CHAPTER V. ACTION AND IDEA

Nâng cấp VIP để xem các trang bị khóa và không có quảng cáo.
CHAPTER V
Chương V
ACTION AND IDEA
HÀNH ĐỘNG VÀ Ý TƯỞNG
I SHOULD LIKE TO discuss the problem of action.Tôi muốn bàn luận về chủ đề hành động.
This may be rather abstruse and difficult at the beginning but I hope that by thinking it over we shall be able to see the issue clearly, because our whole existence, our whole life, is a process of action. Thoạt đầu điều này có lẽ khá khó hiểu và sâu sắc nhưng tôi hy vọng qua suy nghĩ nó cẩn thận chúng ta sẽ có thể thấy vấn đề rõ ràng, bởi vì toàn sự tồn tại của chúng ta, toàn sống của chúng ta, là một tiến hành của hành động.
Most of us live in a series of actions, of seemingly unrelated, disjointed actions, leading to disintegration, to frustration.Hầu hết chúng ta đều sống trong một chuỗi của những hành động, của những hành động dường như không liên kết, không rõ ràng, đang dẫn đến sự phân rã, sự tuyệt vọng.
It is a problem that concerns each one of us, because we live by action and without action there is no life, there is no experience, there is no thinking. Nó là một chủ đề liên quan đến mỗi người chúng ta, bởi vì chúng ta sống nhờ hành động và nếu không có hành động không có sống, không có trải nghiệm, không có suy nghĩ.
Thought is action; and merely to pursue action at one particular level of consciousness, which is the outer, merely to be caught up in outward action without understanding the whole process of action itself, will inevitably lead us to frustration, to misery. Tư tưởng là hành động; và chỉ theo đuổi hành động tại một mức độ đặc biệt nào đó của ý thức, mà là phía bên ngoài, chỉ bị trói buộc trong hành động phía bên ngoài mà không hiểu rõ về toàn qui trình của chính hành động, chắc chắn sẽ dẫn dắt chúng ta đến tuyệt vọng, đến đau khổ.
Our life is a series of actions or a process of action at different levels of consciousness.Sống của chúng ta là một chuỗi của những hành động hay một qui trình của hành động tại những mức độ khác nhau của ý thức.
Consciousness is experiencing, naming and recording. Ý thức là đang trải nghiệm, đang đặt tên và đang ghi lại.
That is consciousness is challenge and response, which is experiencing, then terming or naming, and then recording, which is memory. Đó là, ý thức là thách thức và phản ứng, mà là trải nghiệm, sau đó quy định hay đặt tên, và cuối cùng ghi lại, mà là ký ức.
This process is action, is it not? Qui trình này là hành động, đúng chứ?
Consciousness is action; and without challenge, response, without experiencing, naming or terming, without recording, which is memory, there is no action. Ý thức là hành động; và nếu không có thách thức, phản ứng, nếu không có trải nghiệm, đặt tên hay quy định, nếu không có ghi lại, mà là ký ức, không có hành động.
Now action creates the actor.Bây giờ hành động tạo ra người hành động.
That is the actor comes into being when action has a result, an end in view. Đó là, người hành động hiện diện khi hành động có một kết quả, một mục đích trong cái trí.
If there is no result in action, then there is no actor; but if there is an end or a result in view, then action brings about the actor. Nếu không có kết quả trong hành động, vậy thì không có người hành động; nhưng nếu có một kết quả hay một mục đích trong cái trí, vậy thì hành động tạo ra người hành động.
 Thus actor, action, and end or result, is a unitary process, a single process, which comes into being when action has an end in view. Vậy là người hành động, hành động, và kết quả hay mục đích là một qui trình duy nhất, một qui trình nhất thể, mà hiện diện khi hành động có một mục đích trong cái trí.
Action towards a result is will; otherwise there is no will, is there? Hành động hướng về một kết quả là ý muốn; ngược lại không có ý muốn, phải không?
The desire to achieve an end brings about will, which is the actor—I want to achieve, I want to write a book, I want to be a rich man, I want to paint a picture. Ham muốn để đạt được một mục đích tạo ra ý muốn, mà là người hành động – tôi muốn thành tựu, tôi muốn viết một quyển sách, tôi muốn là một người giàu có, tôi muốn vẽ một bức tranh.
We are familiar with these three states: the actor, the action, and the end.Chúng ta quen thuộc với ba trạng thái này: người hành động, hành động và kết quả.
That is our daily existence. Đó là sự tồn tại hàng ngày của chúng ta.
I am just explaining what is; but we will begin to understand how to transform what is only when we examine it clearly, so that there is no illusion or prejudice, no bias with regard to it. Tôi chỉ đang giải thích cái gì là; nhưng chúng ta sẽ bắt đầu hiểu rõ làm thế nào để thay đổi cái gì là chỉ khi nào chúng ta tìm hiểu nó một cách rõ ràng, để cho không có ảo tưởng hay thành kiến, không có khuynh hướng liên quan đến nó.
Now these three states which constitute experience—the actor, the action, and the result—are surely a process of becoming. Bây giờ ba trạng thái này mà cấu thành trải nghiệm – người hành động, hành động và kết quả – và chắc chắn là một qui trình của trở thành.
Otherwise there is no becoming, is there? Ngược lại không có trở thành, phải không?
If there is no actor, and if there is no action towards an end, there is no becoming; but life as we know it, our daily life, is a process of becoming. Nếu không có người hành động, và nếu không có hành động hướng về một kết quả, không có trở thành; nhưng sống như chúng ta biết nó, sống hàng ngày của chúng ta, là một qui trình của trở thành.
I am poor and I act with an end in view, which is to become rich. Tôi nghèo khổ và tôi hành động với một mục đích trong cái trí, mà là trở thành giàu có.
I am ugly and I want to become beautiful. Tôi xấu xí và tôi muốn trở thành đẹp đẽ.
Therefore my life is a process of becoming something. Vì vậy, sống của tôi là một qui trình của trở thành cái gì đó.
The will to be is the will to become, at different levels of consciousness, in different states, in which there is challenge, response, naming and recording. Ý muốn để hiện diện là ý muốn để trở thành, tại những mức độ khác nhau của ý thức, trong những trạng thái khác nhau, mà trong đó có thách thức, phản ứng, đặt tên và ghi lại.
Now this becoming is strife, this becoming is pain, is it not? Bây giờ trở thành này là xung đột, trở thành này là đau khổ, đúng chứ?
It is a constant struggle: I am this, and I want to become that. Nó là một đấu tranh liên tục: tôi là cái này và tôi muốn trở thành cái kia.
Therefore, then, the problem is: Is there not action without this becoming?Vậy thì, tiếp theo, vấn đề là, liệu có hành động mà không có trở thành này?
Is there not action without this pain, without this constant battle? Liệu có hành động mà không có đau khổ này, không có đấu tranh liên tục này?
If there is no end, there is no actor, because action with an end in view creates the actor. Nếu không có mục đích, không có người hành động, bởi vì hành động có một mục đích trong cái trí tạo ra người hành động.
But can there be action without an end in view, and therefore no actor—that is without the desire for a result? Nhưng liệu có thể có hành động mà không có một mục đích trong cái trí, và thế là không có người hành động – đó là không có ham muốn một kết quả?
Such action is not a becoming, and therefore not a strife. Hành động như thế không là một trở thành, và vì vậy không là một xung đột.
There is a state of action, a state of experiencing, without the experiencer and the experience. Có một trạng thái của hành động, một trạng thái của trải nghiệm, không có người trải nghiệm và trải nghiệm.
This sounds rather philosophical but it is really quite simple. Điều này có vẻ hơi hơi triết lý nhưng thật ra, nó rất đơn giản.
In the moment of experiencing, you are not aware of yourself as the experiencer apart from the experience; you are in a state of experiencing.Trong khoảnh khắc của trải nghiệm, bạn không nhận biết được về chính bạn như người trải nghiệm tách rời vật được trải nghiệm; bạn ở trong trạng thái trải nghiệm.
Take a very simple example: you are angry. Hãy suy nghĩ một ví dụ rất đơn giản: bạn tức giận.
In that moment of anger there is neither the experiencer nor the experience; there is only experiencing. Trong khoảnh khắc của sự tức giận đó, không có người trải nghiệm lẫn vật được trải nghiệm; chỉ có đang trải nghiệm.
But the moment you come out of it, a split second after the experiencing, there is the experiencer and the experience, the actor and the action with an end in view—which is to get rid of or to suppress the anger. Nhưng khoảnh khắc bạn ra khỏi nó, một tích tắc sau khi đang trải nghiệm, có người trải nghiệm và vật được trải nghiệm, người hành động và hành động có một mục đích trong cái trí – mà là loại bỏ hay kiềm chế sự tức giận.
We are in this state repeatedly, in the state of experiencing; but we always come out of it and give it a term, naming and recording it, and thereby giving continuity to becoming. Lặp đi lặp lại chúng ta ở trong trạng thái này, trong trạng thái của đang trải nghiệm; nhưng luôn luôn chúng ta ra khỏi nó và cho nó một thuật ngữ, đặt tên và ghi lại nó, và thế là cho sự tiếp tục vào trở thành.
If we can understand action in the fundamental sense of the word then that fundamental understanding will affect our superficial activities also; but first we must understand the fundamental nature of action.Nếu chúng ta có thể hiểu rõ ‘hành động’ theo ý nghĩa căn bản của từ ngữ, vậy thì sự hiểu rõ căn bản đó sẽ ảnh hưởng đến những hoạt động phía bên ngoài của chúng ta; nhưng trước hết chúng ta phải hiểu rõ bản chất căn bản của hành động.
Now is action brought about by an idea? Bây giờ, liệu hành động được tạo ra bởi một suy nghĩ?
Do you have an idea first and act afterwards? Bạn có một ý tưởng trước và sau đó, hành động?
Or does action come first and then, because action creates conflict, you build around it an idea? Hay hành động trước và sau đó, bởi vì hành động tạo ra xung đột, bạn dựng lên quanh nó một ý tưởng?
Does action create the actor or does the actor come first? Hành động tạo ra người hành động hay người hành động đến trước?
It is very important to discover which comes first.Rất quan trọng phải khám phá cái nào đến trước.
If the idea comes first, then action merely conforms to an idea, and therefore it is no longer action but imitation, compulsion according to an idea. Nếu ý tưởng đến trước, vậy thì hành động chỉ tuân phục vào một ý tưởng, và vì vậy nó không còn là hành động nữa nhưng là sự bắt chước, sự ép buộc tùy theo một ý tưởng.
It is very important to realize this; because, as our society is mostly constructed on the intellectual or verbal level, the idea comes first with all of us and action follows. Rất quan trọng phải nhận ra điều này; bởi vì, do bởi đa phần xã hội của chúng ta được kết cấu trên mức độ từ ngữ hay trí năng, đối với tất cả chúng ta ý tưởng đến trước và hành động theo sau.
Action is then the handmaid of an idea, and the mere construction of ideas is obviously detrimental to action. Vì vậy hành động là một nô bộc của ý tưởng, và chắc chắn cấu trúc thuần túy của những ý tưởng gây hư hại cho hành động.
Ideas breed further ideas, and when there is merely the breeding of ideas there is antagonism, and society becomes top-heavy with the intellectual process of ideation. Những ý tưởng nuôi dưỡng những ý tưởng thêm nữa, và khi chỉ có sự nuôi dưỡng của những ý tưởng liền có hận thù, và xã hội trở thành quá chênh vênh bởi qui trình trí năng của sự hình thành ý tưởng.
Our social structure is very intellectual; we are cultivating the intellect at the expense of every other factor of our being and therefore we are suffocated with ideas. Cấu trúc xã hội của chúng ta rất có trí năng; chúng ta đang vun quén trí năng mà không thèm lưu tâm đến bất kỳ yếu tố nào khác thuộc sự tồn tại của chúng ta, và vì vậy chúng ta bị kiềm tỏa bởi những ý tưởng.
Can ideas ever produce action, or do ideas merely mould thought and therefore limit action?Liệu những ý tưởng có thể sinh ra hành động, hay những ý tưởng chỉ đúc khuôn tư tưởng và vì vậy giới hạn hành động?
When action is compelled by an idea, action can never liberate man. Khi hành động bị thúc ép bởi một ý tưởng, hành động không bao giờ có thể giải thoát con người.
It is extraordinarily important for us to understand this point. Hiểu rõ mấu chốt này là điều quan trọng lạ thường cho chúng ta.
If an idea shapes action, then action can never bring about the solution to our miseries because, before it can be put into action, we have first to discover how the idea comes into being. Nếu một ý tưởng định hình hành động, vậy thì hành động không bao giờ có thể mang lại giải pháp cho những đau khổ của chúng ta bởi vì, trước khi nó có thể được đặt vào hành động, trước hết chúng ta phải tìm ra ý tưởng hiện diện như thế nào.
The investigation of ideation, of the building up of ideas, whether of the socialists, the capitalists, the communists, or of the various religions, is of the utmost importance, especially when our society is at the edge of a precipice, inviting another catastrophe, another excision. Tìm hiểu về sự hình thành ý tưởng, về việc dựng lên những ý tưởng, dù rằng của những người xã hội học, những người tư bản, những người cộng sản, hay của vô số tôn giáo, có tầm quan trọng bậc nhất, đặc biệt khi xã hội của chúng ta đang bị nguy khốn, đang mời mọc một kết thúc bi thảm khác, một hủy diệt khác.
Those who are really serious in their intention to discover the human solution to our many problems must first understand this process of ideation. Những người thực sự nghiêm túc trong ý định của họ để tìm ra giải pháp của con người cho nhiều vấn đề của chúng ta, trước hết phải hiểu rõ qui trinh hình thành ý tưởng này.
What do we mean by an idea?Chúng ta có ý gì qua từ ngữ một ý tưởng?
How does an idea come into being? Làm thế nào một ý tưởng hiện diện?
And can idea and action be brought together? Và liệu ý tưởng lẫn hành động có thể được hợp lại cùng nhau?
Suppose I have an idea and I wish to carry it out. Giả sử tôi có một ý tưởng và tôi muốn thực hiện nó.
I seek a method of carrying out that idea, and we speculate, waste our time and energies in quarrelling over how the idea should be carried out. Tôi tìm kiếm một phương pháp để thực hiện ý tưởng đó, và chúng ta suy xét, lãng phí thời gian và năng lượng của chúng ta để tranh cãi nên thực hiện ý tưởng như thế nào.
So, it is really very important to find out how ideas come into being; and after discovering the truth of that we can discuss the question of action. Vì vậy, phải tìm ra những suy nghĩ hiện diện như thế nào là điều rất quan trọng; và sau khi tìm được sự thật của nó chúng ta có thể bàn luận về vấn đề của hành động.
Without discussing ideas, merely to find out how to act has no meaning. Nếu không có bàn luận về những ý tưởng, chỉ tìm ra phương cách hành động không có ý nghĩa gì cả.
Now how do you get an idea—a very simple idea, it need not be philosophical, religious or economic?Bây giờ làm thế nào bạn có một ý tưởng – một ý tưởng rất đơn giản, nó không nhất thiết phải là triết học, tôn giáo hay kinh tế?
Obviously it is a process of thought, is it not? Rõ ràng nó là một qui trình suy nghĩ, đúng chứ?
Idea is the outcome of a thought process. Ý tưởng là kết quả của một qui trình suy nghĩ.
Without a thought process, there can be no idea. Nếu không có một qui trình suy nghĩ, không thể có ý tưởng.
So I have to understand the thought process itself before I can understand its product, the idea. Vì vậy tôi phải hiểu rõ chính qui trình suy nghĩ trước khi tôi có thể hiểu rõ sản phẩm của nó, ý tưởng.
What do we mean by thought? Chúng ta có ý gì qua từ ngữ suy nghĩ?
When do you think? Bạn suy nghĩ khi nào?
Obviously thought is the result of a response, neurological or psychological, is it not? Rõ ràng suy nghĩ là kết quả của một phản ứng, thuộc thần kinh hay tâm lý, đúng chứ?
It is the immediate response of the senses to a sensation, or it is psychological, the response of stored-up memory. Nó là phản ứng tức khắc của những giác quan đến một cảm xúc, hay nó là phản ứng thuộc tâm lý của ký ức được lưu trữ.
There is the immediate response of the nerves to a sensation, and there is the psychological response of stored-up memory, the influence of race, group, guru, family, tradition, and so on—all of which you call thought. Có phản ứng tức khắc của hệ thần kinh đến một cảm xúc, và có phản ứng thuộc tâm lý của ký ức được lưu trữ, ảnh hưởng của chủng tộc, nhóm người, vị đạo sư, gia đình, truyền thống, và vân vân – tất cả điều đó chúng ta gọi là tư tưởng.
So the thought process is the response of memory, is it not? Vì vậy qui trình suy nghĩ là sự phản ứng của ký ức, đúng chứ?
You would have no thoughts if you had no memory; and the response of memory to a certain experience brings the thought process into action. Bạn sẽ không có những suy nghĩ nếu bạn không có ký ức; và phản ứng của ký ức đến một trải nghiệm nào đó mang qui trình suy nghĩ vào hành động.
 Say, for example, I have the stored-up memories of nationalism, calling myself a Hindu. Ví dụ, tôi có những ký ức được lưu trữ về chủ nghĩa quốc gia, đang gọi chính tôi là một người Ấn độ giáo.
That reservoir of memories of past responses, actions, implications, traditions, customs, responds to the challenge of a Mussulman, a Buddhist or a Christian, and the response of memory to the challenge inevitably brings about a thought process. Kho lưu trữ những ký ức của những phản ứng, những hành động, những hàm ý, những truyền thống, những phong tục quá khứ, phản ứng đến sự thách thức của một người Hồi giáo, một người Phật giáo hay một người Thiên chúa giáo, và phản ứng của ký ức đến sự thách thức chắc chắn tạo ra một qui trình suy nghĩ.
Watch the thought process operating in yourself and you can test the truth of this directly. Hãy nhìn ngắm qui trình suy nghĩ đang vận hành trong chính bạn và bạn có thể thể nghiệm trực tiếp sự thật của điều này.
You have been insulted by someone, and that remains in your memory; it forms part of the background. Bạn đã bị sỉ nhục bởi một ai đó, và điều đó vẫn còn trong ký ức của bạn; nó hình thành bộ phận của nền tảng quá khứ.
When you meet the person, which is the challenge, the response is the memory of that insult. Khi bạn gặp lại người đó, mà là sự thách thức, phản ứng là ký ức của sự sỉ nhục đó.
So the response of memory, which is the thought process, creates an idea; therefore the idea is always conditioned—and this is important to understand. Vì vậy phản ứng của ký ức, mà là qui trình suy nghĩ, tạo ra một ý tưởng; vì vậy ý tưởng luôn luôn bị quy định – và hiểu rõ điều này rất quan trọng.
That is to say the idea is the result of the thought process, the thought process is the response of memory, and memory is always conditioned. Đó là nói, ý tưởng là kết quả của qui trình suy nghĩ, qui trình suy nghĩ là phản ứng của ký ức, và ký ức luôn luôn bị quy định.
Memory is always in the past, and that memory is given life in the present by a challenge. Ký ức luôn luôn trong quá khứ, và ký ức đó được trao sự sống trong hiện tại bởi một thách thức.
Memory has no life in itself; it comes to life in the present when confronted by a challenge. Ký ức không có sự sống trong chính nó; nó có sự sống trong hiện tại khi bị đối diện bởi một thách thức.
And all memory, whether dormant or active, is conditioned, is it not? Và tất cả ký ức, dù tiềm ẩn hay hoạt động; bị quy định, phải không?
Therefore there has to be quite a different approach.Vì vậy phải có một cách tiếp cận hoàn toàn khác hẳn.
You have to find out for yourself, inwardly, whether you are acting on an idea, and if there can be action without ideation. Bạn phải tìm ra cho chính bạn, phía bên trong, dù liệu bạn đang hành động dựa trên một ý tưởng, và liệu có thể có hành động mà không hình thành ý tưởng.
Let us find out what that is: action which is not based on an idea. Chúng ta hãy tìm ra đó là gì: hành động mà không được đặt nền tảng trên một ý tưởng.
When do you act without ideation?Khi nào bạn hành động mà không hình thành ý tưởng?
When is there an action which is not the result of experience? Khi nào có một hành động mà không là kết quả của trải nghiệm?
An action based on experience is, as we said, limiting, and therefore a hindrance. Như chúng ta đã nói, một hành động được đặt nền tảng trên trải nghiệm là giới hạn, và vì vậy một cản trở.
Action which is not the outcome of an idea is spontaneous when the thought process, which is based on experience, is not controlling action; which means that there is action independent of experience when the mind is not controlling action. Hành động không là kết quả của một ý tưởng là tự phát, khi qui trình suy nghĩ, được đặt nền tảng trên trải nghiệm, không đang kiểm soát hành động; mà có nghĩa rằng có hành động độc lập khỏi trải nghiệm khi cái trí không đang kiểm soát hành động.
That is the only state in which there is understanding: when the mind, based on experience, is not guiding action: when thought, based on experience, is not shaping action. Đó là trạng thái duy nhất trong đó có hiểu rõ: khi cái trí, được đặt nền tảng trên trải nghiệm, không đang hướng dẫn hành động: khi suy nghĩ, được đặt nền tảng trên trải nghiệm, không đang định hình hành động.
What is action, when there is no thought process? Hành động là gì, khi không có qui trình suy nghĩ.
Can there be action without thought process? Liệu có thể có hành động mà không có qui trình suy nghĩ?
That is I want to build a bridge, a house. I know the technique, and the technique tells me how to build it. Đó là, tôi muốn làm một cái cầu, một ngôi nhà, tôi biết phương pháp kỹ thuật, và phương pháp kỹ thuật nói cho tôi cách thực hiện nó.
We call that action. Chúng ta gọi đó là hành động.
There is the action of writing a poem, of painting, of governmental responsibilities, of social, environmental responses. Có hành động của viết một bài thơ, của vẽ một bức tranh, của những trách nhiệm thuộc chính phủ, của những phản ứng thuộc môi trường, thuộc xã hội.
All are based on an idea or previous experience, shaping action. Tất cả đều được đặt nền tảng trên một ý tưởng hay trải nghiệm sẵn có, đang định hình hành động.
But is there an action when there is no ideation? Nhưng liệu có một hành động khi không có sự hình thành ý tưởng?
Surely there is such action when the idea ceases; and the idea ceases only when there is love.Chắc chắn có hành động như thế khi ý tưởng kết thúc; và ý tưởng kết thúc chỉ khi nào có tình yêu.
Love is not memory. Tình yêu không là ký ức.
Love is not experience. Tình yêu không là trải nghiệm.
Love is not the thinking about the person that one loves, for then it is merely thought. Tình yêu không là suy nghĩ về con người mà người ta thương yêu, bởi vì lúc đó nó chỉ là tư tưởng.
You cannot think of love. Bạn không thể suy nghĩ về tình yêu.
You can think of the person you love or are devoted to—your guru, your image, your wife, your husband; but the thought, the symbol, is not the real which is love. Bạn có thể suy nghĩ về người bạn thương yêu hay hiến dâng – vị đạo sư của bạn, hình ảnh của bạn, người vợ của bạn, người chồng của bạn; nhưng suy nghĩ, biểu tượng, không là sự thật mà là tình yêu.
Therefore love is not an experience. Vì vậy tình yêu không là một trải nghiệm.
When there is love there is action, is there not? , and is that action not liberating?Khi có tình yêu có hành động, phải không? Và hành đó không đang giải thoát hay sao?
It is not the result of mentation, and there is no gap between love and action, as there is between idea and action. Nó không là kết quả của trạng thái tâm lý, và không có khoảng trống giữa tình yêu và hành động, giống như có khoảng trống giữa ý tưởng và hành động.
Idea is always old, casting its shadow on the present and we are ever trying to build a bridge between action and idea. Ý tưởng luôn luôn cũ kỹ, tỏa bóng của nó vào ‘hiện tại’ và chúng ta luôn luôn đang cố gắng bắc một cây cầu giữa hành động và ý tưởng.
When there is love—which is not mentation, which is not ideation, which is not memory, which is not the outcome of an experience, of a practised discipline—then that very love is action. Khi có tình yêu – mà không là một trạng thái tâm lý, mà không là sự hình thành ý tưởng, mà không là ký ức, mà không là kết quả của một trải nghiệm, của một kỷ luật bị rèn luyện – vậy thì chính tình yêu đó là hành động.
That is the only thing that frees. Đó là cách duy nhất tạo ra sự giải thoát.
So long as there is mentation, so long as there is the shaping of action by an idea which is experience, there can be no release; and so long as that process continues, all action is limited. Chừng nào còn có trạng thái tâm lý, chừng nào còn có sự định hình hành động bởi một ý tưởng mà là trải nghiệm, không thể có giải thoát; và chừng nào qui trình đó còn tiếp tục, tất cả hành động đều bị giới hạn.
When the truth of this is seen, the quality of love, which is not mentation, which you cannot think about, comes into being. Khi sự thật của điều này được thấy, chất lượng của tình yêu, mà không là trạng thái tâm lý, mà bạn không thể suy nghĩ về nó, hiện diện.
One has to be aware of this total process, of how ideas come into being, how action springs from ideas, and how ideas control action and therefore limit action, depending on sensation.Người ta phải nhận biết được toàn qui trình này: những ý tưởng hiện diện như thế nào, hành động khởi nguồn từ những ý tưởng như thế nào, và những ý tưởng kiểm soát hành động như thế nào, và vì vậy giới hạn hành động, gây lệ thuộc vào cảm xúc.
It doesn’t matter whose ideas they are, whether from the left or from the extreme right. Không đặt thành vấn đề chúng là những ý tưởng của ai, dù thuộc phe tả hay từ phe hữu.
So long as we cling to ideas, we are in a state in which there can be no experiencingat all. Chừng nào chúng ta còn đang bám vào những ý tưởng, chúng ta vẫn còn ở trong một trạng thái mà không có ‘trải nghiệm’ gì cả.
Then we are merely living in the field of time—in the past, which gives further sensation, or in the future, which is another form of sensation. Lúc đó chúng ta chỉ đang sống trong lãnh vực của thời gian – trong quá khứ, mà cho cảm xúc hơn nữa, hay trong tương lai, mà là một hình thức khác của cảm xúc.
It is only when the mind is free from idea that there can be experiencing. Chỉ khi nào cái trí được tự do khỏi ý tưởng, có thể có trải nghiệm.
Ideas are not truth; and truth is something that must be experienced directly, from moment to moment.Những ý tưởng không là sự thật; và sự thật là cái gì đó mà phải được trải nghiệm trực tiếp, từ khoảnh khắc sang khoảnh khắc.
It is not an experience which you want—which is then merely sensation. Nó không là một trải nghiệm mà bạn mong muốn – mà lúc đó chỉ là cảm xúc.
Only when one can go beyond the bundle of ideas—which is the ‘me’, which is the mind, which has a partial or complete continuity—only when one can go beyond that, when thought is completely silent, is there a state of experiencing. Chỉ khi nào người ta có thể vượt khỏi mớ tạp nhạp của những ý tưởng đó – mà là ‘cái tôi’, mà là cái trí, mà có một tiếp tục từng phần hay hoàn toàn – chỉ khi nào người ta có thể vượt khỏi điều đó, khi tư tưởng hoàn toàn yên lặng, có một trạng thái trải nghiệm.
Then one shall know what truth is. Vậy thì người ta sẽ biết sự thật là gì.