16. ON BELIEF IN GOD

Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa và không có quảng cáo.
16. ON BELIEF IN GOD16. Về tin tưởng Thượng đế
Question: Belief in God has been a powerful incentive to better living.Câu hỏi: Tin tưởng Thượng đế là một động cơ mãnh liệt để hướng đến sống tốt lành hơn.
Why do you deny God? Tại sao ông phủ nhận Thượng đế?
Why do you not try to revive man’s faith in the idea of God? Tại sao ông không cố gắng làm sống lại lòng trung thành của con người trong ý tưởng về Thượng đế?
Krishnamurti: Let us look at the problem widely and intelligently.Krishnamurti: Chúng ta hãy tìm hiểu vấn đề một cách rộng rãi và thông minh.
I am not denying God—it would be foolish to do so. Tôi không đang phủ nhận Thượng đế – thật ngớ ngẩn khi làm như vậy.
Only the man who does not know reality indulges in meaningless words. Chỉ những người không thấy sự thật mới buông thả trong những từ ngữ vô nghĩa.
The man who says he knows, does not know; the man who is experiencing reality from moment to moment has no means of communicating that reality. Con người mà nói anh ấy biết, không biết gì cả; con người mà đang trải nghiệm sự thật từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc không có phương tiện để chuyển tải sự thật đó.
Belief is a denial of truth, belief hinders truth; to believe in God is not to find God.Niềm tin là một phủ nhận sự thật, niềm tin cản trở sự thật; tin tưởng Thượng đế không là tìm được Thượng đế.
Neither the believer nor the non-believer will find God; because reality is the unknown, and your belief or non-belief in the unknown is merely a self-projection and therefore not real. Người tin tưởng hay người không-tin tưởng không tìm được Thượng đế; bởi vì sự thật là cái không biết được, và niềm tin hay không-niềm tin của bạn trong cái không biết được chỉ là một tự-chiếu rọi và vì vậy không thực sự.
I know you believe and I know it has very little meaning in your life. Tôi biết bạn tin tưởng và tôi biết nó chẳng có ý nghĩa bao nhiêu trong sống của bạn.
There are many people who believe; millions believe in God and take consolation. Có nhiều người tin tưởng; hàng triệu người tin tưởng Thượng đế và được an ủi trong đó.
First of all, why do you believe? Trước hết, tại sao bạn tin tưởng?
You believe because it gives you satisfaction, consolation, hope, and you say it gives significance to life. Bạn tin tưởng vì nó cho bạn sự thỏa mãn, an ủi, hy vọng, và bạn nói nó trao tặng bạn ý nghĩa cho sống.
Actually your belief has very little significance, because you believe and exploit, you believe and kill, you believe in a universal God and murder each other. Thật ra, niềm tin của bạn chẳng có ý nghĩa bao nhiêu, bởi vì bạn tin tưởng và trục lợi, bạn tin tưởng và giết chóc, bạn tin tưởng một Thượng đế toàn cầu và lại tàn sát lẫn nhau.
The rich man also believes in God; he exploits ruthlessly, accumulates money, and then builds a temple or becomes a philanthropist. Người giàu có cũng tin tưởng Thượng đế; anh ấy trục lợi một cách tàn nhẫn, tích lũy tiền bạc và sau đó dựng lên một ngôi đền hay trở thành một người đầy từ tâm.
The men who dropped the atomic bomb on Hiroshima said that God was with them; those who flew from England to destroy Germany said that God was their co-pilot.Những người đã thả bom nguyên tử ở Hiroshima đã nói rằng Thượng đế theo cùng họ; những người đã bay từ nước Anh để hủy diệt nước Đức đã nói rằng Thượng đế là người cùng lái máy bay với họ.
The dictators, the prime ministers, the generals, the presidents, all talk of God, they have immense faith in God. Những người độc tài, những vị thủ tướng, những vị tướng lãnh, những vị tổng thống, tất cả đều nói về Thượng đế, họ có sự trung thành mãnh liệt nơi Thượng đế.
Are they doing service, making a better life for man? Họ đang phục vụ, đang tạo nên một sống tốt lành hơn cho con người?
The people who saythey believe in God have destroyed half the world and the world is in complete misery. Những người mà nói rằng họ tin tưởng Thượng đế đã hủy diệt một nửa thế giới và thế giới ở trong sự đau khổ hoàn toàn.
Through religious intolerance there are divisions of people as believers and non-believers, leading to religious wars. Qua sự không-khoan dung của tôn giáo, có những phân chia của những con người như những người tin tưởng và những người không-tin tưởng, dẫn đến những chiến tranh tôn giáo.
It indicates how extraordinarily politically-minded you are. Nó thể hiện bạn là một người có đầu óc chính trị lạ lùng làm sao.
Is belief in God “a powerful incentive to better living”?Tin tưởng Thượng đế là ‘một động cơ mãnh liệt để hướng đến sống tốt lành hơn’?
Why do you want an incentive to better living? Tại sao bạn cần có một động cơ dẫn đến một sống tốt lành hơn?
Surely, your incentive must be your own desire to live cleanly and simply, must it not? Chắc chắn, động cơ của bạn phải là ham muốn riêng của bạn để sống trong sáng và đơn giản, đúng chứ?
If you look to an incentive, you are not interested in making life possible for all, you are merely interested in your incentive, which is different from mine—and we will quarrel over the incentive. Nếu bạn nhờ vào một động cơ, bạn không hứng thú tạo ra sống tốt lành, bạn chỉ quan tâm động cơ của bạn, mà khác biệt với động cơ của tôi – và chúng ta sẽ cãi cọ vì động cơ đó.
If we live happily together not because we believe in God but because we are human beings, then we will share the entire means of production in order to produce things for all. Nếu cùng nhau chúng ta sống hạnh phúc không phải bởi vì chúng ta tin tưởng Thượng đế nhưng bởi vì chúng ta là những con người, vậy thì chúng ta sẽ chia sẻ toàn bộ những phương tiện của sản suất với mục đích để tạo ra những sự vật cho tất cả mọi người.
Through lack of intelligence we accept the idea of a super-intelligence which we call ‘God’; but this ‘God’, this super-intelligence, is not going to give us a better life. Bởi vì không-thông minh, chúng ta chấp nhận những ý tưởng của một siêu-thông minh mà chúng ta gọi là ‘Thượng đế’; nhưng ‘Thượng đế’ này, siêu-thông minh này, sẽ không cho chúng ta một sống tốt lành hơn.
What leads to a better life is intelligence; and there cannot be intelligence if there is belief, if there are class divisions, if the means of production are in the hands of a few, if there are isolated nationalities and sovereign governments. Điều gì dẫn đến một sống tốt lành hơn là thông minh; và không thể có thông minh nếu có niềm tin, nếu có những phân chia giai cấp, nếu những phương tiện sản xuất nằm trong bàn tay của một số ít người, nếu có những quốc tịch tách rời và những chính phủ cầm quyền.
All this obviously indicates lack of intelligence and it is the lack of intelligence that is preventing a better living, not non-belief in God. Tất cả điều này thể hiện không-thông minh và chính là không-thông minh đang ngăn cản sống tốt lành hơn, không phải không-tin tưởng trong Thượng đế.
You all believe in different ways, but your belief has no reality whatsoever.Tất cả các bạn đều tin tưởng trong nhiều cách khác nhau, nhưng sự tin tưởng của các bạn không là thực sự.
Reality is what you are, what you do, what you think, and your belief in God is merely an escape from your monotonous, stupid and cruel life. Sự thật là điều gì bạn là, điều gì bạn làm, điều gì bạn suy nghĩ, và niềm tin của bạn trong Thượng đế chỉ là một tẩu thoát khỏi sống đơn điệu, xuẩn ngốc và hung hăng của bạn.
Furthermore, belief invariably divides people: there is the Hindu, the Buddhist, the Christian, the communist, the socialist, the capitalist and so on. Vả lại, niềm tin luôn luôn phân chia con người: có người Ấn độ giáo, người Phật giáo, người Thiên chúa giáo, người cộng sản, người xã hội, người tư bản và vân vân.
Belief, idea, divides; it never brings people together. Niềm tin, ý tưởng, những phân chia; nó không bao giờ mang con người lại cùng nhau.
You may bring a few people together in a group but that group is opposed to another group. Bạn có lẽ mang một ít người cùng nhau trong một nhóm và nhóm đó phản kháng một nhóm khác.
Ideas and beliefs are never unifying; on the contrary, they are separative, disintegrating and destructive. Những ý tưởng, những niềm tin không bao giờ hợp nhất; trái lại, chúng tách rời, không-hòa hợp và hủy diệt.
Therefore your belief in God is really spreading misery in the world; though it may have brought you momentary consolation, in actuality it has brought you more misery and destruction in the form of wars, famines, class-divisions and the ruthless action of separate individuals. Vì vậy niềm tin của bạn trong Thượng đế thật ra đang lan tràn sự đau khổ trong thế giới; mặc dù nó có lẽ mang lại cho bạn vài giây phút thanh thản, trong thực tế nó đã gây ra cho bạn nhiều đau khổ hơn và hủy hoại hơn trong hình thức của những chiến tranh, đói kém, phân chia giai cấp và hành động tàn ác của những cá thể tách rời.
So your belief has no validity at all. Vì vậy niềm tin của bạn không có giá trị gì cả.
If you really believed in God, if it were a real experience to you, then your face would have a smile; you would not be destroying human beings. Nếu bạn thực sự tin tưởng Thượng đế, nếu nó là một trải nghiệm thực sự cho bạn, vậy thì khuôn mặt của bạn sẽ có một nụ cười; bạn sẽ không hủy diệt những con người.
Now, what is reality, what is God?Bây giờ, sự thật là gì, Thượng đế là gì?
God is not the word, the word is not the thing. Thượng đế không là từ ngữ, từ ngữ không là sự việc.
To know that which is immeasurable, which is not of time, the mind must be free of time, which means the mind must be free from all thought, from all ideas about God. Muốn biết cái không đo lường được, không thuộc thời gian, cái trí phải được tự do khỏi thời gian, mà có nghĩa cái trí phải được tự do khỏi tất cả tư tưởng, khỏi tất cả những ý tưởng về Thượng đế.
What do you know about God or truth? Bạn biết gì về Thượng đế hay sự thật?
You do not really know anything about that reality. Thật ra, bạn không biết bất kỳ điều gì về sự thật đó.
All that you know are words, the experiences of others or some moments of rather vague experience of your own. Tất cả mọi điều bạn biết là những từ ngữ, những trải nghiệm của những người khác hay vài khoảnh khắc nào đó của những trải nghiệm khá mơ hồ của riêng bạn.
Surely that is not God, that is not reality, that is not beyond the field of time. Chắc chắn đó không là Thượng đế, đó không là sự thật, đó không vượt khỏi lãnh vực của thời gian.
To know that which is beyond time, the process of time must be understood, time being thought, the process of becoming, the accumulation of knowledge. Muốn biết cái vượt khỏi thời gian, qui trình của thời gian phải được hiểu rõ, thời gian là tư tưởng, qui trình của trở thành, sự tích lũy của hiểu biết.
That is the whole background of the mind; the mind itself is the background, both the conscious and the unconscious, the collective and the individual. Đó là toàn nền tảng của cái trí; chính cái trí là nền tảng, cả tầng ý thức bên ngoài lẫn tầng ý thức bên trong, cả ý thức tập thể lẫn ý thức cá thể.
So the mind must be free of the known, which means the mind must be completely silent, not made silent. Vì vậy cái trí phải được tự do khỏi cái đã được biết, mà có nghĩa rằng cái trí phải hoàn toàn yên lặng, không phải làm cho yên lặng.
The mind that achieves silence as a result, as the outcome of determined action, of practice, of discipline, is not a silent mind. Cái trí đạt được yên lặng như một kết quả, như một kết quả của hành động được khẳng định, của luyện tập, của kỷ luật, không là một cái trí yên lặng.
The mind that is forced, controlled, shaped, put into a frame and kept quiet, is not a still mind. You may succeed for a period of time in forcing the mind to be superficially silent, but such a mind is not a still mind. Cái trí bị ép buộc, bị kiểm soát, bị định hình, bị đặt vào cái khung và bị thúc giục yên lặng, không là cái trí yên lặng.
Stillness comes only when you understand the whole process of thought, because to understand the process is to end it and the ending of the process of thought is the beginning of silence. Yên lặng hiện diện chỉ khi nào bạn hiểu rõ toàn qui trình của tư tưởng, bởi vì hiểu rõ qui trình là kết thúc nó và kết thúc qui trình của tư tưởng là khởi đầu của yên lặng.
Only when the mind is completely silent not only on the upper level but fundamentally, right through, on both the superficial and the deeper levels of consciousness—only then can the unknown come into being.Chỉ khi nào cái trí yên lặng hoàn toàn không chỉ tại tầng bên ngoài nhưng cơ bản, xuyên thấu, cả tầng bên ngoài lẫn những tầng sâu thẳm hơn của ý thức – chỉ lúc đó cái không biết được mới hiện diện.
The unknown is not something to be experienced by the mind; silence alone can be experienced, nothing but silence. Cái không biết được không là cái gì đó để được trải nghiệm bởi cái trí, yên lặng, một mình nó, có thể được trải nghiệm, không có gì cả ngoại trừ yên lặng.
If the mind experiencesanything but silence, it is merely projecting its own desires and such a mind is not silent; so long as the mind is not silent, so long as thought in any form, conscious or unconscious, is in movement, there can be no silence. Nếu cái trí trải nghiệm bất kỳ điều gì khác với yên lặng, nó chỉ đang chiếu rọi những ham muốn riêng của nó và một cái trí như thế không yên lặng, chừng nào cái trí còn không yên lặng, chừng nào tư tưởng trong bất kỳ hình thức nào, có ý thức hay không-ý thức, còn đang chuyển động, không thể có yên lặng.
Silence is freedom from the past, from knowledge, from both conscious and unconscious memory; when the mind is completely silent, not in use, when there is the silence which is not a product of effort, then only does the timeless, the eternal come into being. Yên lặng là sự tự do khỏi quá khứ, khỏi hiểu biết, khỏi cả ký ức bên ngoài lẫn ký ức bên trong; khi cái trí hoàn toàn yên lặng, không đang vận dụng, khi có yên lặng mà không là một sản phẩm của sự nỗ lực, chỉ lúc đó cái không-thời gian, cái vĩnh hằng hiện diện.
That state is not a state of remembering—there is no entity that remembers, that experiences. Trạng thái đó không là một trạng thái của ghi nhớ – không có thực thể mà ghi nhớ, mà trải nghiệm.
Therefore God or truth or what you will is a thing that comes into being from moment to moment, and it happens only in a state of freedom and spontaneity, not when the mind is disciplined according to a pattern.Vì vậy Thượng đế hay sự thật hay điều gì bạn muốn là sự việc mà hiện diện từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc, và nó xảy ra chỉ trong một trạng thái tự do và tự phát, không phải khi cái trí bị kỷ luật theo một khuôn mẫu.
God is not a thing of the mind, it does not come through self-projection, it comes only when there is virtue, which is freedom. Thượng đế không là một sự việc của cái trí, nó không đến qua tự-chiếu rọi, nó hiện diện chỉ khi nào có đạo đức, mà là tự do.
Virtue is facing the fact of what is and the facing of the fact is a state of bliss. Đạo đức là đang đối diện với sự kiện của cái gì là và đang đối diện với sự kiện là một trạng thái của hạnh phúc.
Only when the mind is blissful, quiet, without any movement of its own, without the projection of thought, conscious or unconscious—only then does the eternal come into being. Chỉ khi nào cái trí được hạnh phúc, yên lặng, không có bất kỳ chuyển động của riêng nó, không có sự chiếu rọi của tư tưởng, có ý thức hay không-ý thức – chỉ lúc đó vĩnh hằng mới hiện diện.