediate understanding, immediate transformation. Khi bạn quan tâm điều gì đó, bạn thực hiện nó ngay tức khắc, có hiểu rõ ngay tức khắc, thay đổi ngay tức khắc.
If you do not change now, you will never change, because the change that takes place to-morrow is merely a modification, it is not transformation. Nếu bạn không thay đổi ngay lúc này, bạn sẽ không bao giờ thay đổi, bởi vì thay đổi xảy ra vào ngày mai chỉ là một bổ sung, nó không là thay đổi.
Transformation can only take place immediately; the revolution is now, not to-morrow. Thay đổi chỉ có thể xảy ra ngay tức khắc; cách mạng là ngay lúc này, không phải ngày mai.
When that happens, you are completely without a problem, for then the self is not worried about itself; then you are beyond the wave of destruction.Khi điều đó xảy ra, bạn hoàn toàn không có một vấn đề, bởi vì lúc đó cái tôi không còn tự-lo âu về chính nó; vậy thì bạn vượt khỏi chuyển động của hủy diệt.